Truyện và phim Nam yêu Nam
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Go down
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:49 pm


Hồi thứ năm: Tai mèo nhỏ


Lại nói về bầy chó hoang lớn ở Vạn Thi phần tràn vào thành làm náo loạn pháp trường Linh Châu, cắn xé sát hại quân dân, thương vong vô số, cuối cùng toàn bộ bầy chó đều bị lính dõng giết chết. Sau cơn hỗn loạn, ngã tư đường đầy những xác người, xác chó. Đáng thương thay tòa thành nổi tiếng phú quý phồn hoa, hôm nay biến thành mộ trường địa ngục quỷ khóc ma gào.
Tuần phủ Mã đại nhân từ trên lầu trông rõ cảnh tượng, nổi giận lôi đình, sai binh lính khóa chặt cổng thành, lại phái lính dõng truy sát con Thần Ngao khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhưng một lúc sau có người tới phi báo, đã phát hiện thấy con ác khuyển vượt qua tường thành chạy thoát vào núi hoang.
Mã đại nhân vội triệu tập quan viên tới thương nghị rồi nói:” Con nghiệp súc hung tợn thật đáng khiếp thay. Hơn nữa, ta xem nó dường như đã có sự chuẩn bị từ trước, ý đồ hành thích mệnh quan của triều đình, chắc hẳn đã bị yêu thuật cảu bọn tạo súc khống chế. KHông sớm trừ diệt ắt hẳn sẽ trở thành đại họa về sau”
Theo lệ của đời Thanh, quan lại đồng cấp thì văn quản võ, Mã quản Hán, nhưng Đề đốc Đồ hải hoàn toàn không cso thự quyền ở Linh Châu, chẳng qua chỉ đứng bù vào lấp chỗ trống. trên thực tế, triều đình cũng chỉ phái lão xuống làm giám quân, mà kẻ này cũng rất u tối chẳng có năng lực gì. Vừa mời rồi lão thấy con Thần Ngao cắn chết Lưu Ngũ gia trong nháy mắt, lại dữ tợn nhảy lên lầu định hành hung, rồi tránh khỏi làn đạn súng đạn, vọt lên amis lầu tẩu thoát, không mảy may tổn thương, thực đúng là”chó trời”. Tinh thần Đồ Hải dã hoàn toàn bán loạn, chỉ còn cách thoái thác, giao mọi sự cho Mà đại nhân tòan quyền xử lí.
Mã Thiên Tích vốn chẳng hy vọng gì vị Đề đốc giá áo túi cơm này đưa ra được cao kiến gì, liền lệnh cho mọi người hiến kế. Có kẻ trợ tá nói:” bọn chó hoang ngoài thành này đều kết bầy đi lang thang, ban ngày không có nơi ở cố định, chỉ có ban đêm mới quần tụ trong sơn cốc. Chi bằng phái một vị tướng quân kiêu dũng thiện chiến, ban đêm dẫn theo người ngựa, mang nhiều hỏa khí tiến vào Vạn Thi phần rồi tiêu diệt chúng tận gốc”
Lại có kẻ khác bàn rằng:” Chó hoang tuy đông nhưng không đáng lo. Phéo dung quân có câu: bắt giặc nên bắt tướng. Trước tiên cần tìm cách trừ khử con chó dữu đầu đàn mới được. Nhưng con chó này được người ta gọi là Thần Ngao, tuyệt nhiên không hề giống bọn cho hoang bình thường. nó chẳng những mặt xanh nanh nhọn, dữ tợn vô cùng mà còn hết sức nhanh nhẹn, nhảy phắt cái đã vọt lên được mặt thành, nếu không phải là yêu quái trong” tây du kí” thì cũng là linh thú trong “Phong thần bảng”
giáng trần. Dù chúng ta phái nhiều dũng sĩ nhưng chưa chắc đã là đối thủ của nó”
Mã đại nhân gật đầu nói:” Nói cũng có lí! Vậy theo người nên làm thế nào mới được? Nếu đã có mưu hay thì cứ thẳng thắn trình bày để chia sẻ bớt lo âu cho bản quan”
Gã trợ tá đó thường cho mình là người biết nhiều hiểu rộng, nhưng từ khi về dưới trường Mã đại nhân thì vẫn chưa hiến được mẹo mực gì. Hôm nay thấy cơ hội đã đến, gã liền dâng lời rằng:” Tiểu nhân từng nghe một số người Tây Dương nói, ở nước Anh Di phương tây cũng có nhiều chó dữ hoành hành, vì vậy đất đó có một tục là những kẻ thân sĩ khi ra khỏi cửa sẽ cầm theo một cái gậy, gọi là Văn Minh côn, chuyên dung để đuổi chó. Chó hoang trên phố hễ trông thấy gậy này là chạy xa, không dám lại gần, vì loài chó bẩn sinh đã sợ gậy gộc, đó là bản tính trời phú cho tạo vật này”.
Mọi người đứng bên thấy thế đều bảo:” Anh Di đúng là một nước man dợ ở vùng biển hoang, chưa từng được chịu ơn khai hóa. Đừng trông chúng có tầu chắc pháo mạnh mà lầm, riêng cái việc đám thân sĩ khi ra đường phải cầm gậy đánh chó là đã không bằng nước Đại Thanh ta rồi. Cái thứ Văn Minh côn đó xưa nay chỉ dành cho bọn ăn mày khất thực thôi. Có điều, bản tính bọn chó đúng là sợ gậy gộc. Cho dù chó dữ mấy chăng nữa, cứ thấy gậy gộc là chờn mấy phần. Có lẽ nên cấp cho quân dân Linh Châu nhiều đoản con để đề phòng bọn chó dữ hại tính mạng”
Cả đám nhao nhoa hiến kế, nhưng nói đi nói lại chẳng có kế nào dung được. Đương lcus vô kế khả thi, chợt cso một thám tử vào bảo, đại quân Việt khấu chia làm mấy lộ đánh thành. Lần này chúng kéo quân bất ngờ và bí mật, đến khi phát hiện thì mũi tên tiên phong chỉ còn cách thành không đén ba mươi dặm. mã đại nhân vội vàng hỏi số lượng quân giặc, thám tử bèn bẩm báo:” Chỉ thấy quân giặc ào ạt đến đầy non chật núi, đao thương như rừng, giáp binh như mưa, không thể đếm được”
Tạm thời không kể tiếp việc Việt khấu đột ngột phát bịnh đánh thành và thành Linh Châu đã điều binh khiển tướng để phòng ngự ra sao, chỉ nói đến chuyện Trương Tiểu Biện bị đám dân chúng bỏ chạy tháo thân trên pháp trường xô đẩy, không tự chủ được cũng phải chạy theo. Chẳng biết Tôn Đại Ma Tử và con mèo đen bên cạnh chốn đi đâu nữa. hắn một mình chạy vào một lối ngõ hẹp, chẳng biết Đông Tây Nam Bắc thế nào,chỉ mừng thầm vì không bị bọn chó dữu cắn chết trong đám hỗn loạn. Thấy xung quanh không có ai, hắn liền ngồi xuống bậu cửa trước một ngôi nhà dân, thở hổn hển.
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, cứ tưởng trong thành sẽ được yên ổn một chút, nào ngờ lại hỗn loạn đến thế. Bầy chó hoang đột nhiên phát cuồng, cắn chết bao nhiêu dân chúng, đầy phố toàn xác người chết thảm nằm ngồn ngang, cho bằng mau chóng tìm Tôn Đại Ma Tử rồi rồi khỏi nơi thị phi này, chạy đến tận Kinh Thành mà tìm đường phát tài. Trong lòng đương toan tnhs, chợt nghe phía đầu đường có tiếng mèo kêu, hắn ngoảnh lại nhìn thì hóa ra là con Nguyệt ảnh ô đòng kim tuyến miêu. Trương Tiểu Biện đến gần con mèo rồi nói:” Con mèo tham lam này vừa chốn đi đâu chơi để Tam gia nhà ngươi phải mất công đi tìm, hay là ngươi theo ta đến Kinh thành một chuyến cho mở mang…”
Hắn chưa nói dứt lời bỗng thấy bím tóc phía sau bị người khác nắm chặt khiến hắn đau tới mức phải thốt lên, chửi:” Không còn vương pháp hả?Con bà đứa nào ăn gan hùm mật gấu dám giật bím tóc của Trương tam gia ta chứ?”
Chỉ nghe phía sau có một tràng cười khô như xẻ gỗ vang lên:”Hà hà, bây giờ đã là Trương bổ khoái rồi, có còn nhớ cố nhân nữa không?” Trương Tiểu Biện nghe thấy biết ngay người đó chính là Lâm Trung LÃo Quỷ, liền vội đổi giọng nói:” Tiểu nhân làm sao lại dmas queend dại ân đại đức của lão tiên sinh”
Trương Tiểu Biện thấy mũ tóc được tảh ra liền chỉnh đốn mũ áo, quay lại thi lễ. Chỉ thấy Lâm Trung Lão Quỷ nọ vẫn mặc trường bào rộng thùng thình, màu vải cũ kĩ rách rưới, cũng không rõ là trnag phục của triều đại nào nữa, trên mặt thì vẫn bịt kín bằng một cái khăn chỉ chừa ra 2 con mắt khô khốc, chẳng giống người đang sống chút nào. Lão mở miệng hỏi:” Trương bổ khoái. Món đại phú quý mà lão phu mach bảo ngươi nay đã lấy được chưa?”
Trương Tiểu Biện vốn đang rầu rĩ về chuyện món kim ngân châu báu mà lão già này mach bảo, tuy bảo là có nhưng đó là tiền trong ngân khố của quan phủ hại hắn ngon ngọt chưa thấy, đã thấy bồ hòn, phải liên liên lụy khổ sở một phen. Song thấy khí sắc cảu Lâm Trung Lão Quỷ, ba phần chẳng giống người, bảy phần tựa như quỷ, hắn đời nào dám xúc phạm, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, làm ra vẻ đau khổ kể lại một lượt những chuyện vừa xảy ra, cuối cùng mới nói:” Lão tiên sinh mach bảo tuy đúng nhưng chẳng biết làm sao mà số của tiểu nhân không phát tài, vất vả một phen hóa ra công cốc, bạc vào tay còn chưa ấm đã bị đám công sai cướp ngay trên phố rồi”
Lâm Trung Lão Quỷ bảo:” Có hai người cùng nhà ngươi chạy nạn ở làng Kim Quan, một là Thảo đầu Thái tuế, có thể trợ giúp cho ngươi, kẻ còn lại chính là Táng môn Bạch hổ Tinh quân. Ngươi đem con nha đầu đó đi cùng thì làm sao có thể mở mặt được? Xem ra, số mệnh của ngươi không được phát ở chỗ này, nên mới xui khiến cho sao dữ chiếu mạng. Nhưng ngươi chớ có phiền não? Bình sinh lão phu đã gặp nhiều người rồi, nhưng những người có số phận, mệnh tưởng tốt đẹp trong thiên hạ chỉ e không ai hơn nổi họ Trương nhà ngươi đâu. Sau này, số kiếp của ngươi sẽ có nhiều biến chuyển.
Trương Tiểu Biện vừa nghe rằng sua này có thể mở mày mở mặt liền lập tức vui mừng ra mặt. Tục ngữ có câu rất hay rằng:” Rượu làm đỏ mặt, tiền làm mờ mắt”. lúc ấy, chẳng cần biết lời của lâm Trung LÃo Quỷ thực hư ra sao, rốt cuộc lão có mưu đồ gì, hắn vội khom người cúi xuống lạy, khẩn cầu cao nhân đoán xem vận mệnh của hắn như thế nào.
Lâm Trung Lão Quỷ chẳng nói chẳng rằng đỡ Trương Tiểu Biện dậy, lôi xềnh xệch vào trong Miêu tiên từ trong ngõ Miêu nhi, đến một ngơi yên tĩnh không có bong người lão mới hỏi:”Trương Tam gia, ngươi nói cho lão phu nghe xem, chỉ hướng bình sinh của ngươi như thế nào?’
Trương Tiểu Biện xấu hổ nói tuột ra:” Ngoài tiền bạc ra không còn mong ước gì khác”, đoạn mặt dày mặt dạn tiếp lời nói:” Lão nhân gia chớ coi thường tiểu nhân là một kẻ vô lại rong chơi đầu đường xó chợ, bất học vô thuật, chẳng có tài cán bằng người ta, không giống một trang hào kiệt chọc trời khuấy nước. Tiểu nhân trong bụng cũng có chí lớn,cũng thường…thường muốn làm nên sự nghiệp anh hung lừng lẫy”
Lâm Trung Lão Quỷ cười lạnh rồi hỏi tiếp:’Ngươi thử nói xem, thế nào là anh hung hào kiệt?” Trương Tiểu Biện trả lời:” từ xưa tới any, phàm là kẻ anh hùng hào kiệt, đương nhiên không chịu ăn đời ở kiếp với ruộng nương cuốc thuổng, lại càng không thể làm trâu làm ngựa cho người khác được. Hành động cần phải khẳng khái trượng nghĩa, không bao gờ lấy tiền tài làm mục đích, khi chu du bốn bể thì vung tiền như rác, khi kết giao với bạn bè thì một lòng một nghĩa khinh tài, lập chí lớn, làm việc lớn, khiến tiếng thơm lưu truyền rộng rãi, như thế mới đúng là một anh hùng hào kiệt”. Kỳ thực, ý tứ của hắn hết sức rõ ràng, ấy là muốn làm được đại sự, trước hết phải có được tiền người, có câu rằng:” MẠnh vì gạo, bạo vì tiền” là như vậy.
Lâm Trung Lão Quỷ gật đầu nói:”Ờ… Quả nhiên là anh hùng không có dạ phàm phu, tuy lời của ngươi có chút ba hoa quá đáng, hơi không hợp với thiên đạo nhưng cũng chính là chỗ không câu nệ trong chí của kẻ hào kiệt. tuy nhiên, ngươi đã làm lỡ món bạc trong Hòe viên, mấy năm tới cung tài vận trong mệnh của nhà ngươi không tốt. Muốn được đại phú quý thì đúng là khó như đi lên trời…”
Trương Tiểu Biện nghe thế thì lấy làm sợ hãi, vội nói:” Tiểu tử cũng chẳng thèm khát có được ngón tay điểm đá háo vàng của Lã Thuần Dương tổ dư, càng không dám hy vọng có được vận may lấy được Tụ Bảo cầu, chỉ cần được giàu sang sung túc, tiền như núi, vàng đầy chum. Nếu được thỏa mã ý nguyện thì ngày ngày sẽ xin thắp hương cũng bái Miêu tiên”
Lâm Trung Lão Quỷ nói:”Có được núi tiền hầm vàng thì đã là phú gia địch quốc rồi còn gì, bản thân nhà ngươi chưa chắc đạt được như thế. Có điều, tuy giờ đây cung tài vận nhà ngươi có phần sút kém, nhưng vừa hay lại có tướng tính chiếu mệnh, ứng vào điềm vô tận hanh thông. Nếu nhà ngươi chiu theo lời lão phu mà hành sự thì nội trong vòng một năm,nhất định sẽ trở thành võ quan thống lĩnh quân đội. tới lúc đó, lão phu sẽ tiếp tục mach bảo cho nhà ngươi con đường lên cao bay xa, cũng vô cùng oai phong phú quý”
Trương Tiểu Biện nghe thấy thế, tự dưng cương cốt toàn thân trên dười đều nhẹ nhõm đi mấy phần, đến nằm mơ hắn cũng chưa bao giờ nghĩ mình tốt số như vậy, vụ này quá nửa là do mộ tổ kết phát rồi đây, Đời này cứ có quyền là có tiền, nếu đúng là làm được đại tướng thống lĩnh, rạng rỡ tổ tong, khôi phục dòng dõi nàh họ trương thì còn gì phải nói nữa. Khong cầu làm được đến quan to như Tổng Binh, Đề đốc, chỉ cần làm một tướng quân đã oia lắm rồi. hắn liền vội thỉnh giáo Lam Trung LÃo Quỷ xem nên hành động ra sao.
Lâm Trung Lão Quỷ bảo:” Điềm thiên hạ thái bình thì khí đất từ Bắc xuống Nam. Tới nay loạn từ phương nam sinh ra tức là chủ về việc đất nước loạn lạc, đúng là thời cơ tốt để lập công kiến nghiệp. Cư như vận mệnh của nhà ngươi, chẳng những làm tới võ quan tam, tứ phẩm, mà ngay đến Thượng thư, Tông đốc cũng chẳng khó. Bây giờ, ở chốn thâm sơn cùng cốc ở phía Nam thành có một con Thần Ngao Mạc BẮc tụ tập bầy chó hoang lớn gây hại cho dân. Quan binh trong thành tuy đông nhưng mà khó bắt giết được nó, trên dưới toàn thanh Linh Châu ắt ăn không ngon, ngủ không yên. Họ Trương nhà ngươi muốn thăng quan tiến chức phải đoạt ngay lấy công đầu mới được”.
Trương Tiểu iện há hốc mồm. Hôm nay, chính mắt hắn thấy sự hung tợn bất phàm của con Thần Ngao, đến đao pủ Lưu Ngũ gia của bộ Hình ghê gớm nư vậy cũng bị nó phanh thây mổ bụng ngay tại trận. Huống hồ, con thú này chạy nhảy như bay, nguy hiểm khôn lường. Tạm chưa nói đến súng ống sáo thương, ngay cả đặt bẫy, hạ độc thì nó cũng phát hiện được ngay. Quan binh khắp thành còn chẳng làm gì nổi nó, Trương Tam gia nhà hắn lấy đâu ra phép thuật gì? Mấy hôm trước tuy đã dùng con mèo đen phá được tà pháp của hòa tượng Chuột. Nhưng ấy cũng chỉ là may mắn gặp phải hai loài tương khắc với nhau, nhưng xưa nay, có bao giờ nghe chuyện mèo hàng phục được chó đâu.
Lầm Trung Lão Quỷ chẳng thèm để ý đến Trương Tiểu Biện, lấy từ trong lòng ra một gói đồ, bên trong bọc toàn cá muối, thịt muối. Lão xé nhỏ ra rồi tiện tay vung ra nền đất. Bầy mèo hoang trong ngõ Miêu nhi đánh hơi thấy mùi tanh hôi liền từ bốn phương tám hướng nhao lại.
Trương Tiểu Biện không biết trong bụng Lâm Trung LÃo Quỷ đang tính toán điều gì, cũng không dám hỏi nhiều, đành ngồi chồm hỗm trong một góc trố mắt nhìn. Sauk hi cho bầy mèo hoang ăn no nê, Lâm Trung Lão Quỷ mới bảo Trương Tiểu Biện rằng:” Cần mượn mấy món đồ của tổ sư gia bọn chúng để dùng nên phải đãi đằng chúng một chút, nếu không chúng sẽ không ưng chịu đâu!”
Trương Tiểu Biện càng tháy kì quái hơn. Nghe đồn Miêu tiên gia vốn là một đại bản lĩnh tày trời, nổi tiếng lừng lẫy trong thành Linh Châu, về sau ông ta ăn trộm Dạ minh châu trong hoàng cung, lo rằng bị quan phủ truy nã,nên mới mai danh ẩn tích, quy ẩn giang hồ. Trong miếu này làm sao lại có vật tùy thân của ông ta?
Lâm Trung Lão Quỹ gỡ mấy viên gạch xanh phía dứơi bệ thờ, lôi ra một cái hòm gỗ trông khá cổ kính, hình dáng màu sắc đều đã cũ mèm, chắc hẳn đã chôn dấu rất nhiều năm rồi. Mở hòm ra, bên trong chỉ có một bộ quần áo dài hành của bọn trộm cắp. Lão trông thấy mấy món đồ đó liền cất một tràng cười lạnh âm trầm, rồi nói với Trương iểu Biện:” Đây là trang phục mà Miêu tiên gia đã mặc hồi trước, tên là “Hắc Thiền”, nhẹ như long hồng, đồng thời có thể tránh được đao thương, vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, là một bảo vật hiếm thấy trên đời. Nhưng quý hiếm hơn là cặp tai mèo con để tận đáy hòm kia. Có được cả bộ này, đêm này ngươi chỉ cần làm thế này, thế này…Muốn bắt giết được con Thần Ngao MẠn Bắc hung dữ thì cũng dễ như trở bàn tay, lấy đồ vật trong túi vậy”
Thật là:” Lập mưu bắt thỏ cung trăng; Những toan đoạt quạ ở ngang lưng trời”. Muốn biết chuyện sau thế nào xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:38 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:51 pm


Hồi thứ sáu: Lò đúc kiếm.

Lại nói về Miêu Tiên Đàm Đạo nhân năm ấy mai danh ẩn tích quy ẩn đi vân du tứ hải, một năm nọ quay lại quê cũ Linh Châu, thấy người trong thành lập một ngôi sinh từ cho mình. Ông thấy mình nào có tài đức gì àm được hưởng hương hỏa như thế, vậy là trước lúc ra đi, ông bèn đem tất cả bộ đồ hành nghề khi xưa chôn giấu dưới bệ thờ trong đền..
Chuyện này đã trải qua không biết bao nhiêu triều đại rồi, chẳng hiểu bằng cách nào mà Lâm Trung Lão Quỷ lại nắm rõ như trong lòng bàn tay vậy. Trương Tiểu Biện biết lão này nhất định là một nhân vật lạ lung, thầm nhủ là may cho mình đã gặp được một thần tiên thực thụ. Hắn như người nghèo vớ được của, như đang tối nhặt được đèn, vội vã thỉnh giáo cách đối phó với con Thần Ngao trong Hoang Táng Lĩnh. Nếu quả thực hắn có thể lập được công lao này, về sau lo gì không được một phen mở mày mở mặt, mọc mũi sủi tăm? Đúng là:
Không lâm cường địch quyết thư hùng,
Sao được trổ tài lập chiến công?
Tới lúc thanh danh lưu truyền bốn bể,
Nam nhi thế ấy mới oai phong.
Lâm Trung LÃo Quỷ bảo Trương Tiểu Biện mặc đồ dạ hành cảu Miêu tiên gia, rồi lấy trong đáy hòm ra một cái mặt nạ. Trên mặt nạ vẽ một cái mặt mèo, phía trên đầu còn gắn hai cái mặt mèo, sờ vòa thấy mềm mại dị thường. Lâm Trung Lão Quỷ bảo:” Vật này gọi là “ Miêu nhi diện”, có nguồn gốc từ vùng cực Tây của nước Ba Tư, chuyên dùng để che dâu hơi thở của con người. Chỉ cần đeo mặt nạ này lên thì chồn cáo, chó hoang trong núi thẳm dẫu có trông thấy người nhưng cũng chỉ nghĩ là một con mèo hoang qua đường”. Nói rồi, lão bảo Trương tiểu Biện đeo cái mặt mèo lên mặt, đồng thời dạy cho kế hay, bảo hắn một mình mang con mèo đen đi vào vùng Hoang tang Lĩnh bắt giết Thần Ngao,sau đó còn mách cho hắn rất nhiều việc làm từ nay về sau, dặn dò phải nhớ kĩ trong lòng.
Trương Tiểu Biện thấy kế sách của Lâm Trung Lão Quỷ thực là hiểm hóc, người thường không thể nghĩ ra nổi, không rõ mình có thể thi hành được không, định hỏi lạ thì nghe thấy bên ngoài có tiếng trống nư sấm dậy. hắn vội vã chạy ra ngoài miếu nghe ngóng rồi sợ hãi thốt lên:” Ai dà! Thành Linh Châu đánh trống gọi quân, chắc là chuẩn bị đánh trận lớn rồi.” Lúc hắn quay vào trong thì đã không thấy bóng dáng Lâm Trung LÃo Quỷ đâu nữa, chỉ thấy bầy mèo hoang trong sảnh bị tiếng trống trận làm kinh động, đang chạy trốn tứ phía.
Trương Tiểu Biện ngẩn ngơ một lúc, cúi đầu nhìn bộ đồ dạ hành đen tuyền từ đầu tới chân đang mặc, mới hiểu rằng chuyện vừa nãy không phải là một giấc mơ. Hắn nghĩ bụng, quân địch đang áp sát chân thành., Linh Châu tuy binh nhiều lương đủ nhưng cũng chỉ là một tòa thành cô lẻ không có viện binh, không biết có thể giữ được bao lâu nữa. Đằng nào khi thành bị phá tất cả cùng chết hết, chi bằng cứ làm theo lời của Lâm Trung Lão Quỷ, liều một phen đoạt lấy vinh hoa phú quý cho riêng mình.
Dân gian có câu rằng:” Từ khi mắc lỡm gian thương; Những lời đường mật tởn luôn tới già”. Nhưng tầm nhìn của Trương Tiểu Biện hết sức thiển cận, cũng chưa từng “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, hắn cảm thấy: “Đằng nào thì Tam gia ta đây ngoài cái mạng nhỏ chẳng có thứ gì khác, nếu nhân thời vận này mà làm nên, thì đúng là nhặt được món lợi trời cho rồi”. ĐÚng là lòng tham không đáy, còn chưa được voi đã đòi tiên rồi. Từ đây hắn đã quyết chủ ý, liền không quan tâm đến nông sâu gì nữa, nhặt nhạnh đồ đạc đâu đấy, rồi đem theo con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu vội vã chạy về nha phủ trình diện.
Đi được nửa đường, liền gặp Tôn Đại Ma Tử đang chạy tới tìm. Trương Tiểu Biện vừa nếm một vụ nhớ đời trong vụ bạc công ở Hòe viên nên giờ không dám khoe khoang nữa, chỉ nói vắn tắt tình hình một lượt. Hai người trở về cầu kiến Mã đại nhân, xin được nhận lệnh đi tiêu trừ bầy chó hoang trong Hoa tang lĩnh trừ hại cho dân địa phương.
Chớ nghĩ MÃ Thiên Tích chỉ là một quan văn mà chớ hiểu lầm. Hơn một năm nay, lão đã có công chiêu mộ lính giữ thành, được hoàng thượng hạ chỉ khen thưởng, nghe đâu không bao lâu sau sẽ thăng quan cho lão. Vì vậy, lão mới nắm hết mọi việc quân vụ, bố phòng ở địa phương, trực tiếp nhận lệnh của quan Tổng đốc Lưỡng Giang. Lúc này, quân Việt Khấu đang áp sát chân thành, có lẽ snags sớm mai sẽ tổ chức tấn công, Mã Thiên Tích bận rộn luôn chân luôn tay, liên tục điều khiển lính dõng, phân phát hỏa khí, mọi việc khác đều tạm gác sang một bên.
Chỉ riêng Đề đốc Đồ Hải là khong dứt được chuyện hồi sang bị con Thần Ngao làm cho một phen sợ vỡ mật. Bọn Việt khấu đánh tới thành tuy đông nhưng đã có tường cao hào sâu ngăn trở, bọn quân ô hợp như chúng chắc cũng chẳng làm được trò trống gì. Nhưng con chó dữ ở Hoang Táng lĩnh thì đúng là như ma như quỷ, biết đâu nó sẽ ngầm lẻn vào trong thành, nhân lcus người ta không phòng bị mà xông tới cắn. Lão lại nghĩ đến tình cnahr của Lưu NGũ gia bị phanh ngực moi bụng mà bất giác run lên, đứng ngồi không yên, cứ thôi thúc Mã đại nhân phải mau chóng tìm ra đối sách.
Đúng lúc ấy lại có Trương Tiểu Biện đến xin nhận lệnh, MÃ Thiên Tích mừng quá, cất tiếng gợi khen:” Quả thực bản quan nhìn người không lầm, Trương bổ khoái thực là một bạc trang sĩ vậy. KHông rõ định làm thế nào, cần mang theo bao nhiêu người ngựa?” Trương Tiểu Biện đáp:”Tiểu nhân đội ơn ân tướng đã yên mên cất nhắc mà chưa có dịp nào báo đáp, nếu có cơ hội chia sẻ nỗi lo cho Mã đại nhân thì dẫu phải nhảy vào núi đao biển lửa, tiểu nhân quyết không từ nan. Việc này không phải đụng đến một binh một tốt nào, chỉ cần Tôn Đại Ma Tử ở lại trên mặt thánh tiếp ứng là được. Tiểu nhân đã tự có cách đối phó với bọn chó dữ ở Hoang Táng lĩnh”
Mã đại nhân thấy hắn mồm mép tép nhảy, nhưng trông thần sắc tựa như trong lòng đã có kế sách. Lão đã cùng thì không nghi, đã nghi thì không dùng, liền gật đầu nói:” Nếu không phải kẻ có tài trí muôn phần thì sao có thể làm được như thế! Xem ra nhà ngươi đúng là một viên ngọc trong đá. Nếu chỉ dựa vào quần áo, diện mạo mà xét đoán người thì ắ sẽ bỏ lỡ hiền sĩ trong thiên hạ! Trương bổ khoái quả nhiên không phải người tầm thường, bản quan sẽ y theo lời của ngươi, điều phái một toán công sai đến mặt thành đẻ tiếp ứng. Sau khi thành công, ắt sẽ trọng thưởng!”nói xong, lão sai người mang ra một thanh đoản đao, chính là ngọn Thốn thanh của đao phủ thời xưa truyền lại, sau khi Lưu Ngũ gia chết thì nhập vào công khố, giờ trao lại cho Trương Tiểu Biện mang theo phòng thân. Kế đó, lão ban cho hắn một cái lệnh bài giắt lưng để ra vào thành, cho phép tùy nghi hành sự.
Song những viên quan khác, đến ngay cả lão Đề đốc người Bát Kì Đồ Hải nọ, đều nghĩ thầm, thằng ranh Trương Tiểu Biện có tài cán thực sự nỗi gì, chẳng qua chỉ là một phường lưu manh vô lại m àthôi. CHuyện này đâu phải chuyện đùa, khác nào đi vuốt râu hùm, nhổ răng cọp, dễ gì làm nổi, dù có đánh liều àm đi thì cũng là không dưng đâm đầu vào chỗ chết mà thôi.
Lúc ấy trời đã chập tối, Trương Tiểu Biện liền cáo từ đi ra, gọi Tôn Đại Ma Tử và một toán công sai đi tới phía Nam thành. Ngoài thành đang có đại địch áp sát nên cổng thành hông dám mở, đành phải ròng giỏ tre lớn đưa người xuống dưới.
Trương Tiểu Biện thấy trên thành đầy chặt, toàn lính dõng đang liên tục vận chuyển những súc gỗ đá, tên nỏ và đặt rất nhiều hỏa khí diệm pháo, từng khẩu Phách SƠn pháo và súng ống bày la liệt không đếm xuể, thật đúng là:” Khói lang sông vũ trụ; Sát khí ngập đất trời”. hắn chưa từng chứng kiến quang cảnh trận đánh nào như thế, trong lòng không khỏi run sợ, dưới chân mềm nhũn ra, trong lòng cũng hơi hối hận vì vừa nãy chót khoa trương trước mặt lão quan họ Mã, đến giờ thì không còn đường nào lui nữa, đành đem hết tinh thần sức lực toàn thân chuẩn bị đợi đến khi trời tối hẳn sẽ ra ngoài thành hành sự. Lần này thì mới phải:” Liều thân vào hang cọp; Mạo hiểm xuống đầm rồng”
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, non gan thì không thể làm tướng quân được, không liều thân thì sao được phú quý, ai bảo mình sinh ra đã không tiền tài, không thân thế, lại không có tài cán gì để mưu sinh, không cam sống kiếp cực nhọc qua ngày, không xả thân liều mạng kiếm chút lợi lộc thì bao giờ mới vẻ vang cho được? Nghĩ tới đây, muons ra sao thì ra, hắn nai nịt ngọn ngàng bộ dạ hành lên người, dùng dây xanh quấn chặt bắp chân lại, xỏ đôi giày gai, sau đó mang theo lương khô, nước uống và một bao vôi bột nhỏ, giắt ngọn đoản đao Thốn thanh vào hông, rồi ngồi trên mặt thành ăn uống một bữa no say cùng con mèo đen.
Tôn Đại Ma Tử rất hâm mộ hành động của Trương Tiểu Biện, có ý muốn đi cùng, nếu có gì bất trắc thì hai người có thể tiếp ứng cho nhau. Trương Tiểu Biện liền ngăn lại nói:” Xem thế trận này, tờ mờ sang mai Việt Khấu sẽ đánh tới thành. Nếu không có huynh ở lại trên thành thì khi ta về ai sẽ tiếp ứng kéo lên?” Tôn Đại Ma Tử gật đầu cho là đúng, đồng thời dặn Trương Tiểu Biện nhất định phải quay về trước khi trời sáng, nếu không sẽ bị vây khốn trong quân Việt Khấu, rồi chết trong đám loạn quân cũng không chừng
Lúc đó, mây đen che khuất ánh trăng, đúng là cơ hội tốt để lẻn ra, Trương Tiểu biện ngồi vào trong giỏ tre cho ngưởi thả xuống, hắn nghiêng ngó bốn phía rồi nhét con mèo đen vào trong lòng, nhân có mấy ánh sao sáng lờ mờ mà chạy thẳng vào Hoang Táng lĩnh ở phía Nam thành.
Tuy ngọn ní hoang rất gần thành những hang hốc rất sâu, là một nơi hết sức hoang vu, ngoài những dân phu chuyên vứt xác ra, rất ít người dám lại gần, đến quân Thái Bình cũng không dám đi đường núi này, mấy làn trước đều phải chia làm hai ngả tránh vòng qua.
Trương Tiểu Biện đi được một lúc đã đến trước hang núi. Xưa này hắn chịu cảnh màn trời chiếu đất đã quen, cũng không bào giờ phải để tâm lo lắng chuyện đi một mình giữa vùng núi hoang lúc khuya tối, Chỉ thấy bốn phía cỏ dại mọc cao quá đầu, mộ phần lớp lớp trong đám cây cối um tùm, tỉnh thoảng có vài con chó hoang lang thang giữa khu nghĩa địa. hắn làm theo lời Lâm Trung Lão Quỷ, đội mặt nạ lên mặt, quả nhiên không gặp phải bất cứ nguy hiểm gì. Hắn phân biệt rõ phương hướng rồi di thẳng xuyên qua bãi tha ma ộng lớn hoang vu, tiến thẳng vào sâu trong sơn cốc, thấy dưới chân toàn là xương người trắng hếu, bốn phía từng đám lửa lân tinh chập chờn mờ tỏ, ánh trăng xuyên qua kẽ mây đen rọi xuống, chiếu vòa những phiến đá lớn hình thù quái dị ở hai bên, phóng mắt nhìn ra xung quanh chỉ thấy một vùng mồ hoang núi dại. Thất là :” Tám hướng không ai tới; Bốn mùa ít người qua” . Đi vào đó chẳng khcs nào đi vào Quỷ Môn quan ở Âm tào Địa phủ.
Cho dù Trương Tiểu Biện to gan nhưng cũng không khỏi cảm thấy rợn người, chỉ còn cách vừa đi vùa nói với con mèo đen mấy câu để xốc tinh thần:” Thường nghe nói mèo nhà Linh Châu không bằng mèo hoang, hết sức tham lam lười nhác, thích ăn trắng mặc trơn, nhưng lần này chúng ta vào núi bắt giết con Thát tử khuyển, đều phải dựa vòa sức chú mày cả đấy.Chỉ cần làm sao đại sự, ngày nào cũng mua cá tươi về để chú mày ăn cho bõ thèm, Chớ thấy Tam gia ta nghèo khổ không một xu dính túi mà lầm, nhớ hồi xưa Hòa Âm hầu Hàn Tín lúc chưa gặp thời còn phỉa chịu nhục luồn trôn, Lữ Mông nhà Bắc Tống khi chưa làm nên tể Tướng, cũng chẳng phải đã giống như TRương tam gia ta, ngày ngày chú ngụ trong miếu nát qua đêm đó sao? Vì vậy , con người ta ở đời, vận số giàu nghèo, suống khổ còn phải chờ xem sau này thế nào, chứ chuyện hiện tại thì không tính, chú mày đừng lấy mắt mèo ra mà xem thường người khác…”
Trương Tiểu Biện rầm rì một lúc lâu, chủ yếu là nói để mình nghe, cứ thế đi thẳng vào hang sâu, thoáng chốc đã đến bên dưới một vách dá lớn, dưới ánh trăng thấy chân núi có khắc hai chữ đại sự, nét bút cong cọng quẹo quẹo như đnà nòng nọc đang bơi. Tuy rằng hắn cũng biết được dăm ba chữ, nhưng không tài nào đọc được những chữ Triện cổ trên kia, nhưng nghe Lâm Trung Lão Quỷ bảo rằng, trong Vạn thi phần Hoang Táng lính ngày xưa có một nơi đúc kiếm, dưới hang núi có khắc hai chữ “Kiếm Lô”, liệu chừng chính là nơi đây rồi.
Vốn thời xưa có rất nhiều danh kiếm, những đao kiếm tầm thường thời này không thể so sánh được. Phàm đã là loại kiếm sác bén thì xuống nước có thể chem. Giao long, lên cạn có thể chặt tê tượng. Nổi tiếng nhất là Thái A, Long Tuyền, Bạch Hồng, Tử ĐIện, Can Tương, Mạc Da, Ngư Trường, Cự Khuyết… gì gì đó, mỗi thanh đều có sự tích xuất xứ rõ ràng. Núi này thời xưa đa sản sinh ra nhiều thép tốt, Từ thời Xuân Thu- Chiến Quốc đã là nơi đúc kiếm rèn binh khí đệ nhấ, tới khi bảo kiếm đúc thành thì tinh khí ngọn núi cũng cạn kiệt, trở thành một vùng hoang phế âm u. Cạnh hai chữ” Kiếm Lô” trên vách núi có một hang động, chính là di tích của lò đá đúc kiếm năm xưa. Trương Tiểu Biện tìm đến cửa động, thổi to ngọn bùi nhùi mang theo, chiếu sáng đường đi phía trước rồi mò mẫm vách đá tiến thêm mười mấy bước nữa, thấy kẹp giữa ai vách đá trong hang núi là ngôi điện đá lớn, phía dưới đã bị lún đến một nửa, phần còn lại trông như khảm chặt vào chân vách đá, để lộ một lớp mái đá trong hang núi.
Ngôi điện đá cao lớn rộng rãi, được phân thành ba gian Thiên Địa Nhân. Bên trong cửa đá là một lò gạch rất to, cỡ phải bằng một nửa gian nhà dân bình thường, đã lún xuống một nửa tường. Trương Tiểu Biện nghĩ bụng:” Đây chính là lò đúc kiếm rồi cửa lò là chữ nhân, tuy hẹp nhưng bên trong khá rộng rãi, cứ vào trong nấp tạm đã, đợi con Thát tử khuyển rồi sẽ tính sau”. Nào ngờ vừa mới lách nửa người vào trong, hắn đã trông thấy có người chết treo trong hầm lò. Người chết gương mặt trắng bệch, mắt trợn tròn lên, lưỡi thè ra ngoài, hai chân lơ lửng trên không, chao đi chao lại phía trước. Trương tiểu Biện vốn không đề phòng, thoạt trông thấy có vật “đánh đu” trước mắt, liền giật nảy mình, sợ suýt chết.
Đúng thật là:” Phú quý vinh hoa ai chẳng thích; Phép màu sinh tử mấy người hay?” Không rõ trương Tiểu Biện gặp được kỳ ngộ gì trong lò đúc kiếm và có lập mưu bắt giết được con Thần ngao hay không, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:39 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:52 pm

Hồi thứ 7: Bạch gia


Lại nói về lò đúc kiếm thời Xuân Thu- Chiến Quốc, kỳ thực ra nên gọi là Kiếm thất, bên trong điện được chia thành ba gian Thiên Địa Nhân, đồng thời trong ngoài chia thành hai tầng, bên ngoài ốp gạch ngói chịu lửa, bên trong thì như một gian nhà dân, cũng có cột đá kèo đồng, có đặt một cái lò để lấy lửa luyện thép. Lò chữ Thiên phun lửa, là chữ Địa luyện thép, lò chữu Nhân là nơi người sống nhảy vào, lấy tính mạng để tế kiếm. Trong gian lò có một vị kiếm sư treo cổ tự tử, lẽ nào linh hồn đã nhập vào kiếm khí chỉ còn lại một cái xác treo lơ lửng hàng nghìn năm nay.
Trương Tiểu Biện không hiểu chuyện gì, bỗng dưng bắt gặp một cái xác chết “đánh đu” trong lù đúc kiếm, quá sức sợ hãi, lập tức co rúm người lại định bỏ chạy, nhưng dưới ánh sáng lấp lóa của đám bùi nhùi trong tay nhác thấy bên dưới thân thể chết treo kì quái kia, có một người toàn thân nhuốm máu đang nằm ngục. Trương Tiểu Biện tinh mắt, vừa liếc qua đã nhận ra người quen, chẳng phải ai khác mà chính là lão Thiết trung, lão bộc của Thiết Trưởng quầy ở Tùng Hạc đường
Trương Tiểu Biện đảo cặp mắt hai vòng, bụng bảo dạ:” Từ đêm hôm mượn chỗ tá túc ở Hòe viên thì Thiết chưởng quầy và Thiết trung đều đi đâu mất tích, sống không thấy người, chết không còn xác, chẳng ngờ lão Thiết trung này lại ở chỗ này. Việc này có nhiều uẩn khúc, người này lại thật thà lương thiện, Tam gia ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn được?” Hắn hơi do dự, rồi rùn người quay vào trong lò, đến bên canhjc ái xác chết treo chắp tay nói: “Âm dương đôi ngả, không làm phiền nhau, chúng ta nước sông không phạm nước giếng nhé”
Sau đó Trương Tiểu Biện ngỡ thân thể lão hán Thiết trung xuống, thò tay sờ thử vào tim, thấy vẫn còn ấm, nhưng máu thịt trên cơ thể bầy nhầy, bị thương rất nặng, lại còn sốt cao, môi kiệng nứt nẻ, đúng là:” Thân như trăng nhạt khi mờ sáng; Mệnh tựa đèn côi lúc cạn dầu”, tính mạng chỉ còn trong khoảng khắc.
Trương Tiểu Biện cậy răng Thiết trung, đổ mấy ngụm nước trong hồ lô mang theo vào mồm lão. Được uống nước mát, liền kêu aid a một tiếng, từ từ lấy lại hơi thở, thần trí hơi tỉnh táo lên một chút. Đúng là:” Hang lạnh may thay tia nắng rọi; Tro tàn lại có vẻ bùng lên”. Nhưng vừa mơ màng mở mắt, lại trông thấy Trương tiểu Biện đeo mặt nạ mặt mèo, những tưởng là miêu ly trong núi thành tinh, sợ quá suýt nữa chết ngay tại chỗ.
Trương Tiểu Biện vội đẩy mặt nạ lên trên đỉnh đầu, hỏi vì sao lão gặp nạ tới mức này. Lão Thiết trung thấy Trương Tiểu Biện tuy rằng vô cùng ngạc nhiên nhưng không sợ hãi nữa, liền nhân khi hồi quang phản chiếu, đầu óc còn minh mẫn, xốc lại tinh thần kể lại cho hắn một lượt câu chuyện đưa xác vào Hoang Táng lĩnh.
Số là từ hôm Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào thành Linh Châu, đem cái xác phụ nữ từ Ứng Trủng sơn đến hiệu thuốc Tùng Hạc đường đổi lấy con mèo đen nuôi sau nhà của Thiết trưởng quầy. Lão Thiết trưởng quầy là kẻ biết người biết của, xưa nay cưa từng làm việc lỗ vốn bao giờ. Lão nhận ra cỗ cương thi này chính là mỹ nhân vu của triều trước, do ngưởi đó ngậm oan mà chết nên hình hài không nát, là thứ hàng hóa quý báu khó tìm ngoài chợ đen,.
Mấy năm gần đây, vùng Giang Nam xuất hiện rất nhiều yêu nhân tu luyện tà thuật Tạo Súc, nhân thieen tai địch họa để làm những việc táng tận thiên lương. Bọn người này đi đến đâu cũng tìm cách cắt hạ bộ của người chết, đem phối nam dương, nữ âm lại thành một bộ để luyện thuốc. Tà thuật này càng luyện đến tầng cao thì càng cần nhiều cương thi và thai sống. Phàm là tử thi chết oan không rửa nát, trả con bị bắt cóc, hoặc thai nhi trong bụng sản phụ, thậm chí cả bộ nhau thai, đều là những món mà bọn chúng thèm muốn.
Xưa nay chiến tranh luôn đi kèm với sự tàn phá, sau mỗi trận đánh là đất bỏ hoang nghìn dặm, thóc lúa sạch không, người chết đói và chết trong chiến loạn nhiều không đếm xuể, đâu đâu cũng có xác người mới chết. Những xác chết mấy trăm năm và thai đồng tử lại rất khó kiếm, vậy là liền xuất hiện bọn trộm mộ bắt cóc, buôn qua bán lại đến tay đám nghiệt đồ Tạo Súc, việc kinh doanh thu lợi rất lớn. Giữa cái thời buổi nhớp nhúa, chỉ cười chê kẻ nghèo chứ không cười chê con điếm ấy, kiếm tiền bằng những cách mất nhân tính như thế cũng có đáng kể gì.
Thiết Công Kê tuy có gia sản lớn lao nhưng tính tình biển lận khắc bạc, xưa nay chưa bao giờ chán tiền chán bạc. Hắn lại làm nghề buôn bán dược liệu, thuộc các đường đi lối lại, bến cảng cửa ngõ, quen được lũ đạo tặc chuyên trộm lăng, quật mộ, vì vậy ngấm ngầm buôn bán cả cương thi. Mỗi khi có hàng, lão lại tự mình đem ra ngoài thành bán,
Những vụ buôn bán ấy đều tiến hành trong bóng tối, đến cả những người cực kì thân tín trong nhà Thiết Công Kê cũng không hay biết. Có điều hắn thế đơn lực mỏng, một mình thì không làm nổi nên mỗi lần đều phải dẫn lão bộc già Thiết Trung theo.
Thiết Trung lúc đầu không hề biết đầu đuôi ngọn ngành, nhưng đi đi về về một thời gian dài, dần dần cũng hiểu được một số sự tình. Lão là người trung hậu chất phác, những chuyện tày đình như thế khi nào dám làm, cứ khuyên chủ nhân dừng lại để tránh rước họa vào thân, hiệu thuốc làm ăn lớn thế này rồi, sao lại vất vả khổ sở đi làm cái việc buôn bán táng tận lương tâm như thế.
Nhưng lão Thiết Công kê ấy tầm mát hạn hẹp vô cùng, trong đầu chỉ biết có mỗi một chữ “lợi”. tuy đã kiếm được cả gia sản to lớn nhưng lão vẫn coi từng đồng từng cắc quý hơn tính mạng, ngoài chuyện bất chấp thủ đoạn kiếm tiền ra, đối với người nhà lão cũng hết sức keo kiệt, bủn xỉn. Mỗi sáng thức dậy, bảnh mắt ra trên giường là lão lại cảm thấy đau đớn đến rơi nước mắt, trong lòng hơi giân khôn nguôi, vì lẽ gì nhỉ? Lão giận vì mặt trăng mặt trời, tinh tú trên trời cứ thế luân chuyển, hôm qua đã ăn cơm, hôm nay tỉnh dậy lại phải ăn cơm, tiền gì cũng tiết kiệm được, duy chỉ có ngày hai bữa cơm là không thể không ăn.
Vào thời đó, đám địa chủ và gian thương kéo bẩn đều có tuyetj chiêu dè sẻn riêng của mình. Nhưng kẻ khác thì thôi không bàn, chỉ đơn cử Thiết Công Kê giàu nứt đố đổ vách nhưng mỗi ngày hai bữa cơm sáng và tối tyrong nhà, đến dưa muối cũng không dám ăn. Mỗi năm nhà lão chỉ mua một con cá, ướp muối suốt nửa tháng cho đến khi con ác mặn chat, ngay cả lũ mèo già cũng không dám ăn vụng, lão mới mang con cá mang ra treo phía trên bàn ăn.
Tới bữa cơm, cả nàh mỗi người chỉ có một bát cơm hẩm, ngẩng đầu nhìn con cá muối một cái, chỉ nhìn thôi cũng đã tháy mặn tới tận ruột gan rồi, sau đó và vội và vàng hai miếng cơm vào mồm, vậy là tiết kiệm được tiền thức ăn cả năm. Cho tới tận tối ba mươi Tết, lão mới cho hạ con cá muối tròn một năm tuổi đó xuống, dùng nước rửa cho bớt muối đi rồi chia cho cả nhà lón bé cùng ăn. Đến sáng sớm mùng một, ai nấy đều hò hè như biến hết thành “hổ ướp muối” không bằng.(Hổ ướp muối: tức con dơi. Theo truyền thuyết dân gian, con chuột ăn nhiều muối sẽ biến thành con dơi. Tên gọi khác của con dơi là Dạ Miêu Hổ, vì thế mới gọi là hổ ướp muối)
Chuyện này trong xã hội cũ thì không hiếm, chỉ vì những kẻ bo bo ôm của ấy biết rõ tiền bạc thực không dễ kiếm, mỗi đồng bạc đều phải vất vả nghĩ trăm phương nghìn kế mới rút được ra, bởi vậy trừ những nhà giàu xổi ra, phần lớn các phú hộ đều hết sứ keo kiệt, xem hai chữ tiền tài to như trời bể.Chúng thường cho rằng tiền tài là thứ có linh tính nhất trên đời, chỉ có ai tiếc tiền yêu tiền thì nó mới cam lòng đi theo. Nếu ai đó cầm tiền mà không quan tâm đến tiền, tiền vào tay này rồi ra tay kia tức là xúc phạm đến Tài thần lão gia, làm sao ngài đem tiền cho nữa? Bởi thế mới có câu:” Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện”, hễ nàh nào ăn ở keo bẩn nhất định nhà đó là một phú hộ.
Loại người như Thiết Công Kê chính là hạng bủn xỉn keo kiệt, một đồng một cắc cũng không buông, cả ngày đều tính toán làm sao cho tiền có vào mà không có ra, thật ứng với câu nói xưa:” có số kiếm được tiền mà không có phúc tiêu”, chỉ cần mưu lợi được thì dẫu có cắt thịt ông bà tổ tiên ra bán thì hắn cũng can tâm tình nguyện, sao lại để tâm đến lời của lão bộc Thiết Trung làm gì.
Lão Thiết Trung này đời đời đều làm gia bộ, xưa nay chủ nhân dặn đi làm chuyện gì cũng tuyệt đối không dám nói nửa chữ “không”. Lão khuyên can Thiết Công Kê hai lần không được, buồn đến nỗi trằn trọc cả đêm không ngủ, đang không biết nên làm thế nào, Thiết chưởng quầy lại gọi lão dậy đi làm, đành phải gắng gượng đi theo. Hai người vào mật thất lóc thịt Mỹ nhân vu, ném xương tàn vào lò thiêu, chỉ đem da thịt và cái đầu gói vào một túi da rồi nhân lúc không ai hay biết trèo tường rời khỏi tiệm thuốc. Thiết Công Kê đem mấy thứ thuốc rởm ra hối lộ bọn lính dõng tuần thành mở cửa thành chuồn ra ngoài, trăng mờ gió lớn, cả hai đi thẳng một mạch đến Hoang Táng lĩnh.
Thiết Công Kê không thông đường thuộc lối ở đây, nhưng lão cũng biết trong sơn cốc toàn chó hoang, không dám ngang nhiên đi sâu, liền cầm một ngọn đèn lồng trắng trong tay, đứng chờ trước cửa núi một lúc, lâu mới thấy một con chó già trụi đuôi đi ra. Con chó này như một tên ma cô dẫn đường, nghiêng ngó nhìn hai người rồi quay mình, vẫy đuôi đi vào trong.
Thiết Công Kê vội sai Thiết Trung vác cái túi da đựng đầy thịt xác chết, đi theo con chó trụi đuôi vào trong sơn cốc. Càng đi càng sâu, rốt cuộc cũng tới một hang động, chỉ thấy có một con chó xù toàn thân lông trắng nằm phục trên mặt đất giữ một hòm tiền, bên trong toàn là vàng ròng bạc nén, không chỉ có bạc đúc của bản triều mà còn có rất nhiều “Kim Dương tiền” của nước ngoài nữa.
Thiết chưởng quầy lần đầu tới giao dịch ở Hoang táng lĩnh này, chỉ nghe người dẫn mối nói là “bạch gia” muốn xme hàng, lão những tưởng sẽ làm ăn với người nào đó giống như những lần buôn bán trước, nào ngờ trong núi chẳng thấy bóng người, chẳng lẽ con chó này chính là Bạch gia? Thiết Công Kê bụng bảo dạ, chẳng cần biết mày là người hay chó, chỉ cần có tiền tức là đại gia rồi, nghĩ đoạn liền mang cái túi da đến trước mặt con chí xù lông trắng mở ra, lấy cái đầu của Mỹ nhân vu đặt xuống đất.
Con chó xù lông trắng lại gần đánh hới một lát rồi rồi dùng móng chân khều ra hai đĩnh vàng. Thiết Công Kê cảm tạ rối rít:” tạ ơn bạch gia đã ban thưởng”, nói rồi bước lên hai bước nhặt vàng bỏ vào trong bọc.
Thiết Trung bình sinh chưa bao giờ thấy cảnh tượng quái dị như vậy, đúng là lạ lung hết sức, trên đời này làm gì có chuyện như thế được! lão bất giác lo gặp phải yêu quái, liền giật ống tay lão Thiết chưởng quầy, khuyên chủ nhân đã lấy được tiền thì mau chóng quay về. Nào ngờ, Thiết Công Kê thấy tiền thì nóng máu, huống hồ thấy trong núi không có người, chỉ có một con chó xù canh cả hòm bạc lớn, nhất là đống Kim Dương tiền, màu vàng rực rõ làm người ta lóa cả mắt. Lòng tham quặn từng khúc ruột, không sao kìm nén lại được, liền manh tâm chiếm hòm làm của riêng.
Thiết Công Kê vừa nhặt một hòn đá lên tay, định vòng ra phía sau đập chết con chó trắn, nào ngờ trong núi vọt ra một chó lớn, to như con lừa, trên người đầy đốm máu, cuốn theo một trận gió ập đến. nó vồ ngã Thiết Công Kê ra đất, rồi đúng như:” Hổ dữ vồ dê; Diều hâu chộp én non”, chẳng để Thiết Công Kê kịp giãy giụa, trong chớp mắt đã moi quả tim bê bết máu trong lồng ngực lão ra.
Đáng thương Thiết Công Kê cả đời so trước tính sau, cả đời ăn không dám ăn, mặc không dám mặc, vất vả lao tâm, tốn sức, rốt cuộc lại kết thúc tính mạng như thế, thật đúng là:” Thế là tính mạng đi đời, đắng cay để lại ngọt bùi cho ai?” Thiết trung đứng bên cạnh đờ người ra, lão đã nhiều lần tận mắt thấy con chó lớn mà dân gian vẫn gọi là Thần Ngao này trên pháp trường trong thành. Lão hoảng sợ vô cùng, chỉ mong bỏ chạy thoát thân, chẳng ngờ bước hụt một cái, ngã vào lò đúc kiếm này.
Thiết trung ngã gãy chân, trên người bị đá cứa chảy máu be bét, may mà chui vào được trong lò kiếm, chặn cửa lò chật hẹp lại mới giữ được tính mạng. Lúc cầm canh gõ mõ vào buổi đem, lão hay mang theo chút lương khô và nước, giờ đó miễn cưỡng kéo dài được mạng sống đến giờ, chỉ có điều đã không thể nhấc chân đi được bước nào, tính mạng coi như đã bỏ đi. Lão cũng tự biết rất rõ mình chẳng thể sống được bao lâu nữa, trước lúc xuôi tay nhắm mắt, chẳng có mong muốn gì khác, chỉ khẩn cầu Trương Tiểu Biện giúp cho một việc là đem tin tức về báo với người nhà, để họ biết Thiết chưởng quầy đã chết đến thi thẻ cũng bị bầy chó ăn hết rồi, mau mời hòa thượng pháp sư đến lập một cái đọa trngaf siêu độ cho vong hồn, rồi đắp mọt cái mộ gió chôn mũ áo để chủ nhân không phỉa làm cô hồn dã quỷ.
Ánh mắt Thiết Trung dần dần tán loạn, tới khi lão phều phào dặn dò xong thì hơi thở đã mảnh như tơ, cuối cùng cũng không lấy lại được hơi thở nữa ,à ‘chết’ trước mặt Trương tiểu Biện.
Trương Tiểu Biện thầm kinh hãi, chẳng ngờ Thiết chưởng quầy ở Tùng Hạc đường lại cấu kết với bọn yêu tà Tạc Súc, hơn nữa, Lâm Trung Lão Quỷ sao không bảo trước cho hắn về con chó xù lông trắng canh hòm tiền trong hoang táng lĩnh, việc giết chết con Thần Ngao này rốt cuộc có làm được hay không đây? Trong đầu hắn nghĩ mien man một lúc rồi vái thi thể Thiết Trung hai vái:” thiết lão, sống khôn chết thiêng, xin hãy hù hộ cho Trương Tam gia ta bình an trở về, bằng không lão và Thiết chưởng quầy sẽ phải ngậm hờn oan uổng, mãi mãi chết không rõ ràng”
Đúng lúc ấy, bỗng nghe đàn chó hoang lớn trong núi tru gào điên cuồng, tiếng kêu dần vang lại gần, thoắt cái đã đến. Trương Tiểu Biện biết có sự lạ, vội thổi tắt bùi nhùi, men theo tường lò trèo lên chỗ cao nhất trong nhà đá, mượn ánh tắng nhòm trộm động tĩnh trong núi. Chỉ thấy bầy chó hoang trong Hoang Táng lĩnh không rõ bới được trong khu mộ nào ở đâu ra ổ cáo, tổng cộng cso ba con to, một con nhỏ, trong đó, một con cáo già đang ngậm một con cáo con trong miệng, ra sức bỏ chạy thục mạng. Nghe nói vạn vật trên thế gian, trừ con người ra, chỉ có loài cáo là linh nhất, thế mói có chuyện “hồ ly mê hoặc người”, dẫu cho chó săn có khôn ngoan, nhanh nhẹn cũng khó lòng bắt được chúng. Nào ngờ đâu, có lúc chúng bị bọn chó hoang truy đuổi tới mức đường cùng, phải chạy trốn vòa chỗ tuyệt lộ trong Hoang táng lĩnh này.
Thực là:” Kể ra câu chuyện kinh trời đất; Nói rõ hành tung khiếp cổ kim” rốt cuộc chuyện sẽ ra sao xem hạ hồi phân giải.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:40 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:54 pm
Hồi thứ 8: Tinh tinh trản




Lại nói đến Trương tiểu Biện và con mèo đen nọ trốn bên trên gian điện đá, thò đầu ra nhìn trộm động tĩnh trong Hoang táng lĩnh. Lúc ấy, tinh tú trên trời đều đã ló ra, dưới ánh sáng lạnh lẽo của trăng sao, chỉ thấy một đàn chó hoang lớn đang tru gào đuổi một ổ cáo vào lối cụt.
Bọn chó hoang này kết bầy trong núi chuyên môn đào mộ, húc quan tài trong bãi tha ma, lôi thi thể những người chết còn chưa rữa nát ra ăn cho đỡ đói, lúc bình thường cũng hay rượt bắt, ăn thịt bọn chồn, thỏ trong vùng gò mộ hoang vu này. Mỗi con cáo có một tuyến hôi, nếu gặp phải nguy hiểm, chúng có thể phóng ra mùi hôi giống như loài chồn hôi, được gọi là” Hồ yên”(khói hồ ly)
Hồi yên có màu xanh đậm, không thối như mùi rắm của bọn chồn hôi, nhưng lại có tác dụng làm mê loạn thần trí. Khứu giác của chó cực kỳ nhạy bén, một khi hít phải thứ khói này, nhẹ thì bị tê liệt các giác quan, trong lúc chạy đuổi sẽ húc vào đá vỡ đầu, chảy máu, gãy xương, đứt gân, nngawj thì ũng sủi bọt mép ngã quay ra, chân cẳng co quắp, sau cùng thần thái mê man biến thành chó dại.
Truyền thuyết hồ ly tinh giỏi mê hoặc người không hẳn chỉ là quan niệm mê tín không dưng nghĩ ra được. bầy chó hoang trong Hoang Táng lĩnh tựa hồ hiểu rõ về tập tính của lũ cáo, cứ đuổi dồn phía sau rất gấp nhưng vẫn giữ một khoảng cách nhất định với ổ cáo, không cho chúng cso cơ hội phóng hồ yên, cứ thế đuổi vào tận sâu trong hang núi cho bọn chúng sức cùng lực kiệt mới nhao vào bắt gọn.
Cầm đầu ở cáo này là một con hồ ly già dễ có đến trăm năm tuổi, toàn thân đỏ rực như lửa, trước trán có một đốm trắng, thoáng nhìn tựa như có ba con mắt. trong miệng nó ngậm một con cáo non, dẫ theo hai con khác chạy cuống cuồng, mấy lần giở kế sách hòng chạy thoát khỏi sự truy kích cảu bầy chó hoang, khốn nỗi đây là đại kiếp ông trời giáng xuống, từ đầu chí cuối chúng không giở ra được trò trống gì. Thấy sức lực đã kiệt quệ, trước mắt lại bị một vách đá chắn ngang đường, chúng biết số mệnh đã hết, đành dừng lại nhắm mắt chờ chết.
Bầy chó hoang thấy lũ cáo có chắp cánh cũng không thoát được nữa bèn bao vây chặt trong sơn cốc, rồi nhe nanh múa vuốt, sủa râm ran nhưng không vội ào lên cắn xé. Tình cảnh thực giống mèo bắt chuột, trước hết bắt ba lần, thả ba lần, vờn con vật bị bắn cho chán rồi mới ăn thịt.
Mấy con cáo lớn cáo nhỏ sợ hãi tới mức toàn thần run rẩy, rơi nước mắt, nhưng con cáo gì ba mắt nọ tựa như không can tâm giơ đầu ra chịu chem., liền nhả trong miệng ra một viên đỏ tròn trịa long lanh, trông giống như châu ngọc. trước đây, con cáo này từng gặp kì duyên, ăn được một gốc linh chi ngàn năm trong núi sâu, đồng thời ẩn nấp trong mộ đã nhiều năm, mỗi đêm đều ngẩng đầu nhìn trăng để hít luyện khí, cuối cùng cũng luyện được một viên ngọc Hồ ly có khả năng cải tử hoàn sinh. Giờ khi đã lâm vào cảnh đường cùng tuyệt lộ, liền định mang ngọc ra đổi mạng.
Có câu rằng, chó có Khuyển bảo, trâu cso Ngưu hoàng, viên sỏi trong cơ thể con cáo gài chính là ngọc Hồ ly. Bọn chó hoang tuy chỉ là bầy ô hợp nhưng cũng biết ngọc này là vật chân quý, nuốt vào bụng thì chí ít cũng tăng thêm được mấy chục năm tuổi thọ, con nào con nấy trợn mắt định lao vào cướp chợt nghe trong đêm khuya có một tiếng sủa lớn như tiếng bò rống. tiếng sủa mạnh mẽ cât lên, khí thế rung động cả trời xanh, khiến cho bầy chó hoang rung mình, rên ư ử cúp đuôi, nhất laotj lùi về phía sau.
Chỉ thấy một con chó lớn như con lừa vọt từ trên núi xuống ơn cốc như làn khói đen, đích thị là con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh. Con Thát tử khuyển tung mình nhảy một cáitới trước mặt con cáo ba mắt, há miệng nuốt chặt viên ngọc rồi quay sang đè chặt hai con cáo lớn, cắn chết ngay tại chỗ, móc hai bộ tim gan ra ăn, rồi nhân khi cổ họng hai con cáo vẫn còn ấm, cúi xuống uống máu ừng ực.
Con cáo già ba mắt đứng cạnh trông rõ mồn một trên người nó cũng dính đầy máu tươi, sợ run như cầy sấy, rồi đột nhiên tỉnh ngộ, biết con Thần Ngao đã tha mạng cho mình và con cáo con. Nó đang ở chỗ chết lại được sống, liền vội vã ngoạm con áo con sống sót duy nhất chạy một mạch khong quay đầu lại, trong chớp awmts đã mất hút trong bóng tối mênh mông.
Tới khi con Thần Ngao uống đã máu, nó mới để hai cái xác cho bầy chó hoang hưởng thụ. Có điều mật ít ruồi nhiều, trong thaongs chốc, trong thoáng chốc bầy chó hoang đã ăn sạch hai con cáo chết, cả lông, da cũng không chừa. Những con ăn chưa no cũng không dám oán giận, đành tiếp tục đi vào bãi tha ma xung quanh để bới người chết, bắt cáo thỏ.
Hai mắt con Thần Ngao sáng như đuốc, vừa lè lưỡi liếm vết máu chồn dính quanh mồm, vừa sải chân dì về phía lò đúc kiếm. trong lò hiện còn rất nhiều thép tinh để đúc kiếm năm xưa, con Thần ngao thường dùng nơi này làm sao huyệt để nuôi dưỡng thêm sự hung bạo trong mình.
Trương Tiểu Biện chốn trên trần của gian điện đá, chứng kiến sự việc từ đầu chí cuối, sợ toát mồ hôi, biết con thát tử khuyển này cso thể săn bắt cả các loài mãnh thú như chó sói, hổ báo, trên thỏa nguyên Mạc bắc nên không dám xem thường. Chỉ thấy con Thần Ngao tiến vào lò kiếm, nhất nhất giống hệt như lời Lâm Trung Lão Quỷ mách bảo, hắn nghĩ thầm:” ĐÚng là vận số của Trương Tam gia ta đã đến rồi. Con chó dữ đêm này đã vào trong thì dẫu có ba đầu sáu tay, trên lưng mọc cánh đi nữa cũng chẳng có cửa mà ra” hắn lập tức phấn chấn tinh thần nằm phục trên cái xà nhà cùng con mèo đen, rón rén bước, giấu mình, nhè nhẹ bò về phía sau điện đá.
Con Thần Ngao đã ăn tim gan của hai con cáo, lại nuốt ngọc Hồ ly vốn là vật cực nóng, thấy trong bụng sôi lên sung sục, nó liền vào trong tòa điện đá đổ nát, định bụng tìm một chỗ kín gió để nghỉ ngơi một lúc. Con chó tinh tường vô cung, không cần ngẩng đầu cũng biết trên nóc xà điện có tiếng động bất thường, hít hít mấy hơi biết là hai con mèo hoang qua đường, chẳng bõ dính răng, nên không thèm để ý nữa, cứ thế đi về hậu điện, nằm phục trước gian lò chũ Thiên để ngủ.
Trương Tiểu Biện luồn một lúc trên xà nhà cũng mò tới nóc hậu điện. tường đá ở đây đã lúc tới một nửa, trên trời ánh trăng sáng lóa như nước, lọt qua mái dột của tòa điện, chiếu xuống mặt đất long lanh như dát bạc. Dưới ánh trăng chỉ thấy con Thần Ngao đang nằm trên một bệ đá cạnh lò nghỉ ngơi, trên đỉnh đầu nó có ba đĩa đèn bằng đồng treo lơ lửng từ trên xà ngang xuống. Mỗi đĩa đèn đều to cỡ cái chậu rửa mặt, phía trên đều có nắp đồng, chạm trổ họa tiết tinh tú, chất đồng trải qua mưa vùi gió dập lâu ngày giờ đã mốc xanh.
Ba đĩa đèn này không phải vật tầm thường, mà được gọi là Tinh Tinh trản, cổ vật bằng đồng từ thời Chiến Quốc. Đây chính là đèn đồng dùng để giữ mồi lửa khi đúc kiếm cho các bậc vương hầu. Để đúc nên bảo kiếm sắc bén tuyệt luân, ngoài tay nghề cao siêu của các bậc thầy đúc kiếm và vật liệu tinh quý trong ngũ kim ở nơi thâm sơn cùng cốc ra, còn cần có lửa trời để đốt lò, chứ không thể dùng lửa thường ở chốn dân gian được, không có lửa trời, kiếm đúc ra không thể có được kiếm khí lẫm liệt như rồng ngầm hổ rống.
Tuy nhiên, cơ hội lấy lửa trời là hết sức ngẫu nhiên, chứ không phải cầu mà có được, phỉa đợi khi sấm sét đánh túng cây cổ thụ nghìn năm mới sinh ra lửa trời thực thụ. Mấy ngọn Tinh tinh trản treo trong điện đá chính là dùng để giữ gìn mồi ửa trời năm xưa.
Trải qua nghìn năm dâu bể, cho tới ngày hôm nay, lửa đã tắt ngúm, nhưng dầu đèn vẫn còn. Mỗi ngọn Tinh tinh trản gồm có ba phần, một là phần thân đèn bằng đồng, hai là tim đèn, ba là dầu đèn bên trong. Lúc đó bụi bặm tích lại lâu ngày phủ đầy trên Tinh tinh trản, sớm đã bịt kín miệng đèn lại.
Trương Tiểu Biện nằm phục trên xà nhà quan sát một hồi, sau đó thò tay bắt con mèo đen, định noi theo kế của Lâm Trung Lão Qủy để giết con Thần Ngao. Cũng bởi tại hắn mặc bộ đồ của miêu tiên gia nên con mèo đne tưởng là đồng loại, lại nghĩ hắn muốn đùa nghịch với mình, Nó liền kêu meo meo một cái rồi nhảy phóc một cái từ xà nhà lên mái nhà.
Trương Tiểu Biện chụp hụt con mèo liền chửi thầm một tiếng:” Con mèo giặc, trốn rõ nhanh”. Hắn định leo lên mái nhà bắt nó trở lại, nhưng đang chênh vênh trên xà nhà rất cao, nhìn xuống phía dưới là thấy hoa cả mắt. hắn miễn cưỡng bò được lên đến đây là chân tay đã tê liệt cả rồi, Huống chi người không thể giống như mèo, sao có thể nhảy nhót leo tròe trên xà nhà tùy thích được.
Giờ nếu không có con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu, trương Tiểu Biện hắn cũng khó lòng làm nên chuyện gì ở chốn Hoang táng lĩnh này. Hắn nhìn xuống phía dưới, nuốt ực một miếng nước bọt.bạo gan đứng lên xà đá, định bụng thử bắt con mèo đen xuống một lần nữa, nhưng chân hắn vốn ngắn, nhón gót chụp mấy lần mà không với tới được.
Trương Tiểu Biện cuống cả lên, mồ hôi lanh trên trán chảy ròng ròng, đành phải hạ giọng cầu khẩn:” Miêu nhị ga, đây không phải là chỗ để đùa đâu, mau xuống đi chớ làm hỏng đại kế cảu Tam gia ta…”
Con mèo đen nọ ngồi ở cạnh chỗ mái thủng, vừa thè lưỡi liếm chân, vùa dùng chân xoa xoa lên mặt, tỏ ra rất nhàn hạ, chỉ thấy hai con mắt mèo như dát vàng, ánh lên rực rỡ dưới ánh trăng. Tựa hồ có ý đùa giỡn với Trương Tiểu Biện, nó mặc kệ cho hắn van nài khổ sở, nhất định không chịu xuống.
Trương Tiểu Biện không có được khả năng đi lại như mèo, miws chỉ cử động hơi mạnh một chút đã làm rơi nhiều bụi băm trên xà nhà xuống dưới điện. Con Thần Ngao đang phủ phục dưỡng thân trên bệ đá, nghe thấy hai con mèo hoang trên nóc điện cứ đùa giỡn hoài, lại bị bao nhiêu bụi bặm trút xuống đầu, nó giận lắm, liền ngẩng đầu lên, hung tính trỗi dậy, hận chẳng thể ăn tươi nuốt sống hai con mèo ranh kia được. Mặc dù vậy, viên ngọc Hồ ly trong bụng là một thứ đâị bổ, biến thành sức nóng hập chưa tan, tinh thần con chó hơi mệt, mê man chực ngủ, nó lại nghĩ đến vị thế của mình, không thèm đích thân đi bắt hai con mèo hoang, vì vậy mới chịu nín nhịn không nổi khùng,c hỉ gầm gừ khẽ trong kẽ răng để cảnh cáo rồi tiếp tục lim dim ngủ.
Lần này thì Trương Tiểu Biện sợ tới mức hồn phách suýt nữa lên mây, hắn vội vã cuộn tròn như một con nhím nằm phục trên xà nhà, đến thở mạnh cũng không dám, chỉ có quả tim vẫn thình thịch đập loạn nhịp. Hắn hiểu rất rõ, con Thất tử khuyển này không phải là con chó thông thường, dẫu cho thiên la địa võng cũng không bắt nổi, chỉ cần khiến nó cảm thấy hơi khác lạ là mình sẽ thành tro bụi ngay
Con mèo đne kia vốn rất nhát, cũng rất sợ hãi, lông dựng đứng cả lên định chạy trốn ngay lập tức. Trương Tiểu Biện thầm kêu khổ không thôi, chỉ sợ nó chạy mất liền vội lấy từ trong bọc ra một cái bánh bao nhân cá, hươ hươ lên trên không, dụ con mèo tham lam đến.
Con mèo Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu này vốn có tập tính khác hẳn những con mèo khác, ngoài non gan và tò mò ra, nó thích nhất là ăn trộm cá và đồ tanh. Thấy cái bánh bao nhân cá, mồm nó lập tức nhỏ nước dãi, cặp ngươi vàng tức thì dán chặt vào cái banh bao.
Trương Tiểu Biện thấy tình cảnh như thế, chửi thầm:” Con mèo tham chết toi, lại đây rồi tao cho mày biết tay”, đoạn tiếp tục hươ hươ cái bánh bao trong tay. Nào ngờ con mèo đen vốn sợ con Thát tử khuyển tận gan ruột, tuy mắt dõi theo sát cái bánh bao nhân cá lắc qua lắc lại nhưng cũng không dám nhúc nhích xuống dưới. Trương Tiểu Biện cuống quá liền giơ cái bánh bao nhân cá lên cao một chút, nào ngờ phủ phục trên xà dã lâu, khí huyết toàn thân không thông suốt, các ngón tay đều cứng đờ ra, đánh tuột cái bánh khỏi tay, rơi xuống đúng đầu con Thần Ngao. Con ác khuyển rống lên một tiếng hung dữ, điên cuồng bật người dậy, rồi như một mũi tên rời cung, vọt lên xà nhà. Trương Tiểu Biện mặt như chàm đổ, sợ hãi kêu thầm:” Chết rôi! Đêm hôm nay Trương Tam gia ta phải chết ở đây rồi!”
Đúng là:” Mặc lòng đã sẵn mưu kì diệu; Khó tránh đêm này họa một phen” Muốn biết chuyện sau thế nào, xem hạ hồi sau phân giải.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:41 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:57 pm

Hồi thứ chín: LẤY ĐÈN TRỘM DẦU




Nói đến đoạn Trương Tiểu Biện nấp trên xà nhà định bụng tìm cách dẫn dụ con mèo đen trên nóc nhà xuống, chẳng ngờ tuột tay làm rơi cái bánh bao nhaanc á khiến con Thát tử khuyển nổi giận, lao vọt lên không, cuốn theo mọt trận gió âm, định chộp con mèo hoang trên xà nhà để ăn tươi nuốt sống.
Thế vồ của con Thần Ngao hết sức mạnh mẽ, lợi hại, Trương Tiểu Biện cả kinh thất sắc, muốn trốn cũng không trốn kịp nữa, đành nhắm mắt chờ chết. Nào ngờ trong nháy mắt, lúc con ác khuyển chưa vồ đến xà nhà, bỗng nghe mái điện vang ầm lên một tiếng, một đống gạch nát ngói vỡ đổ xuống, bụi bặm tung lên mù mịt.

Số là con mèo đen ngồi trên mái nhà, dán mắt vào cái bánh bao nhân cá trong tay Trương Tiểu Biện, mình rướn xuống phía dưới hơi quá, rốt cuộc mất đà giẫm hụt chỗ trống, đụng rớt mấy mảnh ngói vụn và mọt mảng bụi, rồi cả nó cũng rơi thẳng xuống dưới.
Con Thát tử khuyển phản ứng rất nhanh, đang ở chừng khoong, bỗng thấy ngói, bụi đổ xuống liền lật người tránh qua một bên, thân mình to lớn hạ xuống đất nhẹ nhàng như lá rụng, rồi ngay lập tức ngẩng đầu quan sát động tĩnh ở mái điện. Dưới ánh trăng, ánh amwts nó như điện chớp, lộ rõ vẻ hung dữ phấn nỗ khôn cùng.
Trương tiểu Biện vốn tưởng phen này phải đi gặp DIêm Vương rồi, chẳng ngờ con Thần Ngao không cắn trúng mà chỉ có đống bụi bặm đổ xuống người. hắn vội vã nín thở, dùng tay xua bớt bụi bặm,chợt nghe tiếng xích đồng loảng xoảng, vội giương mắt nhìn xuống phía dưới. Chỉ thấy con mèo đen cũng chưa rơi xuống đất, nhờ vào thân thể nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, nó giơ hai chân trước bấu chặt vào mép Tinh Tinh trản, đôi chân sau đang giãy giụa trên không, khiến ngọn đèn đồng chao qua lắc lại như đánh đu.
Ngọn đèn đồng treo lơ lửng trên không bằng một sợi dây xích, con mèo đen vất vả lắm mới trèo đến nắp đèn, rồi run run rẩy rẩy thò đầu xuống nhìn. Thấy con Thát Tử khuyển đang ngẩng đầu, trừng trừng nhìn lên, nó sợ quá, lập tức rụt cổ lại. co ro phía trên ngọn đèn đồng, không con lối nào thoát nữa, cho dù giỏi trèo tường leo cây đến mấy cũng không thể thi triển được.
Lúc ấy, một người, một mèo, một chó, một thì run gan vỡ mật nấp trên xà nhà, một thì mật vỡ gan run bám trên ngọn đèn đồng, còn một thì trợn mắt gườm gườm canh ở dưới điện, vừa đúng chia thành ba tầng trên, giữa, dưới trong tòa điện đá, nhưng không bên nào dám vọng động, chỉ có ngọn đèn Tinh Tinh trản cứ cót ca cót két chao qua lắc lại.
Trương Tiểu Biện và ocn mèo đne không dám cử động vì đnag sợ hãi muốn chết nhưng con Thát tử khuyển cũng không nhúc nhích àm tở vẻ ngạc nhiên dị thường, trái ngược hẳn bản tính hiếu sát lúc thường ngày, đó là vì sao?
Số là chuyện này cũng lắm sự nhiều khê. Đĩa đen đồng dùng để lưu trữ lửa trời nọ bị con mèo đen cóa cấu một chặp, những bụi bặm tích trữ lâu ngày trên bề mặt bị rớt xuống một mảng lớn, mùi hương lạ lập tức tỏa ra. Loài chó đánh hơi rất tài, vừa ngửi một cái, con Thần ngao đã biết không phải là việc tầm thường. Mùi dầu đèn trong Tinh Tinh trản thơm hơn gấp trăm lần mùi dầu thơm khiến nó không khỏi sinh nghi.
Dưới ánh trăng, Trương Tiểu Biện trông thấy rõ ràng, bụng bảo dạ, Miêu tiên gia đã hiển linh rồi, Trương Tam gia đúng là người có số đại phúc đại mệnh, thường có câu rằng:” Gặp thời cỏ mục hơn hoa, vận may bùn đất hóa ra vàng ròng” Thời vận đã đến thì dẫu có muốn ngăn cản cũng không nổi, chỉ vì con Thần nGao đó sát nghiệp rất nặng nên số phận đã định trước phải bỏ mạng ở đây. Bây giờ, hãy xme Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu giở trò gì trên ngọn đèn dầu.
Chỉ thấy con mèo đen định nhảy lên xà nhà để bỏ chạy, nưng không có chỗ nào đẻ leo bám, muốn nhảy xống đất thì thấy con Thần Ngao đang nhe nanh gầm gừ, nhìn chằm chặp. Con mèo lòng run ý loạn, vừa sợ vừa cuống như kiến bò chảo lửa, đúng cũng không vững, đành loanh quanh mấy vòng phía trên ngọn đèn.
Cuối cùng nó nìn ba ngọn đèn đồng xếp hàng một lơ lửng trên không trung, ngọn đèn ngoài cũng khá gần một chỗ vỡ của bức tường đổ, có thể chui qua lối đó để thoát ra ngoài lò đúc kiếm. Nhưng khoảng cách giữa các ngọn đèn rất xa, không tìa nào nhảy trực tiếp qua được.
Có câu rằng:” Chó cùng rứt giậu, mèo vội nhảy lầu”. Lúc ấy, để tìm đường sống, chẳng cần biết có nhảy được hay không, con mèo đen trên ngọn đèn đồng ra sức đu đẩy, chỉ mong nó lắc đền càng gần cái đèn còn lại càng tốt. Con mèo lắc cật ,ực khiến dầu đèn bên trong chao đỏa mạnh.
Đang lúc mừng rỡ, chao qua lắc lại, bỗng nghe con chó phái dưới sủa một tiếng như bò rống, con mèo đen sợ quá, bốn chân nhũn ra, lập tức bò rạp trên ngọn đèn đồng đang chao liệng không ngừng. Chẳng ngờ đèn bì lắc quá mạnh nên nó bị trượt chân lắn xuống phía dưới, kêu lên một tiếng meo thảm thiết, cố hết sức bám chặt vào mép đèn. Nó chỉ sợ rơi xuống ắt sẽ bị con chó khổng lồ bên dưới cắn chết, liền xù lông đuôi, mấy chân cào cấu lên phía trên. Nhưng lúc này cũng chớ phải lo, bởi cú ngã của nó đã khiến ngọn đèn đồng không lắc lư nữa mà lại nghiêng hẳn về một phía cở trên không, dầu đèn trong đĩa lập tức trào ra ngoài.
Dầu đèn nghìn năm vừa thơm tho vừa trơn láng, là vật hiếm có trên thế gian. Con Thát tử khuyển bất giác ngoác miệng, thè chiếc lưỡi dài đón lấy dầu đèn đang đổ xuống. Đêm nay, nó đã ăn sống tim gan của lũ cáo, trong bụng đnag nóng như thiêu đốt, uống được mấy hớp dầu đèn, chẳng những mồm miệng thơm tho mà tinh thần cũng trở nên sảng khoái, hoạt bát nên nhiều.
Lúc ấy, chân con mèo giẫm phải dầu lập tức trượt khỏi đĩa đèn, rới thẳng xuống dưới đất. Con Thần Ngao đang uống sung sướng, đột nhiên bị cắt mất nguồn dầu, lập tức nổi giân, không đợi con mèo đen rơi xuống đã lao lên đón lấy, ngoạm chặt mồm nhưng không dùng sức cắn, trái lại, chỉ lắc một cái, hất con mèo đen trở lại phía trên ngọn Tinh Tinh trản rời trừng mắt gầm gừ, bắt con mèo đen phải tiếp tục nghiêng đèn cho dầu đổ xuống.
Con mèo giữ được mang sống, nào dám không nghe theo, vội vã vận hết sức, đu ngọn Tinh Tinh trản chao liệng một hồi, tiếp tục nghiêng đĩa đèn cho dầu rỏ xuống từng chút một. Con Thần Ngao ở phía dưới thè lưỡi đón lấy không sót một giọt bào, liếm một cách khoái trá.
Thần Ngao tuy cảnh giác và giảo hoạt nhưng chẳng ngờ con mèo hoang nọ đám đưa mình vào bẫy, trong lòng lại đang khô nóng như lửa đốt, vì vậy nhất thời không khỏi chủ quan. Con chó uống dầu đèn tới mức mồm mép trơn nhẫy, chẳng cần biết nhiều ít thế nào, cứ uống lấy uống để, nào ngờ dầu đèn tuy không bổ cũng không độc, nhưng không được uống quá nhiều. tục ngữ có câu:” Dạ dày chó, không tày hai lạng dầu thơm”. Uống quá nhiều thì bugj trướng lên, con chó đã tức thì phọt ra ba cục phân, rồi cả người mềm như bún, chẳng khác nào con cừu.
Trước lúc con Thần Ngao còn chưa kịp trướng bụng phọt phân, thần trí nó mê man bởi dầu đèn, không phân biệt nổi phương hướng nữa. Nó ngầm biết là không hau, cố gắng lăn lộn trên mặt đất hai vòng, nhưng nó càng lúc càng trở nên mơ màng, lảo đảo đập đầu vào tường. Cái đầu chó chuyên húc quan tài quả thực cứng rắn vô cùng, vừa húc vào bức tường lở đã phá sụp một nửa vách, rồi cứ thế sụm xuống đất không thể dậy được nữa, dớt dãi chảy lòng thong bên mép, tiếng ngáy như bì rống, ngủ mê man bất tỉnh.
Trương Tiểu Biện nấp trên xà nhà, nhìn thấy con Thát Tử khuyển ngã ra đất, lòng liên vui sướng như điên, nhưng hắn vẫn không dám sơ suất, tiện tay nhặt hai hòn đá vụn, ném vào mình con chó. Trong bubgj con Thần Ngao toàn là dầu đèn, tâm trí đã hôn mê, cho dù Thái Sơn có đổ ngay trước mặt nó cũng chẳng biết gì nữa.
Trương Tiểu Biện cả mừng, chửi rằng:” Ác cẩu nhà ngươi dẫu có ranh ma cũng phải nốc nước rửa chân của ông”. Nói đoạn, hắn phi thân từ trên xà nhà xuống dưới, bạo gan đạp hai cước vào người con ác khuyển, quả nhiên thấy nó ngủ say đúng như choc hết, liền cười hà hà, nói:” Cái này là ác giả ác báo, nhà người chwos trách Trương tam gia ta lòng lang dạ sói đấy”. Phải biết rằng:” Thương xót thì đừng nên hạ thủ; Xuống tay thì quyết chớ dung tình”. Trương Tiểu Biện thò tay rút ngọn đoản đao Thốn thanh trên người ra, cắt tươi cái đầu chó xuống, đoạn dùng vôi bột rắc lên, bọc vào mấy lớp giấy dầu, bên ngoài dùng một miếng vải rách gói lại, rồi buộc thành một cái tay nải đeo trên lưng.
Trương Tiểu Biện vừa tính rút lui thì nhớ ra còn mấy việc phải làm trước khi trời sáng. Thấy cũng không còn sớm sủa gì nữa, hắn vội vã hành sự. thường đi lại vùng núi hoang nên biết rất nhiều loại rau dại, cỏ dại, thấy có rất nhiều khóm Thất bộ đoạn trường thảo mọc rẩm rạp ở xung quanh lò đúc kiếm, bèn thuận tay vặt lấy, rồi lóc mình trên mình con Thát tử khuyển không đầu, moi ra viên nội đơn của con cáo trong dạ dày chó, nhét vào trong bọc, cuối cùng cả máu chó cũng thu thấp ngọn ngàng sạch sẽ, chất hết vào trong lò chữ Địa.
Tòa điện đá trong hoang táng Lĩnh chia làm hai tầng, lò chữ Địa ở giữa có một cái đỉnh lớn, phía dưới có cửa đốt và hầm đốt. thấy trong núi có nhiều cành khô, củi mục, hắn vội lượm một bó, châm lửa nhóm lò, lại vòng ra phía sau điện lấy chút nước suối, bỏ mấy nắm Thất bộ đoạn trưởng thảo vào trong, nấu thành một nồi canh thịt lớn thơm nức.
Trương Tiểu Biện nhanh chân chạy nhưng cũng phải mất hơn một giờ mới xong. Cuối cùng khi mùi canh thịt trong cái nồi to đã bốc lễn từng đợt, hắn biết việc lớn đã thành, liền vội vã ôm con mèo đen, nấp lên nóc điện.
Chẳng bao lâu sau, bầy chó hoang lớn đang lang thang xung quanh Hoang Táng lĩn bị mùi canh thịt hấp dẫn kéo đến. Chúng đều biết tòa điện đá là sao huyệt của Thần Ngao, bọn chó hoang trong núi đều khiếp sợ thần uy hung tợn của nó nên không con nào dám mạo muội bước vào nửa bước, nhưng mùi thịt càng lúc càng đượm khiến chúng không sao kìm được.
Rốt cuộc ó hai con chó hoang tham lam, liều mạng, nhịn không nổi nữa liền can đảm tiến vào trong. Bọn chó kia thấy thế, chảng nghĩ ngợi được gì thêm, dãi dớt nhỏ ra lòng thong, lập tức nhao nhao tiến vào như ong, tranh đoạt, giằng xé lẫn nhau, ăn sạch sành sanh nồi thịt trong lò chữu Địa, rồi mỗi con tự cuỗm lấy một khúc xương, cắm cúi gặm nhầu.
Dược tính của thất đoạn trường thảo bộc phát, hễ con chó nào đã ăn thịt, uống nước canh lập tức trúng độc ngã lăn ra, cảm thấy như là:” Một hòn lửa nóng thiêu gan phổi; Vạn mũi dùi châm thấu ruột gan” . Chúng đau đớn lăn lộn khắp đất, không quá thời gian thắp một tuần hương, tất cả đều chết ráo.
Trương Tiểu Biện thấy đạii công cáo thành, bồi hồi như đnag nàm trong mộng. trước đây việc bắt gà trộm chó hắn đã làm nhiều nên giết mấy con chó hoang cũng chẳng nhằm nhò gì, chỉ tấm tắc nể tài tiên tri của Lâm Trung Lão Quỷ, xem ra khoảng khắc thời vận xoay chuyển của Trương Tam gia đã đến rồi. Có điều, đúng là:” Một tướng nên danh,vạn xác phơi” Hôm nay chẳng qua chỉ là một trăm mười mấy con chó hoang, nghĩ tới khi mình ở đỉnh cao chót vót, hoạn lộ thênh thang, hắn không biết rõ còn biết bao nhiêu người phỉa liên lụy đến bỏ mạng vì mình. Trong lòng hắn không khỏi có chút trống rống, chưa biết sẽ là phúc hay là họa.
Lúc ấy, Trăng sáng đã ngả về tây, Phương Đông đã sắp hửng, vùng núi non hoang dã chìm trong bóng tối u âm trước bình minh, Trương Tiểu Biện tuy lòng thắc thỏm không yên nhưng cũng đành ra sức chạy về thành Linh Châu. Hắn vác cái đầu của con Thát tử khuyển, vạch cỏ tìm đường, rời khỏi hang núi, mải miết đi nhanh đến phía cổng thành thì trời cũng đã sáng hẳn. bỗng bên tai có tiếng pháo nổ, chỉ nghe khắp nơi dậy tiếng chem. Giết vang trời, thấy vô số quân Tahsi Bình đầu chít khăn đỏ, như trời long đất lở áp sát tường thành trong tiếng gào thét xung trận, thế quân rất lớn, cơ quạt đao thương mọc kín như rừng.
Thật đúng là:” Đao thương lấp lóa buốt trời rộng; Cờ xí tung bay rợp đất bằng” Muốn biết việc sau thế nào, xem cuỗn Tặc Miêu tập sau sẽ rõ





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:41 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Tue Nov 29, 2011 4:59 pm

Quyển 4:Tháp Vương

Hồi thứ nhất: Kinh thiên động địa


Kể từ khi Bàn Cổ Mở trời, Nữ Oa tạo người, Đại Vũ trị thủy đến nay, thiên hạ đã trải qua ba đời hạ Thương, Chu thời thượng cổ, sau đó các nước chư hầu cát cứ, ngũ bá thất hùng làm loạn thời Xuân thu- Chiến Quốc dẫn đến việc tần vương trỏ kiếm quét sạch ngầm trời, rồi khiến cho Hán Sơ tranh đoạt giang sơn…Trong cả một quãng thời gian đó, không thể đếm xuể biết bao lần đổi đời, hưng suy của các triều đại, mãi đến cuối đời Minh, quân thiết giáp Bát Kì vào Quan Nội, đánh một trận quét sạch cả Nam Bắc, bình dịnh Trung Nguyên, thiên tử người Mãn Châu ngồi lên điện rồng ở Bắc Kinh cũng một phen ra sức trông nom chính sự, khiến bách tính được dễ thở một chút, cũng từng xuất hiện cảnh “Khang Càn thịnh trị”, trong nước từng có độ yên ổn vô sự.
Thế nhưng, tới những năm cuối đời Thanh, tầng lớp thống trị phong kiến đã hết sức hủ bại, thù trong giặc ngoài liên tiếp nổi lên. Triều đình bên trong thì ra sức cướp bóc của cải, đè nén người dân một cách tàn khốc, bên ngoài thì cắt đất bồi thường, nhu nhược nhục nhã khiến nghĩa quân khắp nơi dựng cờ khởi nghĩa, thiên hạ đại loạn, trong đó, phong trào thái Bình Thiên Quốc duy trì được thời gian lâu nhất, quy mô lớn nhất, làm lung lay tận gốc rễ sự thống trị của vương triều Mãn Thanh.
Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc nổ ra từ vùng Việt tay, nhanh chóng lan ra quá nửa thiên hạ. Trong nước lâu nay vốn vô sự, giáp binh đều trễ nải, lực lượng quân sự của đế quốc Đại Thanh từ lâu đã không thể so được với hồi Bát Kì vào Quan Nội. Quân chính quy do “Bát Kì” và “Lục Doanh” hợp thành, đã lâu không tác chiến, cơ bản đã không thể ứng phó được với các trận đánh quy mô lớn, Hoàng đế đành phải ạh chiếu cho các quan lại địa phương chủ trì việc chiêu mộ lính dõng, xây dựng đội quân mới để chống giặc dẹp loạn.
Kỳ thực ra, trong thời kì trấn áp “Bạch Liên giáo” khi xưa, triều đình đã sớm, cảm thấy lực bất tòng tâm, vì vậy bắt đầu cho phép chiêu mộ lính dõng, dùng các lực lượng vũ trang địa phương do quan phủ khống chế thay thế cho quan binh đánh trận. Cuối đời Thanh, có khá nhiều cánh quân kiểu mới, nổi tiếng như “Tương quân”, “Hoài quân”, “Sở quân”…, đều là các toán lính dõng đồng hương. Đồng tộc, nên đánh thế nào cũng không chịu lui, chiến đấu rất ngoan cường,
Chỉ nói riêng về Mã Thiên Tích vốn chỉ là một tri phủ bé nhỏ, nhưng vì có công tổ chức quân đội, binh định giặc cướp nên mới được triều đình phá lệ cất nhắc làm tuần phủ. Lão chẳng những thông hiểu đạo làm quan, trong bụng càng có tài quân cơ thao lược, lại xuất thân từ một danh ngôn vọng tộc có gốc rễ bền ở địa phương,thực là có khả năng to lớn, bao trùm cả một vùng. Tuy nhiên, nếu đổi lại ở thời bình, không có chỗ dựa trong triều, thì dẫu cho có bản lĩnh thực thụ cũng không đủ để đảm đương chức vụ quan trọng, có được hoạn lộ thênh thang. Những người không có quan lại đỡ đầu trong triều Như Mã Thiên Tích thì cũng lắm được một chức vụ nhãi nhép gì đó ở Niết Ty hoặc Phiên ty. Chứ còn các chức to như Tuần phủ,. Tổng đốc thì đừng hòng mơ tới.
Đúng lúc ấy, Việt khấu nổi loạn, cơ hội trổ lại của Mã Thiên Tích cuối cùng cũng tới, lão liền đích thân tìm tới nhiều nàh buôn giàu có, phân tích sự lợi hại để họ xuất tiền, xuất lương, xuất trai tráng, tổ chức huấn luyện để trợ giúp quan quân giữ thành.
Những nhà buôn cự phú đó đều đã kinh doanh buôn bán nhiều đời, chỉ sợ Việt khấu tới phá hủy cơ nghiệp tổ tong, vì vậy đều không tiếc vốn liếng chi viện cho quan phủ. Những người mong muốn loàm lính ăn lương đã không ít, huống hồ lại có cờ chiêu mộ của quan gia. Chỉ cần có lương thực là có thể mau chóng chiêu mộ được một lượng lớn lính dõng.
Dựa vào thành Linh Châu lương thực sung túc vả lại tường thành kiên cố, địa thế hiểm yếu để ác chiến với Việt khấu mấy năm, đánh hàng chục trận lớn nhỏ, chẳng những chưa để mất thành trì mà còn khắc chế được mấy cánh chủ lực của quân giặc nên lính dõng Linh Châu đều dần trở thành một đạo quân mạnh mẽ, thiện chiến.
Hoàng thượng rất khen ngợi chiến công ấy, đặc cách thăng quan cho Mã Thiên Tích, để lão thống lĩnh quân chính sự vụ trong vùng. Nhưng, Mã Thiên Tích hiểu ra như lòng bàn tay rằng “được chim bẻ ná, được cá quăng cơm”, triều đình hứa hẹn ban thưởng “Hoa linh cài mũ” cũng chẳng qua là một lời hứa suông. Nếu muốn mưu cầu việc phong hầu phong tướng, cốt yêu phải dựa vào thực lực của chính mình, ngoài việc kết giao với đám quyền quý trong triều còn phải nhân cơ hội bình loạn trước mắt, ra sức mở rộng lực lượng binh lính. Dưới trướng càng có nhiều quân thì vốn liếng để thăng quan càng nhiều.
Chính vì vậy, trong tay Mã Thiên Tích, ngoài việc nắm giữ quân chiêu mộ bằng tiền của các thương gia, lão còn phủ dụ, chiêu an rất nhiều toán cướp cạn. cướp sông, đồng thời lợi dụng quan hệ, ngầm giao dịch với người Tây Dương, mua về rất nhiều hỏa khí của Tây, phòng thủ thành Linh Châu như tường đồng vách sắt.
Quân Thái Bình liên tiếp mấy lượt công phá thành nhưng gặp phải tường cao hào sâu nên đều chịu thất bại, lại thêm lương thảo trong quân không đủ, khó vây khốn được lâu. Nhưng lần này lại ào ạt kéo tới, có ý quyết chi chiếm bằng được, đợi đến lúc trời tờ mờ sáng, từng đội từng đội quân Thái Bình từ bốn phương tám hướng đều tề tựu lại, trước tiên cho bắn một đợt pháo đá, sau đó đại đội người ngựa cuốn trời rợp đất lao về phía tường thành.
Quân giữ thành Linh Châu đã sắn sàng giương cung tuốt kiếm đợi cả một đêm, thấy Việt Khấu kéo tới như ong, thanh thế cực lớn, tinh kì đầy nội, đao thương như rừng. Mặc dù vậy, lính dõng trong thành phần lớn đều đã trải trận mạc, lúc ấy đều không nôn nóng ứng chiến. Các doạnh đều cuốn cờ im trống, lẳng lặng nằm phục đằng sau bức tường, không nhúc nhích.
Dưới chân tành có ba con hào, hai bên hào đều cho cắm đầy cọc nhọn,. con hào ở giữa rộng nhất, bên trong đầy nước bẩn. Giữa các hào nước đều cho kết hàng rào nhọn lởm chởm để ngăn cản thế tấn công. Đội quân Thái Bình đi hàng đầu đã nhanh chóng áp sát trước hào, phải ngừng lại phá vỡ hàng rào và kiếm thang tre bắc cầu, trong khoảng khắc, vô số binh lính bị hào nước ngăn trở, gào thét ầm ầm, dồn lại một đống.
Lúc ấy, bỗng nghe trên đầu thành có tiếng mõ khua gấp, lính dõng phục trên bờ thành nhất tề hét lớn, chìa súng ống và pháo Phách Sơn ra ngoài. Lập tức khói súng mù mịt, đạn chì rào rạt, quân Thái Bình tập trung dưới thành bị bắn, máu thịt tung tóe, chen lấn, xô đẩy thành một đám hỗn loạn. Nhiều người rơi xuống hào, không bị chông chà đâm chết thì cũng bị chết chìm trong làn nước bẩn, số bịtrúng thương gãy chân, đứt tay càng không đếm xuể, máu đổ đầm đề, ngã xuống đất gào thét thảm thiết. Mặc dù vậy, quân Thái Bình lớp trước ngã, lớp sau lên, vẫn không thiết sống chết kéo đến ùn ùn, tấn công vào tường thành.
Quân thủ thành lập tức cho ném gạch, lăn gỗ. Những súc gỗ đều gắn mảnh đồng, đinh sắt, khi lăn xuống thì tạo thành một đường máu. Chỉ thấy xung quanh thành khói lang, tiếng pháo ầm ầm không dứt, cung cứng nỏ mạnh bắn ra như mưa gào gió giật, giết đến nỗi “thây chất tựa non khe hào chật, máu tuôn như suối đỏ nền trời”. Trận ác chiến kéo dài từ tờ mờ sáng đến giờ Ngọ, quân Thái Bình tử thương vô số, phải tạm thời dừng thế tấn công, bò lại mấy nghìn xác chết mà thu binh rút lui.
Mã đại nhân đứng trên thành, giơ ống nhòm lên để lượt traanhj, phát hiện thấy Việt khấu bại mà không loạn, ở vùng phụ cận tụ tập rất nhiều người ngựa để đóng doanh, hạ trại, bao vây thành Linh Châu tới giọt nước cũng không lọt, xem ra chúng định vây khốn lâu dìa. Trong lòng lão không khỏi ngầm lo âu.
Đề đốc Đồ hải nghe nói Việt khấu đã đại bại dưới chân thành, bị quan quân giết chết vô số, lập tức chỉnh đốn mũ giáp, lên mặt thành quan sát kết quả trận đánh. Lão nai nịt nhung phục đâu đấy, tiền hô hậu ủng đến mấy chục tên thân binh, ngoài gia còn có hai gia nô chuyên vác đại bao, đương nhiên từ xưa đến nay chưa ai từng thất Đề đốc đại nhân dùng đao bao giờ, chẳng qua chỉ là bố trí để thêm oai mà thôi. Khi lên đến đầu thành, vì bộ khôi giáp nặng trịch, hắn mệt bở hơi tai, thở ra hồng hộc.
Vừa nhìn thấy Đề đốc lão gia đến, Mã đại nhân vội sai mang ghế thái sư ra, mời Đề đốc Đồ Hỉa ngồi trên lầu thành để đốc trận. Đề đốc tướng quân thấy thi thể quân Thái Bình la liêt khắp nơi, trong lòng lấy làm đắc ý, liền chỉnh lại mũ khôi, mở miệng cười ha hả, nói với mọi người:” Đương kim Hoàng thượng của chúng ta anh minh thần vỗ thế nàu? Đám phản tặc làm loạn kia thật không biết tự lượng sức mình, chẳng khác nào đem trứng chọi với đá, cos thể làm được bao năm? Ta xem ra, không cần phải dùng đến đạiu quân của triều đình để tiêu trừ, chỉ càn vài trận thế này thì bọn thối tha chúng nó cũng đã bị chúng ta chém hết rồi”
Mã đại nhân vội phụ họa theo, trước tiên nói Hoàng thượng thật là chân long giáng trần, đúng là anh minh cái thế, thần võ vô song, lại khen Đề đốc Đồ Hải đúng là phúc tướng thủ hạ của Hoàng thượng, nhưng thực ra thâm tâm lão vốn không cho là thế. Tuy trận này đã giết và làm bị thương vô số Việt khấu nhưng để thắng được còn phải trải qua nhiều gian nan. Việt khấu hết sức hung bạo, giảo hoạt, nếu chúng đều chỉ đến tìm cái chết như đám sáng nay thì đã sớm bị quan quân quét sạch và trấn áp từ lâu rồi, chứ đâu đợi đến ngày nay. Theo kinh nghiệm trước đây, bọn bị giết dưới chân thành đều chỉ là những dân chạy loạn hoặc tù binh bị Việt khấu bắt được, còn chủ lực của quân địch thì vẫn chưa hề bị tổn thất, chỉ e trận ác chiến thực sự vẫn còn ở phía sau.
Đúng lúc ấy, có một toán quân Thái bình đến trước thành chửi bới, giở ra chiêu chiến tranh tâm lý thời xưa. Những câu mắng chửi không ngoài mấy chuyện: “yêu nghiệt nhà Thanh” đều là lũ yêu ma quỷ quái thành tinh trong hang sâu núi thẳm ở Quan Ngoại, chiếm cứ giang sơn của dân Hán, làm loạn Trung Hoa, lại bắt dân chúng gióc tóc, tết một cái đuôi chó lợn ở phía sau đầu,ai không gióc tóc thì chặt đầu, thật là chẳng còn thiên lý con bà gì. Bọn yêu nghiệt còn dám miệt thị thiên binh, Thiên tướng của Thiên triều chúng ta là giặc cướp mà không biết rằng từ thời cổ, khi Thương Hiệt tạo ra chữ vốn không có hai chữ “tạo phản”, tất cả đều là bọn quan lại ngụy tạo ra để lừa gạt bách tính, khiến dân chúng bị gạt và chịu sự khinh khi của chúng. Trước khi “yêu tặc nhà Thanh” chưa nhập Quan Nội, chả phải đã từng bị chúng ta chửi là Thát tử Mãn Châu sao? Khuyên cá người chớ phản lại lẽ trời mà giúp bọn hung bạo, làm nô tài cho triều địa Mãn Thanh, hãy mau chóng tỉnh ngộ, bắt trói hết quan lại tronmg thành dâng nộp trước trận tiền rồi theo Hông Thiên vương chúng ta giết hết yêu nghiệt nhà Thanh, cùng hưởng đời Thái bình thịnh trị.
Trong thành đã sớm có chuẩn bị, nghĩ sẵn những câu chửi từ trước, sai một toán lính dõng to mồm đấu khẩu bới Việt khấu, nào là bọn chúng aby là bọn thối tha phản nghịch chỉ biết tin vào cái gì “một ngang một dọc”; xưa nay không tuân theo tiên hiền cổ thánh, tên đầu đảng ngụy vương thì ăn mặc theo lối hòa thượng của Tây Dương chẳng qua chỉ là một tên bát tài vô tướng mà thôi. Vốn hứn chính là một con dân cảu quốc triều ta thế àm dám cả gan tiêm nhiễm, mê hoặc nhân tâm, lớn tiếng bảo là con cháu cảu thần tiên Tây Dương, đến tổ tông nhà mình cũng không nhận, bây giờ con dám giương mắt khoanh tay to mồm nói cái gì thiên đạo, kì thực ra có hiểu thiên đạo là gì đâu. Hôm nay bọn các người tử thương thê thảm, hẳn là đã nếm đủ thủ đoạn sấm sét của quan quân, sao còn phải chịu đau khổ đi làm những chuyện đại nghịch bất đạo như thế? Phải biết rằng quay đầu là bờ, khuyên các người chi bằng sớm cải tà quy chánh, mau bắt tất cả bọn ngụy vương, ngụy soái trói nộp trước thành, quan phủ niệm tình các ngươi nhất thời tin lầm vào lời yêu ngôn, nhất định sẽ không truy cứu,c òn thưởng tiền bạc để các ngươi quay về quê cũ, làm một người dân lương thiện, an phận thủ thường, bằng không đợi đến khi đại quân triều đình kéo đến, thiên uy giáng xuống thì các ngươi sẽ đều chịu tội tru di cửu tộc.
Song phương mới đầu có chủ ý khuyên hàn nhưng rốt cuộc chẳng ai nộp thành dâng tù, thành Linh Châu đã nhiều ngăn chặn quân Thái Bình. Trải qua nhiều trận ác chiến, hai bên đều có thương vong, đều hận quân địch đến tận xương tủy, đều hiểu, nếu mình rơi vào tay đối phương thì chẳng có gì hay ho, nhưng cứ mặc sức nói vung thiên hạ thì cũng chẳng chết ai
Chửi mắng đến đoạn sau thì lập tức biến thành một trận chửi bới với những lời lẽ thô tục, không kiêng kị hì nữa, hai bên đều vang những câu văng tục bẩn thịu nơi đầu đường xó chợ, nguyền rủa hết sức độc địa. Tới mãi khi mặt trời gác bóng đằng tây, trận chửi bới loạn tùng bậy, tao mòe mày chó đó nọ cũng còn chưa thôi. Mã đại nhân thấy trong lòng không yên, cứ có cảm giác Việt khấu tựa hồ che dấu hành động nàokhác. Lão liền dẫn mấy tên tùy tòng, tuần sát kĩ một vòng trên mặt thành, dặn dò các doanh phải cẩn thận đề phòng, chuẩn bị nhiều tên lửa, rồng lửa để phát hiện mọi vật từ xa, ngăn Việt khấu nhân trời tối àm lẻn tới cướp thành.
Chính vào lúc đó, Mã đại nhân chợt phát hiện dưới chân thành có điều dị thường. Lão quan sát thấy một mảng cây cỏ ở phía Nam thành lộ ra vẻ trơ trụi héo úa, nhưng nếu không phải người tinh ý và quan sát kĩ hì không dễ mà phát hiện ra được. Càng nhìn càng tấy kì quái, đột nhiên lão tỉnh ngộ ra, trong lòng sợ hãi kêu thầm:” Thiếu chút nữa bị che mắt, hóa ra trong quân Việt khấu có doanh quân đào hầm. Chắc từ tờ mờ sáng đã bắt đầu dòa rồi, định đào hầm đặt thuốc nổ làm sập tường thành, có lẽ chúng đợi đến khi trời tối sẽ phá thành. Lõa còn chư kịp nghĩ xong thì nghe thấy một tiếng nổ lớn long trời lở đấtm rung chuyển núi non, sập nàh đổ cửa
Thế mới là:’ Trời nghiêng đất lật bao giờ nhỉ; Hổ đấu rồng tranh áh chịu thôi?” Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:42 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:06 pm

Hồi thứ hai: Mây mù biến hóa.


Lại nói, xưa nay hai phía giao phong thì việc quân không ngại dối trá. Doanh lính đào hầm của quân Thái Bình nhân đêm hôm trước bắt đầu đào một đường hầm, rồi ban ngày nửa buổi đánh thành nửa buổi sai lính chửi mắng, chừng như dẫn dụ dân binh ra ngoài thành quyết chiến, kỳ thực ra, đó đều là động tác nghi binh. Trong bóng tối, quân Thái Bình đã âm thầm đaò được một đường hầm vừa sâu vừa rộng, vận chuyển vào trong một lượng lớn thuốc nổ, định bụng tới đêm sẽ châm ngòi nổ, phá hủy bức tường thành cao lớn, kiên cố của Linh Châu.
Nhưng, trong thành Linh Châu đã sớm có cao nhân xếp đặt, bố trí phòng vệ như tường đồng vách sắt, hơn nữa, biết quân Thái Bình quen dùng ngón đào hầm nổ thành nên đã có sự bố thành từ trước, chôn dưới chân thành có rất nhiều pháo Ngũ lôi khai hỏa. Quân Thái Bình không hề ngờ đến điều đó, quả nhiên có tên vô ý chạm nổ pháo ngầm khiến số lượng thuốc nổ vừa mới vận chuyển vào đường hầm phát nổ theo. Lập tức, hơn nghìn người bị nổ tan xác, những kẻ không bị nổ chết thì cũng bị đất đá chôn vùi trong lòng đất.
Cũng bởi lượng thuốc nổ trong đường hầm quá nhiều, uy lực khi phát nổ cực lớn, gây chấn động mạn, làm móng tành rung chuyển. Những căn nhà gần chân thành phía Nam đều bị đổ sập một dãy, đè chết rất nhiều quân dân Linh Châu.
Ngay lúc đó, quân Việt khấu đang tập kết ở phía ngoài cửa Nam nhân lúc quan giữ thành hỗn loạn, liền nổi trống điều động đại quân giơ khiên nặng tầng tầng lớp lớp, vác thang mây ào ạt tấn công tành Linh Châu.
Lính dõng giữ trên mặt thành vẫn dùng Phách sơn pháo, súng trường, súng phun lửa, tên nỏ, bình vôi, đá hộc, gỗ súc chống lại. Tuy nhiên, cánh quân Thái Bình này là quân tinh nhuệ trong các doanh cũ ở Việt tây, thân trải trăm trận từ Nam chí Bắc, chẳng phải toán binh lính ô hớp đánh thắng hồi sáng, đội quân này lấy thuẫn da khiên mây to nặng kết thành trận thế, che trân đầu kín bưng, mặt trên thuẫn bài phần lớn đều dát đồng lá, cản được loạt tên bắn, đạn súng, đá hộc như mào gió giật trút xuống từ trên thành.
Quan quân chỉ còn cách dùng Phách Sơn pháo và Hổ Tôn Cữu pháo để oanh kích, tuy sát thương được nhiều quân địch nhưng cánh quân thái Bình đó tiến đánh rất nhanh, tựa như từng đám gió lốc màu đỏ rực. toán tiên phong liều chết áp sát đến phía trước, dùng bao cát lấp đày các khe hào, đại quân phía sau lũ lượt vượt qua, đánh tới góc chết ở chân thành, nơi hỏa pháo không thể bắn tới, rời lập tức dựng thang mây, tranh nhau trèo lên mặt thành.
Cánh quân Tái Bình xung phong trèo lên mặt thành đều là những thiếu niên có thên thủ nhanh nhẹn chẳng kém gì loài vượn, khỏe mạnh, dẫu cho tên đạn tơi bời nhưng không hề sợ sệt, trèo thang lên mặt thành như đi trên đất bằng, chỉ cần lên đươc đến mặt thành là dùng binh khí ngắn hỗn chiến với đối pương, đến lcus ấy thì thành Linh Châu thất thủ là cái chắc.
Dưới chân thành có vô số tướng sĩ quân Thái Bình thấy cánh tiên phong trong phút chốc sẽ lên được mặt thành, đều cho rằng sắp sửa phá được, lập tức sĩ khí dâng cao, rút đao thương gioe lên như phát cuồng, hò hét:’ Vào thành giết hết Thanh yêu! Giết hết Thanh yêu hưởng thái bình!”Tiếng hô giết choc tựa như núi gầm biển động, nuốt chửng láy tất cả
Mã Thiên Tích tuy hiểu binh pháp nhưng không phải là một võ tướng, mới rồi bị tiếng nổ dưới lòng đất chần động làm người đờ đẫn ra, phải cậy mấy tên thân tùy dìu vào trong lầu thành, một lúc sau mới tỉnh táo trở lại. Lúc ấy, nghe phía đầu thành đang đại loạn, lão vội vã đứng dậy nhòm qua lỗ bắn tên nhìn ra ngoài, vừa nhìn thế trận đã iểu ra đội đánh thành toàn là quân tinh nhuệ của Việt khấu, lính dõng thành Linh Châu tuy đều dựa vào hỏa khí lợi hại để liều chết ác chiến với quân địch nhưng đã mất đi tiên cơ, sắp ngăn không nổi nữa.
Mã Thiên Tích đúng là một người có tài làm tướng, lâm nguy mà không loạn, vội vã hạ lệnh kéo một ngọn đèn lông đỏ lên trên lầu thành. Ngọn đèn lồng đó báo hiệu cho các doanh lính dõng dùng nước “thương thủy” để chống dịch, thật là:’ Nguyên soái màn trướng lập mưu; Tướng lính xung trận để liều lập công”
Linh Châu là thành cổ nghìn năm, là vùng đất xưa nay tranh đoạt, đằng sau tường thành đặt rất nhiều nơi giấu quân. Mã tuàn phủ từu sớm đã bố trí tráng dinh nấp trpng các chỗ đó để nổi lửa đót những nồi lớn, đun sôi hàng loạt nối nước “thương thủy”. Nước “thương thủy” được chế ra từ dầu nóng trộn với cứt đái và vôi bột nấu lên, đun đi đun lại nhiều lần.Lúc ấy các nồi “thương thủy” đang sôi sung sục được đổ vào các ống gỗ rồi cuyển từng ống từ tường thấp lên trên mặt thành, đổ vung từng ống một xuống phía dưới.
Khiên dầy thuẫn nặng tuy có thể ngăn được đá hộc, gỗ súc nhưng không thể ngăn được chất lỏng. Da thịt người chỉ cần bị dính thứ nước thương thủy nóng gỏng này là lập tức sưng phồng kên, mau chóng rữa nát, cho đến khi lộ ra xương cốt trắng hếu. Nếu tay chân bị bỏng còn may ra để người kế bên dùng đao, búa chặt đứt, kịp thời giữ được tính mạng, nhưng chỉ cần trên người, trên đầu bị dính một chút thì đến thần tiên giáng trần, Hoa Đà tái thế cũng không cứu được, thực là độc địa vô cùng
Quân giữ thành trút thương thủy sôi sung sục xuống, lập tức khiến vô số quân Thái Bình bỏng chết hoặc bị thương, những người đang trèo thang mây cũng gào thét thảm thiết ngã xuống phía dưới, quân lính dồn dưới chân thành cũng loạn cả thế trận, quân Thái Bình bị chết bởi thương thủy nhiều không đếm xuể. Cả đại đội người người đều phải rút về phía sau, lính dõng Linh Châu thừa cơ dùng hỏa khí oanh kích lại. khiến quân Thái Bình phải bỏ lại phía sau rất nhiều tử thi.
Mã đại nhân tuy ngoài mặt từ bi hỷ xả nhưng kỳ thực lòng lang dạ sói, am hiểm hiếu sát, thấy dưới chân thành xác chết chồng chất như núi, lão chẳng hề nhíu mày, chỉ hận rằng vất vả lắm mới phá tan được chủ lực của Việt kháu nhưng lại chẳng ccos đại đội quân nào ở ngoại vi để thừa cơ xông ra chém giết, bằng không nhất định có thể cất tay một trận mà tiêu diệt được cả, lập nên kỳ công bất hủ.
Tạm không nhắc đến việc quiaan thía Bình bị tan vỡ thảm thương dưới chân thành Linh Châu và quân dân trong thành chỉnh đốn giới bị ra sao, lại nói riêng về Trương Tiểu Biện bọc cái đầu chó Thần Ngao, từ Hoang Táng lính quay về lúc tờ mờ sáng, đúng lúc gặp phải Việt khấu đánh thành. Hắn thấy tình thế không ổn, vội vã co đầu rút đuôi nấp trong khe núi. Nghe tiếng gào thét giết choc rung trời từ phía thành Linh Châu, không rõ chiến cuộc ra sao, hắn không dám vọng động. Đợi mãi đến lúc hoàng hôn, thấy đại quân Thía Bình tan vỡ rút lui, tiếng pháo dần dần im bặt,hắn mới ngầm quay về thành trong đêm tối.
Sau cả một ngày trời kịch chiến, các cửa thành Linh Châu đều đóng chặt, Trương Tiểu Biện mò mẫm trong bóng đêm tới trước cửa thành, thấy tử thi dưới chân thành tầng tầng lớp lơp đè lên hau, kẻ trúng thương dính tên, người mất chân, cụt đầu, thủng bụng, sổ ruột…chết kiểu nào cũng có, ngay cả trong hào nước cũng lấp đầy xác chết, bọn lợn rừng, chuột rừng tranh nhau rỉa thịt. Hắn thấy vậy không khỏi kinh hãi, vỗi vã bắn một mũi tên gió lên trên lưng trời để người trên thành thả giỏ tre xuống tiếp ứng.
Tôn Đại Ma Tử vất vả chờ đợi trên thành đúng một ngày một đêm, toán công sai đã sớm bỏ chạy từu lâu. Cho dù lúc quân Thái Bình đánh thành kịch liệt nhất, gã vẫn trước sau ở lại trên thành, chỉ sợ bỏ lỡ mất tín hiệu của Trương Tiểu Biện. bấy giờ thấy trời đất tối đen, gã tưởng Trương Tiểu Biện đã bỏ mạng trong đám loạn quân, đang định tìm cớ ra ngoài tìm xác, bỗng nghe thấy tiếng tên xé gió, lập tức thả giỏ tre xuống kéo Trương Tiểu Biện lên. Giao tình của người đời phần lớn đều đặt chữ “lợi” lên hàng đầu, tiền bạc không nhiều thì tình cảm không bền, nếu không mưu đồ việc lợi lộc thì phần nhiều là loại kết giao đầu môi chót lưỡi, bạn bè rượu thịt. Thế nhưng, gã và Trương Tiểu Biện kết giao sinh tử từ trong hoạn nạn, khác hẳn tình bạn thông thường. Lúc ấy, cả hai cùng nhìn nhau, thấy máu me đầy mặt nhưng vẫn may mắn còn sống sót thì đều mừng rỡ khôn cùng.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử chỉnh đốn lại trang phục rồi cùng nhau đến bái kiến Tuần phủ MÃ đại nhân. Đại quân Việt khấu vừa rút quân xong liền thu thập giáp binh ngoài mấy chục dặm, nhưng vẫn tiếp tục vây thành Linh Châu. Mã đại nhân cũng không dám nghỉ ngơi, bận rộn kiểm điểm số thương vong và điều kiến lính dõng từ các nơi, nghe nói Trương Tiểu Biện từ Hoang Táng Lính trở về, chưa biết chuyến đio thành bại ra sao, vội truyền họ vào.
Trương Tiểu Biện hành lễ rồi mở tay nải trên lưng ra, cho mọi người nhìn thấy cái đầu chó, đồng thời đem hết câu chuyện ra kể qua một lượt. Hắn biết mình dẫu có mọc thêm lưỡi cũng không che mắt được Mã đại nhâ, không dám ba hoa nhiều, những chuyện trải qua lần này phần nhiều là sự thực, chỉ riêng về Lâm Trung Lão Quỷ thì hắn không đề cập đến một câu một chữ,
Bên trong sảnh đường đang tụ tập rất nhiều quan lại, đều đã tận mắt chứng kiến con Thần Ngao ở Hoang Táng lính hung dữ ra sao khi wor trên pháp trường hành hình Phan hòa thượng. Chẳng ngờ rốt cuộc, con chó dữ bị tên tiểu tử Trương Tiểu Biện một thân một mình giết chết, ai nấy đều không khỏi há hốc mồm, không dám tin đây lại là sự thực.
Chỉ có Mã đại nhân vui mừng ra mặt, lão vỗ tay khen ngợi, than phục thuật xem tướng mèo quả nhiên khác hẳn các thủ đoạn tầm thường, có thể khai khiến con mèo láy đèn trộm dầu làm cho con Thần Ngao mê man. Cách dùng mẹo thắng địch này, thực không phải dễ mà nghĩ ra được. Từ đó, lão càng nhìn Trương Tiểu Biện với một con mắt khác, lại bảo với mọi người cũng có một ví dụ: chuyện kể về một con cá ngao già ở biển, thấy biển trời mênh mông, liền khinh thường con ếch ở đáy giếng thấy trời to bằng cái vung. Nó lại không biết đâu rằng, con đại bang cánh vàng trước xa giá của Phật tổ chỉ cần cất cánh một cái là đã có thể bay tới tận chân trời góc bể. Thế mới nói, ngoài núi còn núi, ngoài trời có trời, đã là nước bể thì đấu đong không hết, người phàm không thể đoán biết được. Phải chăng, Hàn hầu, Mông Chính, những nhân vật lớn thời xưa, lúc đầu đều phải chịu cảnh nghèo đói, khốn khổ, do đóm chớ lấy mắt thịt người ytaanf ra mà so đo gốc tích của kẻ anh hùng.
Chúng quan đều vội rối rít khen ngợi, Trương Bái đầu đúng là cao nhân bất lộ trường, quả nhiên có bản lĩnh thực thụ, nhân tiện ca ngợi Mã đại nhân có huệ nhãn nhận ra anh hùng, có thể phân biệt được kì nhân dị sĩ trong thiên hạ, không câu nệ khi đề bạt nhân tài, bọn chúng tôi muốn theo cũng không kịp, Hôm nay, trước là đại phá Việt khấu, sau là trừ được đại họa cho thành Linh Châu, thực alf đáng vui, đáng mừng, thánh thượng mà biết ắt sẽ trọng dụng, xem ra Mã đại nhân sẽ nhận được đặc chỉ thăng chức trong nay mai.
Mã đại nhân khen ngợi Trương Tiểu Biện một hồi, thưởng cho rất nhiều tiền bạc, bảo hắn tạm về nghỉ ngơi. Trương Tiểu Biện rốt cuộc cũng trổ được tài nghệ trước mặt mọi người, tuy chưa phải quá nở mày nở mặt nhưng trong lòng cũng ngầm đắc ý, cho rằng mình đang là rồng khô gặp nước, cảnh tượng hưởng thụ sung sướng ắt chẳng còn bao xa nữa. Trương tam gia a sinh ra đã không phải là hàng phàm phu tục tử, nếu không khiến cao tính đại danh được truyền tụng mãi ở khắp làng xa thôn gần trong thiên hạ thì thật là không phải với bản thân. Cỏ nhân có câu rằng:” Phượng đậu cành ngô, rồng vẫy khe vực, vật đều có nơi, ai nấy riêng phúc”, Nào phải là điều vọng tưởng, nằm mơ giữa ban ngày?
Trương Tiểu Biện đắc ý, vui lòng nhận bạc thưởng, cùng Tôn Đại Ma Tử quay về nhà trọ, ăn thịt uống rượu no nê, rồi lăn ra ngủ không biết trời nam đất bắc thế nào, trong giấc mộng đẹp còn thấy mình một đêm được thăng quan phát tài. Đúng lúc hồn đang lơ lửng trên mây, trong mơ chỉ thấy trời cao đất rộng, thoáng đãng vô cùng, chợt bị hai tên công sai đến tận đàu giường kéo phắt dậy, nói là MÃ đại nhân muốn hắn mau chóng tới nghe lệnh,
Sô là, trong thành Linh Châu xuất hiện một việc lạ. Hồi đầu hôm, Việt khấu đã bị sập địa đạo ở ngoài thành, tuy tường thành chưa bị tổn hại nhưng phía Nam thành có mấy chỗ nhà cửa bị rung đổ, trong lúc dọn dẹp bãi đổ nát, xúc các ngói vỡ đá vụn ra, thấy ở mặt đất bị chấn động nứt ra một vệt lớn, mây mù trắng xóa từ bên trong không ngớt phun ra. Lúc đầu thì không thấy có điều gì lạ, nhưng càng lúc mù trăng càng dày đặc, ngưng tụ biến hóa, mãi mà không tan, dần dần tạo ra hình ảnh một tòa tháp cổ. Tuy chỉ có viền bên ngoài nhưng thấy rõ đó là một tòa tháp lục giác linh luing có mười sáu tầng mái, mỗi tầng đều rõ ràng dị thường, thậm chí những chỗ rường cột đổ nát cũng trông rõ mồn một.
Mù trắng hóa thành tòa tháp cổ cao chọc trời, lớn như tháp thật, chầm chập bay lên trên không trung rồi đứng im lơ lửng giữa trời. Lúc ấy mặt trời đã lên cao, trời quang mây tạnh, tầng không bốn phía xanh ngắ, chỉ duy có đám mây mù hình cái tháp là vẫn quần tụ không tan, đúng là kì lạ không để đâu cho hết. Những bậc hiểu rộng biết nhiều trong thành cũng không rõ là hiện tượng dị thường gì.
Ngay cả quân Thái Bình bên ngoài thành cũng trợn mắt há mồm nhìn, ai nấy đều đứng ngắm từ xa, trong lòng rất sợ hãi, còn tưởng là bọn yêu quái nhà Thanh trong thành giở tà thuật gì, đành phải tạm thời bỏ ý định đánh thành. Nhân tâm trong thành Linh Châu cũng hoảng hốt không yên, lời đồn đại lan truyền khắp nơi, có người bảo rằng do chấn động đã làm mở ra động yêu, phủ quỷ, có người bảo rằng đó là con mãng xà dưới đất nhả mù, mọi người bàn tán phân vân nhưng không ai dám đi xuống để thăm dò hư thực, còn có người hiến mưu kế với Tuần phủ đại nhân rằng, hình ảnh tòa tháp trên mây rất cổ quái, không biết điềm lành dữ thế nào, ắt căn nguyên xuất phát từu lòng đất. Trong đám công sai ở nha môn chúng ta có Tam ban Tứ khoái, trong đó có vị Trương bài đầu tài nghệ cao cường, mưu kế xuất chúng, vả lại học được dị thuật, nay nuôi quân ngàn ngày, dùng quân một giờ, sao không sai đi thăm dò đầu đuôi một chuyến.
Thật là :” Tìm kim đáy nước nên bơi xuống; Mở cửa biển sâu phải lặn ngay” Muốn biết sự thể thế nào, hạ hồi phân giải





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:43 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:07 pm


Hồi thứ 3: Vua của tháp cổ


Trước hết để mở đầu cho hồi này, có câu rằng:” Hiểu rộng sự đời chớ nói ra. Chỉ cần đầu gật với người ta. Nếu như đến mức đầu không gật. Yên ổn tiêu dao ắt chẳng xa” Nói về việc người ta phải chịu vô số phiền não, đau khổ trên đời, thực ra đều là tự mình chuốc lấy mà thôi, thế mới gọi là:” Thị phi cũng bởi lắm lời; Ưu phiền cũng tạo cố tòi mặt ra”. Vì vậy, xin được khuyên quý vị, cho dù trong lòng có biết nhiều hiểu rộng bao nhiêu cũng đừng dễ dàng trổ rõ ngón nghề trước mặt người khác, tránh rước vào những chuyện thị phi rắc rối vô cùng vô tận.
Cũng chỉ vì Trương Tiểu Biện bày kế giết chết con Thát tử khuyển ở Hoang Táng Lĩnh, khi trở về đã khuênh khoang, tự thổi phồng ngón nghề cao cường của mình trước mặt mọi người. Dù sao chăng nữa, hắn còn trẻ người non dạ, huyết khí phương cường, càng không biết đến quy củ chốn cửa quan, kết quả là tự đẩy mình vào nơi đầu sóng ngọn gió. Giờ đây, khi trong thành Linh Châu xuất hiện hiện tượng mây mù biến hóa lạ lùng, đương nhiên đám quan lại sẽ đẩy họ Trương nàh hắn đi thăm dò xem rốt cuộc là vật gì tác quái.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ngơ ngơ ngác ngác bị gọi đến cửa Nam, vẫn còn chưa rõ đã xảy ra chuyện cháy nhà chết người gì. Mã đại nhân gọi họ đến bên cạnh, chỉ ngay vào đám mây mù dày đặc trước mặt, đang kết thành hình tòa tháp cổ rồi nói rõ nguyên do.
Nghe nói, trong thành Linh CHâu mấy trăm năm trước từng có một tòa bảo tháp, hùng tráng nguy nga, cao vút mây xanh, được coi là vua của cổ tháp trong thiên hạ, trong tháo lại thường có yêu tinh ẩn nấp, thỉnh thoảng phát sinh ra những câu chuyện kì quái đến rợn người.
Trong đó, li kì nhất là những chuyện về kỳ quan”Hiện tháp”, đồn rằng cứ mỗi sáu mươi năm lại xuất hiện năm lần. Cách mười hai năm xung quanh thành Linh Châu lại nổi lên đám mù trắng, mặt trời chiếu vào sẽ hiện ra vô số hình ảnh cổ tháp. Trong mây những bóng tháp lớn nhỏ không giống nhau, biến hóa muôn vẻ, tòa trước vừa mới mờ dần đi thì tòa khác lại xuất iện ngay sau đó.
Thời gian xuất hiện bóng tháp lâu nhất cũng không quá nửa canh giờ, thường liên tục xuất hiện 64 tòa bảo tháp. Tương truyền rằng, đó là các tòa tháp ở khắp nơi trong vòng trăm dặm, hiện lên để triều kiến Tháp vương theo định kì.
Về sau, cổ tháp trong thành Linh Châu bị binh hỏa thiêu hủy, từ đó hiện tượng trên không còn tồn tại nữa, đến người dân bản địa cũng không mấy ai hay về truyền thuyết cũ này, Mã đại nhân là người thông hieur địa chí của nhiều địa phương, vì vậy mới biết hồi triều trước, đúng là có những hình tượng kì dị do ánh sáng tạo ra như thế, song mặc dù đã có ghi chép rõ ràng nhưng những lí luận được đề cập đến thì không đáng tin. Hiện tượng này giống như sự khúc xạ gây ảo giác. Vì tòa tháp vương quá cao đỗi, một lúc nào đó, ánh mặt trời phản chiếu bóng tháp cổ Linh Châu lên tầng mây, rồi tùy theo sự biến đổi của những đám mây quần tụ trên trời mà xuất hiện vô số bóng tháp biến hóa, sản sinh ra truyền thuyết về hiện tượng “Hiện tháp” kì lạ.
Những sự thể hiện giờ không hề giống xưa, hai hôm trước Việt Khấu đinh cho phá nổ thành nhwung không được, lại khiến nhà cửa mấy nơi trong thành liên tiếp bị rung đổ, đúng vào nơi có di tích cũ của tòa tháp vương khi xưa. Lòng đất dưới đống đổ nát bị nứt toác ra một khe hở, mù trắng bốc lên nghi ngút. Đám mây mù tựa hồ như có hình có chất, lơ lửng trên không rồi ngưng tụ, biến hóa thành hình dạng tòa tháp cao, hiện tượng lạ mãi không biến mất.
Mã Thiên Tích nói với Trương Tiểu Biện, tòa tháp cao làm bằng mây mù này có 16 tầng, hình dạng giống tòa tháp vương đã bị phá hủy thời xưa như 2 giọt nước, dường như tòa tháp cổ năm xưa như đang hiển linh vậy. Những chuyện lạ lùng này không thể lí giải được, khiến quân dân trong thành hoảng hốt. Trong khi lòng người lo sợ, lời ngoa truyền nổi lên rất nhiều, ba bè bẩy mối, bây giờ chính lúc Việt khấu bao vây tấn công thành, chỉ cần sơ suất một chút cũng không được, bản quan định tìm mấy hỏa hán nhanh tay tinh mắt, có đảm lược hơn người đi vào địa động dưới chân đám mây mù một chuyến để điều tra cho rõ ngọn nhành.
Trương Tiểu Biện nhanh nhảu tinh ý, không hiểu tới khi Mã đại nhân nói xong đã hiểu rõ sự tình, chuyện tới nước này, nếu từu nan thoái thác thì không phải, mình đi làm cũng không được, đợi đến khi bị MÃ đại nhân điểm mặt gọi tên, chẳng bằng Tam gia ta phen này làm một hảo hán, chủ động đứng ra. Vì vậy, hắn tiến lên phía trước nhận lênh.
Lần trước, trong Miêu Tiên từ, Trương Tiểu Biện gặp lại Lâm Trung Lão QUỷ lần thứ hai, được lão dạn dò rất nhiều chuyện. Lúc ấy, Lâm Trung Lão Quỷ từng bảo Trương Tiểu Biện muốn lên coa hay bay xa nhất định phỉa chịu mạo hiểm, thực hiện mấy việc lớn mà người thường không thể làm cho thành Linh Châu. Cái gọi là:” Vào sinh ra từ không gì khác, chỉ muốn thành danh nổi bốn phương”, chỉ khi nào có tiếng tăm mới có cơ hội phong hầu, phong tướng,chứ nếu cả đời cứ lo này lo nọm, có đầu rút đuôi, đi lên sợ cọp, quay về sợ beo thì vĩnh viễn sẽ chỉ là một thằng vô danh tiểu tốt àm thôi.
Những việc này đều can hệ đến chuyện thành bại, hưng suy, vinh hóa hú quý một đời của Trương Tiểu Biện. Chuyện thứ nhất là bắt giết con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh, đến nay đã làm xong, cái đầu có đã bị quan phủ cho treo suốt ngày đêm trên phố để thị chúng, còn việc thứ hai chính là việc liên quan đến tòa tháp vương, cũng là chuyện người thường không thể làm được, may thay Lâm trung Lão Quỷ đã vạch ra đại thể đường đi nước bước, việc còn lại thì còn phải dựa vào sức của hắn, tùy cơ hành động.
Trương Tiểu Biện liền bẩm báo với MÃ đại nhân, đại động tuôn ra mây mù trắng này đích xác là di chỉ cũ của ngôi chùa Tháp Vương ở Linh Châu trước đây. Cổ tháp đã bị tàn phá nhưng nền tháp vẫn còn trong lòng đất đến giờ, có điều dưới tòa tháp không phải là địa cung mà là một giếng nước rất sâu, đáy giếng có một cái Phong Vũ chung, là một cái chuông cổ đúc bằng đồng từ đời xưa. Mỗi khi mưa gió kéo đến, Phong Vũ chung liền tự ngân lên, thường rất linh nghiệm,. Hồi trước, cái chuông được đặt trong chàu để hưởng hương khói, về sau những tăng nhân trong chùa đã đem giấu vật này dưới đáy tháp để tránh nạn binh đao. Sự ngưng tị mù trắng hôm nay chính là hơi báu xông lên từ đáy giếng, không quá hai ngày sẽ tự động tan biến.
Mã đại nhân nghe thấy hết rất kinh ngạc, không bao giờ tưởng tượng một tên du đảng rỗi việc ở đầu đường xó chợ như Trương Tiểu Biện lại thông kim bác cổ đến thế. Theo sách vở chép lại, đúng là có một vật là Phong Vũ chung, nhưng tòa tháp đã bị hủy mấy trăm năm, nào ai biết có vật gì đang được giấu trong đáy giếng cổ ở đáy tháp.
Trương Tiểu Biện không dám nói là Lâm Trung Lão Quỷ đã tiết lộ thiên cơ, chỉ nói là hắn từu nhỏ đã chăm chỉ hiếu học, từng bái rất nhiều danh sư làm thầy, được cao nhân truyền thụ. Tục ngữ có câu:” Giếng đào ba lần ngọt nước; người được ba thày tài cao”, hắn chẳng những biết được thuật xem tướng mèo mà còn học được từ một vị đạo trưởng thuật tìm kho báu, thông hiểu lai lịch các loại báu vật trong thiên hạ và các ngón nghề lấy báu vật khác.
Mã đại nhân nghe lời lẽ của hắn không khỏi có chỗ ngôn quá kỳ thực. bán tín bán nghi, nhưng cũng thấy rõ phần xác đáng, chắc hắn có thủ đoạn để đối phó, lão ngoài mặt không lộ vẻ gì, chỉ hơi gật đầu khen rằng:” Trương Bài đầu đúng là một kỳ nhân vậy!” đoạn hỏi:” Ngươi có dám đem mấy thủ hạ xuống đáy giếng mò cái Phong Vũ chung lên cho bản quan được mởrộng tầm mắt không?”
Trương Tiểu Biện bẩm rằng:” Ân tướng có chỗ chưa biết đấy thôi, trong đáy giếng này còn có hai con cá chép bảy vàng, chuyên môn canh giữ Phong Vũ chung, không cho ai lại gần. Chúng sống lâu năm, đã có chút đạo hạnh, lính dõng tầm thường đi vào chỉ uổng mạng mà thôi. Tiểu nhân tuy bất tài nhưng nguyện cùng Tôn Bài đầu mang theo mấy chục con mèo khoang Linh Châu xuống đó. Liều một trận thập tử nhất sinh, nhất định tìm được cách lấy đươc Phong Vũ chung, sáng ngày mai sẽ dâng lên công đường của ân tướng”
Mã đại nhân nói:” Thật là can đảm! Nhưng bây giờ khác trước, đang là lúc dẹp giặc, trong quân không được nói đùa, nếu các người hoàn thành việc này, từ này về sau bản quan nhất định sẽ cất nhắc, trong dụng các ngươi” Nói đoạn, lão căn dặn một hồi, phái quân trấn giữ bốn phía không cho những kẻ rỗi việc lại gần, cất một toán lính dõng chuyên nghe Trương Bài đầu sai khiến, sau đó sai người đi tuần thị sự bố phòng trong thành.
Trương Tiểu Biện nói một tráng trước mặt mọi ngươi, nhưng thực chất trong lòng cũng chỉ nắm được dăm ba phần mà thôi. Nghe ý tứ trong lời nói của Mã địa nhân khác nào bắt mình lập một tờ quân lệnh trạng, làm được thì mọi sự tốt đẹp, bằng không thì mang đầu đến mà nộp. Tình thế đã như tên nắp trên dây cung, không còn đướng rút, chỉ còn cách cầu mong Miêu tiên gia hiển linh phù hộ để Trương Tam gia mã đáo thành công mà thôi.
Trương Tiểu Biện tìm mua một ít bánh trái, dắt vào người rồi đến thẳng Miru Tiên từ. Hắn và Tôn Đại Ma Tử vào đến trong miếu, khấu đầu mấy cái trước Miêu tiên gia, dâng hai nén nhang rồi ngồi dưới đất sửa soạn, chỉnh đốn một chút.
Tôn Đại Ma Tử phục Trương Tiểu Biện đơn thương độc mã đi lấy thủ cấp của con Thần Ngao sát đất, vừa mới rồi lại thấy hắn nhận công việc do Mã đai nhân sai phái, không biết đã có diệu kế gì. Trong lòng gã cứ thấy lạ lùng nhưng không dám đường đột nói ra, đến lúc đó mới hỏi cách hành sự thé nao. Có lời rằng:” Việc của quan, tham làm nhọc thân”, hạn trong một ngày một đêm lấy được Phong Vũ chung liệu có quá gấp háp không? Đangra nên từ từ thương nghị kế sách hoặc xin một thời hạn thong thả thì tốt hơn.
Trương Tểu Biện tuy trong lòng chưa có cách gì nhưng ngoài mặt vẫn loam bộ thản nhiên như chưa có chuyện gì xảy ra, cũng chửng nói rõ với Tôn Đại Ma tử mà chỉ ba hoa rằng” Nghĩ lại hồi trước, khi ở trong làng Kim Quan, đám ngu dân trong làng đâu cso xem ta ra gì? Chẳng qua hồi đó vì chúng ta còn nghèo khổ, bất đắc chí, âu cũng là việc thường của những hiền sĩ. Huynh đệ chúng ta mười năm mài kiếm, lưỡi gươm bén chưa từng thử lần nào, nay thời vận đã đến, hé mở một tương lai được tài làm khanh tướng, Trừ việc xoay chuyển trời đất ra, còn có việc làm mà không thể làm nổi? tề gia, trị quốc, bình thiên ha, tất cả nhwungx việc đó thì khỏi phải bàn”
Trương tiểu Biện liến thoắng một hồi, rồi bỏa là cần phải nghỉ ngơi dưỡng sức. Đoạn hắn ngả đầu đánh một giấc cho tới khi chập tối, lấy lại đầy đủ tinh thần cà sức lực, ăn chút lương khô lót dạ rồi nhổm dậy, mặc ý phục dạ hành Hắc Thiền của Miêu tiên gia vào người, đeo cái mặt nạ mèo lên đầu. Hắn bảo Tôn Đại Ma Tử cũng mau chóng thu dọn đồ nghề, mang theo các vật cần thiết như: dây thừng, gậy gộc, đèn đuốc…
Khi ấy trời đã tối đen như mực, bầy mèo hoang trong Miêu Tiền từ đã tụ tập càng lúc càng đông, con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu àm Trương Đại Ma Tử thường mang theo cũng lẫn lộn trong đám đó. Mèo khoang Linh Châu coi con Kim Ngọc Nô là thủ lĩnh, trừ những con mòe nhà tản mác trên các phố cá ngõ ra, còn lại hầu như đều tập trung hết ở đây. Chỉ thấy bầy mèo có con béo, con gầy, con cao, con thấp, dữ có, lành có, đẹp có, xấu có, con tham lam, con lười nhác, mèo đực, mèo cái, lớn bé đầy đủ, kiểu nào cũng có, nhất thời quan sát không hết.
Trương Tiểu Biện thuộc lòng “Miêu phổ”, thoạt nhìn đã biết bầy mèo hoang trong miếu phần lớn là loại mèo danh tiếng sản sinh ở Linh Châu, toàn là những con Trường Diện La Hán, Thiên Văn Tiền, Quả Kiều Kim, Bạc Nhĩ Tướng Quân, Tuyệt Kê Chủng, Viên Vĩ Hổ, Tảo Thượng Lãn, Thụy Thần Lô, Dạ Minh Đăng, Mao Chiên Tử… Tuy mỗi loại đều có hình dáng và tập tính riêng nhưng đều thuộc vào hàng mèo khoang cực quí.
Trương Tiểu Biện vái bầy mèo một cái rồi nói:” Tiểu nhân là Trương Tam, xưa nay rất sung bái Miêu tiên gia, hoom nay xin làm phiền các vị mèo ông mèo bà hãy bày trận mèo để giúp sức một phen. Sự tình rất quan trọng, rất mong các vị tri viện, giúp đỡ” Nói đoạn, hắn mọc trng bọc ra viên Hồ ky, xòe trên tay, giơ ra trước mặt con Kim Ngọc Nô cho nó nhìn. Ngọc Hồ ly thuộc dương, mắt mèo thuộc âm, đúng theo cái lý âm dương hút nhau. Bầy mèo khó tránh được sự tò mò trước vật này, liền nhao nhao bao vây xung quanh nhìn chằm chặp.
Trương Tiểu Biện thấy cơ hội đã đến, liền đưa mắt nháy Tôn Đại Ma Tử, trong tay cầm chắc viên ngọc nhảy qua vòng vây, rảo bước chạy về phía cổng thành. Bầy mèo hoang ngẩn ra một cái nhưng cũng đều muốn xem xem viên ngọc rốt cuộc là vật gì, liền chạy theo đuôi con Kim Ngọc Nô cầm đầu. Cả đoàn rồng rắn lên mây dài cả một con phố. Dưới ánh trăng trong lạnh lẽo, hàng trăm con mèo hoang cứ thế chầm chậm, chạy về phía giếng cổ của chùa Tháp Vương.
Thật đúng là:” Mới vào trong núi bắt thần khuyển; Lại xuống giếng sâu đánh chép vàng” Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau phân giải.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:44 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:07 pm


Hồi thứ tư

Phong Vũ Chung

“Trải bao thỏ lặn ác tà, khi xưa bể biếc nay là ruộng dâu.” Phàm là kẻ có bản lĩnh thì việc thăng tiến không ngoài ba con đường. Một là học được tài văn võ, bán thân cho đế vương, ra sức vì triều đình, mưu đồ một phen vinh thân phì gia, quan cao lộc hậu; hai là dựa vào nghề nghiệp của bản thân để nuôi sống gia đình, tuy rằng vất vả cực nhọc nhưng có thể sống yên ổn cả đời; ba là đi vào nơi rừng xanh núi đỏ, chỉ có thể làm những hành vi vô pháp vô thiên, lớn thì lấy vàng, bé thì cướp bạc, không lương thì cùng đói, có thịt thì cùng ăn, thế gọi là “chia vai tụ nghĩa”.
Nhưng không hiểu sao, nhiều người có tài nghệ cao cường, cả đời cố gắng phấn đấu mà rốt lại thì áo chẳng đủ che thân, cơm không đủ ấm bụng, phải sa vào cái cảnh không bằng được đám ngu dốt, bất tài? Tất cả cũng vì con người ta có cơ duyên, vận mệnh rất khác nhau mà thôi. Cái gọi là “tài cao phận mỏng, tài hèn số hên” tức là việc giàu sang hay nghèo hèn của mỗi con người, xưa này chỉ bàn đến số mệnh chứ không bàn đến tài năng. Dẫu cho anh có tài cao chí cả đến thế nào chăng nữa, nếu số mệnh của anh không cần đến nó thì rốt cuộc tài nghệ đó cũng không có đất thi triển.
Trương Tiểu Biện học thuật “Xem mèo” của Lâm Trung Lão Quỷ, vốn cho rằng chẳng qua chỉ là những tạp kỹ linh tinh như giả tiếng gà, ăn trộm chó mà thôi. Bọn mèo nhà, mèo hoang trong thành Linh Châu, con nào con nấy phàm ăn, lười nhác, đã không biết xây nhà lại không biết nấu cơm, lúc Tam gia ta chịu đói rét thì có thể hy vọng chúng giúp đỡ được trò trống gì? Nào ngờ đâu khi thời vận đã đến, cái “vô” cũng có thể biến ra cái “hữu”, tự nhiên gặp được cơ duyên trời cho, rốt cuộc hắn cũng phải dựa vào sự tương trợ của bầy mèo hoang Linh Châu để làm nên nhiều đại sự kinh thiên động địa. Đúng thực là: “Bảo mèo không có đạo? Đạo mèo thực có dòng. Có nhiều điều kỳ lạ. Xưa nay khó hình dung.”
Lại nói đêm ấy, trăng sáng vằng vặc trên trời, chiếu lung linh vạn dặm, trên dưới một màu bàng bạc, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử dẫn đàn mèo hoang, băng ngõ vượt phố đến thẳng di chỉ của chùa Tháp Vương. Lúc ấy, trong thành đã sớm ban lệnh giới nghiêm, nhà nào nhà nấy đống chặt cửa ngõ, đường phố lạnh không một bóng người, chỉ thi thoảng mới có mấy tốp lính dõng Linh Châu cắp đao thương đi tuần phòng, giới bị.
Trong đống đổ nát của nhà dân, mặt đất nứt ra một khe sâu, bên trong hơi mù dày đặc, từ ngoài nhìn vào không thể biết nông sâu ra sao, bốn phía đã có một toán lính dõng canh chừng, tất cả đều cầm đèn lồng, giơ đuốc sáng. Trương Tiểu Biện lấy của họ hai ngọn đèn lồng rồi cùng với Tôn Đại Ma Tử, mỗi người cầm một ngọn trong tay, dẫn đàn mèo hoang chui thẳng vào đám khói mây mù mịt.
Chỗ này mấy trăm năm trước từng là nền móng phía dưới của tòa tháp cao, lòng đất vẫn còn thấy được nhiều gạch đá, đất nện, nơi sâu nhất có ẩn một miệng giếng sâu. Do nền tháp đã bị toác ra nên không cần phải ròng dây mới xuống được dưới giếng, hai người mò mẫm trong đống gạch ngói đổ nát để đi xuống phía dưới, thấy khí âm lạnh lẽo ẩm ướt càng lúc càng dày, trên tường giếng chỗ nào cũng nghi ngút hơi nước.
Giếng cổ trong chùa Tháp Vương miệng bé nhưng lòng rộng, đáy giếng là một cái động đá thiên nhiên, đối diện với lòng giếng là một đầm nước sâu khôn lường. Nguyên là các khe vực trong thiên hạ được chia thành “ba mươi sáu mạch, bảy mươi hai mắt”, đều nói về các đầm, giếng, khe, suối cực sâu cực thâm u. Giếng cổ này chính là một trong số đó, phía Tây giáp với hồ Động Đình tám trăm dặm, phía Đông liền với biển lớn mênh mông.
Từ hồi xưa, chừng vào đời Đường, trong phạm vi mấy trăm dặm của thành Linh Châu thường có tai họa xuất hiện, không phải là hạn khô đồng ruộng, thì cũng là lũ lụt tràn ngập, mười năm thì đến chin năm có thiên tai khiến cho thóc lúa đắt đỏ, người dân hết đường sống. Triều đình cho rằng, chắc chắn trong giếng cổ nghìn năm của thành Linh Châu có một con rồng già tác yêu tác quái, vì vậy mới mời một vị cao tăng tới trấn yểm, đồng thời hạ chỉ xâu một ngôi chùa lên trên. Vì vậy, người ta mới xây một tòa tháp cao, sơn son thếp vàng lên trên miệng giếng, lại cho hương khói thờ một cái “Phong Vũ chung” để cầu cho mưa thuận gió hòa.
Cái chuông này có thể biết trước gió mưa, mù tạnh, là báu vật trấn chùa trong chùa Tháp Vương. Tương truyền, khi Đại Vũ trị thủy, đã được nhiều quỷ thần trợ giúp. Có lần đang khơi thông đường sông trong núi sâu, gặp phải một trận mây mù kín trời, giữa ban ngày mà xòe bàn tay không thấy ngón, bỗng may thay, có một con lợn rừng to mồm ngậm viên mình châu chạy lại dẫn đường, đồng thời, miệng không ngừng hút mây mù đang nghi ngút xung quanh, Vũ vương nhờ thế mới dẫn đầu mọi người khơi thông được dòng nước trong mây mù. Kỳ thực ra, viên mình châu đó chính là một viên Huỳnh Quang Khoáng Thạch hiếm có, có thể nuốt được mây mưa. Phong Vũ chung có khảm vật này vào, nên vào ngày thường phía trên chùa Tháp Vương vẫn xuất hiện các cảnh tượng mây núi kỳ lạ.
Có câu rằng: “Cảnh đẹp thì khó được lâu; Lưu ly dễ vỡ, mây mầu chóng tan.” Về sau này, mỗi lần thay đổi triều đại, đao binh dấy lên khắp nơi, thành Linh Châu cũng không tránh được sự tàn phá của ngọn lửa chiến tranh. Các cao tăng trong chùa Tháp Vương sợ Phong Vũ chung bị hủy trong loạn lạc mới ngầm giấu trong giếng cổ dưới chân Tháp Vương, lại sợ có kẻ tới trộm bảo vật liền xích cái chuông đồng đó vào hai con “Đà ngư”.
Đà ngư không phải là động vật ở Trung Thổ mà vốn là một loài lưỡng thê lạ do một vị tăng nhân người Ấn Độ mang từ nước Bà La Cam Tư đến. Loài này tuổi thọ còn hơn cả rùa, chúng có hình dáng giống như một con cá chép vảy vàng, trên lưng có mai cứng như giáp, ở dưới nước thì mạnh mẽ vô cùng. Nếu có kẻ nào tơ tưởng đến việc lấy trộm Phong Vũ chung thì một là bị bọn Đà ngư giết chết ăn thịt dưới nước, hai là làm chúng sợ, kéo cái chuông đồng lặn sâu xuống đáy nước thì mấy chục năm đến cả trăm năm cũng không xuất hiện nữa.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mò đến cạnh đầm nước, giơ đèn lồng rọi ra bốn phía, chỉ thấy làn nước phẳng lặng như gương cũng không rộng lắm nhưng lớn hơn miệng giếng thường rất nhiều, ước khoảng bằng bốn cái bàn Bát tiên ghép lại. Trên mặt nước có từng đợt mù trắng nghi ngút bốc lên, càng lên cao thì càng tỏa rộng, xung quanh đầm nước và đáy giếng thì lại không có chút khói mù nào. Trên vách giếng và trong động có vô số pho tượng Phật bằng đá, to nhỏ khác nhau, pháp tướng thiên biến vạn hóa, tư thế rất trang nghiêm.
Đàn mèo do con Kim Ngọc Nô dẫn đầu cũng nối gót nhau kéo đến. Cả ngày, chúng đều lang thang khắp thành Linh Châu, từ hang cùng ngõ hẻm đến phủ to nhà lớn, “giữa cột đồi mồi, trên lầu uyên ương, bên trong gác son, đằng sau rèm lụa, trong thành, ngoài thành”, chẳng chỗ nào mà chúng không quen thuộc, nhưng xưa nay chưa bao giờ từng xuống đến giếng cổ này cả. Thấy cảnh đá nước lạ lẫm trong hang động dưới đáy giếng, chúng đều rất tò mo, tụ tập lại một chỗ giương to hai mắt, nhìn ngó bốn phía.
Trương Tiểu Biện chỉ vào chỗ có mù trắng bốc lên rồi nói với Tôn Đại Ma Tử: “Chỗ nước đó chính là nơi giấu Phong Vũ chung, nếu có cách lấy được vật này thì lo gì chẳng đổi được chức quan cao lộc hậu, có Hoa linh cài mũ…”
Tôn Đại Ma Tử kinh ngạc, nói: “Ta hỏi này Trương Tam, chuyện bí mật thế này đệ nghe được từ đâu mà lại nắm tường tận như thế? Hơn nữa, Phong Vũ chung là bảo vật tối quan trọng của Linh Châu, xưa nay nắm giữ việc điều hòa mưa gió trong vòng trăm dặm, chúng ta sao dám mạo muội làm kinh động đến nó? Chẳng lẽ ngươi lại gặp phải lão quỷ trong mộ Kim quan rồi ư? Chớ quên rằng chúng ta đã bị rước họa vào thân ở Hòe viên lần trước,cứ thế mà suy, chớ tin vào lời yêu ngôn của lão ta. Đối với chúng ta, lão vị tất đã có bụng tử tế gì.”
Trương Tiểu Biện thuận miệng lấp liếm: “Mộ Kim quan là một ngôi mộ hoang, lấy đâu ra lão quỷ nào? Tam gia ta được truyền dạy thuật xem mèo và tìm của, chẳng qua cao nhân không lộ tướng, mà lộ tướng thì chẳng phải cao nhân đấy thôi. Chính vì vậy, từ xưa đến nay chưa bao giờ thi triển ngón nghề trong làng Kim quan. Tới giờ, Phong Vũ chung dưới đáy giếng ngưng tụ mây mù, hiển hiện ra hình dạng tòa tháp, khiến cho lòng quân dân toàn thành không yên, huynh đệ chúng ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn được?” Lại nói tiếp rằng, cái Phong Vũ chung chôn giấu trong giếng cổ chẳng qua chỉ là một cổ vật có khả năng kết tụ mây mù, sao có thể quản được việc điều hòa mưa gió? Linh Châu của chúng ra từ xưa mèo nhiều cúng bái cũng nhiều, những thứ như: chùa Tháp Vương, Kim Quan thôn, Long vương miếu, Miêu Tiên từ…nhiều không đếm xuể, người dân cúng hết thần tiên, phật thánh của chín mươi chín tầng trời, nhưng hễ năm nào gặp phải thiên tai thì hạn hán vẫn hoàn hạn hán,lụt lội vẫn hoàn lụt lội, Phong Vũ chung nào đã phát huy được tác dụng gì? Nếu không phải năm đó, Miêu Tiên Đàm đạo nhân diệt trừ được con “hỏa trùng” thì thành Linh Châu sao có được cảnh phồn hoa như ngày hôm nay? Chính vì vậy mà mới nói, mọi sự vật trong gầm trời này xưa nay đều là “bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” mà thôi, nếu người đời chẳng làm những việc có đức thì dẫu cho có bảo vật cũng không linh nghiệm.
Tôn Đại Ma Tử là người thẳng đuột ruột ngựa, nghe xong thì ngẩn ra mãi mới nói: “Việc này”, rồi lại nghĩ ngợi một lát, rốt cuộc cũng lờ mờ hiểu ra liền gật đầu nói: “Ờ… quả là có lý, mỗ chỉ là một thất phu lỗ mãng, không chịu đất, không chịu trời, nhưng nói về mặt không ngoan, cơ trí thì còn kém Tam đệ một bậc. Theo Tam đệ, chuyện này nên xử lý thế nào?”
Trương Tiểu Biện nói: “Đầm nước dưới đáy giếng sâu tới mức thông ra đến biển, bên trong lại có cá già thành tinh, nếu cứ mạo hiểm xông xuống, chỉ e bị con thủy quái lôi đến tận Long cung bắt làm con rể Long vương mà thôi. Nghe đồn, Long nữ không phải là một cô nương hoa nhường nguyệt thẹn gì đâu, mà cô nào cô nấy xấu như ma lem. Nếu đúng là như thế thì Tam gia ta chẳng thèm. May mà chúng ta đã dụ con Kim Ngọc Nô đến dưới giếng cổ chùa Tháp Vương này, huynh đệ chúng ta chỉ cần nấp một bên đợi, làm kế ngao cò tranh đấu, ngư ông đắc lợi là được. Hãy xem đàn mèo hoang giở trò gì.”
Tôn Đại Ma Tử không hiểu nổi, mấy con mèo hoang thì làm được trò trống gì. Gã bán tín bán nghi, đành phải nhẫn nhịn cùng Trương Tiểu Biện trèo vào trong một cái bệ Phật trên vách giếng, giơ hai ngọn đèn lồng soi sáng một vùng đầm nước lạnh lẽo yên ắng, thật đúng là: “Rãi xong lớp thính thơm phưng phức, chờ đợi con mồi đến đớp câu.”
Lại nói về mèo hoang Linh Châu thích nhất là cá tanh, từ xưa đã có thói quen đứng cạnh mép nước để xem cá. Hơn nữa, mấy năm gần đây, vùng này thiên tai dịch họa liên miên, chẳng mấy người đến Miêu Tiên từ để cúng dường cá tươi, đến cá ươn tôm vụn bọn mèo cũng còn khó thấy. Lúc ấy, thấy dưới đáy giếng có cá bơi, bọn chúng đều muốn mon men đến sát lại để nhìn cho bõ thèm.
Nào ngờ, khi bọn mèo hoang vừa đến sát mép đầm thì bọt nước đột nhiên tung lên, từ bên trong lao vọt ra một cái đầu cá to. Hình dạng con cá rất kỳ lạ, vẩy bạc sáng lòa, con mắt như một cái bát lớn khiến lũ mèo hoang cả kinh thất sắc, vội vã tản ra tứ phía ẩn nấp. Trong đó, có một con “Táo Thượng Lãn” là đần độn nhất, tuy may không bị kéo xuống nước nhưng vì nấp chậm nửa bước, nên bị con quái ngư hất một cái bắn tung ra ngoài, rơi xuống đống tượng Phật. Con mèo lười bị gãy một chân, kêu gào thảm thiết.
Con Đà ngư ngày thường ăn cá, ếch, rùa, rắn trong đầm, rất giỏi lôi chó hoang, mèo hoang xuống nước ăn thịt, lúc ấy tấn công không trúng, cũng là việc nằm ngoài định liệu, nó liền ẩn xuống đáy nước nằm phục, không động đậy.
Bầy mèo hoang Linh Châu nếm mùi lợi hại, không dám mon men đến gần mép nước nữa, chỉ có con Kim Ngọc Nô toàn thân vằn vện dẫn mèo hoang lớn nhỏ đến xem xét tình hình của cái chân gãy của con Táo Thượng Lãn kia, tỏ vẻ thương xót. Bọn mèo thấy đồng bọn bị thương thì đều tức giận, không chịu bỏ qua chuyện này.
Bầy mèo hoang gừ gào to nhỏ tựa như đang bàn luận một hồi, con mèo Táo Thượng Lãn liền lê cái chân khoèo, cà nhắc từng bước đi về một phía vách giếng rồi dán chặt người vào đó, cũng không biết nó dùng cách nào, chỉ thấy nó dựa vào đá nhảy nhảy mấy cái, tuy đau tới mức kêu ngao ngao ầm lên nhưng rốt cuộc cũng nối được chỗ xương gãy.
Đám mèo hoang còn lại thấy xương chân của con Táo Thượng Lãn không còn đáng ngại, liền chia nhau chạy ra ngoài giếng, trong chớp mắt bỏ đi sạch sẽ. Trương Tiểu Biện cũng không rõ bọn chúng rốt cuộc đang định làm gì, đành phải cùng Tôn Đại Ma Tử chờ trong lòng giếng mất hơn một canh giờ. Đang nghĩ bụng bọn mèo hoang chắc đã một đi không trở lại, bỗng thấy đàn mèo mang về một con mèo già to béo dị thường. Con mèo già đó béo kinh khủng, e nặng đến mấy chục cân, khắp mình lông lá bờm xờm, che kín cả tai, mũi và hai mắt, lại bẩn thỉu lem luốc, hễ đụng nhẹ một cái là chấy rận rơi lộp bộp, điệu bộ cũng hết sức chậm chạp.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ngầm ngạc nhiên, chẳng hiểu bầy mèo hoang mời đâu ra vị “quan gia” này, tuy nhiên, Trương Tiểu Biện có thuật xem tướng mèo, hiểu rằng, chớ tưởng lầm nó chỉ là một con mèo già bẩn thỉu bờm xờm. Râu và lông của nó đều dài, lông có hai màu vằn trắng, râu chia thành hai màu vàng đen, đầu thì tròn, vuốt thì ngắn, thân hình béo mập như một cái hồ lô, xuống nước không chìm. Đó chính là một loại mèo cổ từ thời Tùy, Đường, người đời gọi là “ Độ thủy hồ lô miêu”, là một loại mèo không tầm thường, có xuất xứ kỳ lạ vô đối, nếu mà nói ra thì đúng là: “Tự cổ chí kim chưa chắc có; Tạo trời mở đất một mà thôi.” Muốn biết sự thể ra sao, hạ hồi phân giải.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:44 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:08 pm


Hồi thứ năm: Độ thủy hồ lô miêu


Thường có câu rất hay rằng:” Năm ngón tay trên một bàn tay cso ngón ngắn ngón dài” Câu đó để hình dung về con người trong khắp thiên hạ, tuy đều có một đầu đặt trên hai vai nhưng nếu đem so sánh với nhau thì xấu đẹp, thiện ác, cao thấy, gầy béo, văn tài võ nghệ, khác nhau nhiều lắm, không thể đánh đồng tất cả được.
Người thế nào thì mèo thế ấy, giả dụ như con mèo giỏi bắt chuột cũng giống như người biết ha miệng ăn cơm, đều là những tập tính bẩm sinh, không có gì lạ lắm. Mèo nhà, mèo hoang trong thiên hạ, ngoài việc biết bắt chuojt trèo cây ra tùy vào phẩm cấp, chủng loại khác nhau sẽ có các năng lực muôn màu muôn vẻ, làm sao có thể nhất nhất đánh đồng được?
Chính vì vậy có loại mèo giỏi bắt chuột giữ nhà, có loại mèo chuyên môn ăn vụng bắt sẻ, ngoài ra chúng còn có rất nhiều năng lực kì lạ, ít nghe thấy khác, không thể kể hết trong sách được. Trong hồi này nói riêng về những năm giữa đời Tùy và đời Đường. Đường Vương là Lý Thế Dân dẫ quân đánh đông dẹp bắc, một hôm một mình một ngựa đi do thám trại giặc, kết quả là lộ hành tung bị đại đội quân giặc truy sát, bỏ chạy đến bờ Hoàng Hà. Chạy vào đường cùng, sắp sửa bị bắt sống, nhưng ông ta là Chân long Thiên tử, có được thần linh phù trợ, trong lúc nguy cấp ngàn cân treo sợi tóc ấy, nống thấy trên sông Hoàng Hà có một con mèo khoang giống như cái hồ lô, dập dềnh trên sông, theo dòng nước từ thượng nguồn trôi xuống.
Lý Thế Dân vội vã nhảy xuống nước, hai tay nắm chặt vào đuôi con mèo, quẫy đạp để sang bờ bên kia, thoát khỏi sự truy kích cảu quân địch. Chuyện này về sau, ngay cả ông ta cũng cảm thấy kì quái, trên đời sao lại có con mèo biết bơi, liền đem ra hỏi đám bộ hạ. Có một người tên là Từ Mậu Công, là kỳ nhân hiểu rộng biết nhiều, trước tiên nói chúa công:” là người có hồng phúc, tự nhiên trời sẽ phù hộ”, sau đó mới nói về loài:” Độ thủy hồ lô miêu”
Loại Hồ lô miêu này tuy bảo là mèo nhưng kỳ thực không phải mèo. Vóc dáng của chúng to lớn hơn mèo thường nhiều, đáng ra nên xếp riêng ra 1 loại “ Ly miêu” ở trong núi sâu. Người chúng có dáng tròn, lông dài, đuôi dài, tính khí khác thường, có thể bơi lặn qua sông lớn, bắt cá tôm dưới nước để ăn, có thể bảy ngày bảy đêm không ngoi lên bờ.
Bọn mèo hoang trong thành Linh Châu gặp phải vận đèn trong miếu cổ của chùa Tháp Vương, nếu ngày thường thì chúng cũng gập đắng nuốt cay cho qua vì không biết bơi, bắt cá. Tuy nhiên, con Kim lân Đà ngư trong đầm sâu lại là mọt loài trăn quý của nước Bà La Cam Tư, nếu có thể ăn thịt nó có thể kéo dài tuổi thọ. Bầy mèo hoang ngửi thấy mùi tanh đời nào chịu thôi, liền quyết định phải ăn bằng được hai con Đà ngư dưới đáy giếng này.
Bầy mèo hoang thấy con Đà ngư dưới nước rất lợi hại, chắc hẳn khó lòng đối phó. Con Kim Ngọc Nô đầu đàn hết sức khôn ngoan lắm mẹo, cũng không rõ chúng đã bàn bạc tính toán thế nào, rốt cuộc tìm một con Độ thủy lô miêu về giúp đỡ.
Chỉ thấy con Hồ lô miêu nọ lê tấm thân lờ đờ chậm chạp, lắc la lắc lư đi đến bên bờ đầm nước. Nó không trực tiếp bơi xuống mà tìm một chỗ hết sức tối và ẩm, dùng móng vuốt bới gạch đá trên mặt đất đi. Dưới đáy giếng ẩm thấp lâu năm có rất nhiều loại côn trùng độc như nhện, rết,…béo múp, đèn đỏ lốm đốm, độc đại vô cùng, thấy bị mất nơi ẩn nấp, chúng liền nhao nhao chạy ra, tranh nhau cắn chích con Độ thủy hồ lô miêu to mập.
Con Hồ lô miêu thịt thô da dày, chịu được chất kịch độc. Bị bọn rết và bọ cạp cắn chúng, toàn thân nó từ đầu đến đuôi đều sưng phồng lên, nhưng những con trùng kia phun hết nọc độc cũng lăn đùng ra, giãy giụa rồi chết ở xung quanh. Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử ở bên cạnh xem mà cả người nổi da gà,
Con hồ lô miêu bẩn thỉu thu hết nọc độc, thấy cũng đủ rồi liền phì phò bò đến bờ đầm, nhúng cái đuôi mèo dài thượt xuống nước. Toàn bộ uy lực của loài mèo nằm ở đuôi, vượt tường trèo cây đều do cái đuôi quạt gió giữ thăng bằng. Có nhiều nàh giàu chỉ nuôi mèo làm cảnh, chẳng cần chúng bắt chuột, để đề phòng chúng chạy chơi khắp nơi, liền cố ý cắt phứt cái đuôi mèo đi, con mèo lập tức biến thành một con vật ngoan ngoãn dễ bảo, chẳng làm nên trò trống gì được nữa.
Đuôi của con Độ thủy hồ lô miêu chia làm chín đốt. Xét theo miêu phổ thì lông đuôi mèo quý ở chỗ dài, đốt đuôi thì quý ở chỗ ngắn, lại nói thêm, cái đuôi mèo càng dài và tấn suất vẫy đuôi càng cao thì con mèo đó càng nhanh nhẹn, có thể bắt chuột không biết mệt mỏi. Nhưng cái đuôi của con Hồ lô miêu này thì vừa thô vừa tròn, là đuôi của con mèo vừa lười nhác vừa ham ngủ, lúc xuống dưới nước thì nổi phập phềnh như một cái thuyền.
Hai con Kim Lân Đà ngư canh giữ Phong Vũ chung đều đã có chút đạo hạn, những lưới cá, câu thính thông thường đều không qua được mắt chúng. Bỗng trông thấy cái đuôi mèo trên mặt nước, chúng không rõ ruốt cuộc là vật gì, dường như hơi giống với rắn nước nhưng lại chậm chạp hơn một chút, nếu bảo là cỏ nước thì sao lại có mùi tanh kì lạ như thế?
Cặp Đà ngư tuy rất nghi ngờ những không kìm được sự thèm thuồng liền rẽ nước bới đến gần, há miệng đớp đuôi con Độ thủy hồ lô miêu. Con Hò lô miêu vừa bị trùng chích đốt tơi bời nên da thịt toàn thân đều có chất độc. Trên mình Đà ngư cũng có bảy túi độc, khi trúng độc thì theo phản ứng tự nhiên cũng dồn nọc độc ra để chứ ngự trở lại. Hai con Đà ngư đớp chặt cái đuôi mèo không chịu buông, chẳng bao lâu sau đã nhả hết chất độc trong người. Đà ngư ăn tươi nuốt sống nhện nước, rắn nước kịch độc, tính khí toàn thân đều nằm cả ở đó, bây giờ nhả hết nọc độc ra, lập tức mình mẩy mềm nhũn, thoát lực, quẫy độc không nổi nữa.
Con Hồ lô miêu nhân cơ hội, vẫn sức kéo đuôi, lôi hai con đà ngư lên trên bờ. Những con mèo hoang khác, mắt vằn đỏ, gào lên rồi lại nhao lại bao quanh bốn phía. Hai con Đà ngư biết mình đã rơi vào vòng nguy hiểm, vội dùng hết sức lực cuối cùng, quẫy đầu vẫy đuôi định trốn xuống nước, nhưng sợi xích trên chúng đã bị thân hình con Hồ lô miêu to béo đè chặt xuống, đúng là” lợn béo đã vào nhà đồ tể; chui nhầm tử lộ trốn sao đang”, đành mặc cho đám mèo hoang lóc sạch từng mảnh vây cá, để lộ ra mỡ thịt khắp mình dầm dề máu đỏ.
Bọn mèo hoang Linh Châu như gió cuốn mây tan, ăn thịt hai con Kim Lân Đà ngư một trận sung sướng, quả nhiên mùi thịt tươi rất ngon. Bầy mèo hoang con nào con nấy rất thỏa mãn, hài lòng, sớm đã quên phắt viên ngọc kỳ quái. Đoạn chúng kêu meo meo mấy tiếng, lặc lè tiền hô hậu ủng, đưa con Kim Ngọc Nô và con Đọ thủy hồ lô miêu ra ngoài.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử vọt ra khỏi chỗ nấp sau tượng Phật đá, tìm dây xích từ trong đám xương vụn của hai con cá chết, cùng hợp sức kéo chầm chậm đưa Phong Vũ chung lên bờ. Cái chuông đồng dài xấp xỉ một thước, toàn thân màu xanh lục, chỗ gỉ loang lổ màu đỏ của chu sa, thủy ngân, trên thân chuông đúc nhiều hoa văn hình dị thú, cá rồng, song nước, từ bên trong nhà ra từng đường khói mù mong mỏng giống như mây lành bao bọc.
Trương Tiểu Biện dùng đốt ngón tay gõ thử, thấy tiếng vang trong trẻo, hơi lạnh, biết đúng là một bảo vật, trong lòng rất mừng rỡ, cười ha hả, nói với Tôn Đại Ma Tử:” Quả nhiên là trọng bảo của Linh Châu khiến người ta phải lóa mắt. Lần này đều do Miêu tiên gia phù hộ cho ta mới gặp được cơ duyên này, hay là gói ghém Phong Vũ chung rồi rời khỏi thành bỏ chạy, nửa quãng đời còn lại sẽ khỏi pải lo cơm ăn áo mặc?’
Tôn Đại Ma tử bội vã khuyên rằng:” Tam đệ chớ nảy sinh tà niệm, vật báu này đâu phải là vật để người tầm thường cất giữ? Chi bằng mau dâng nộp quan phủ thì cũng alf công lao của huynh đệ ngươi rồi”
Phàm là việc xử thế của con người đều không được có tư tâm, nếu tư tâm đã nổi lên thì sẽ làm những việc bất chấp hậu quả về sau, may àm đang lúc thiên hạ hỗn loạn, thuế má nặng nề, chẳng ai cịu bỏ tiền ra mua cái chuông cổ đó, chính vì vậy, Trương Tiểu Biện mới bỏ qua cái ý định đen tối này. Hắn lại nghĩ, cần học hỏi cho thật thuần thục việc xem tướng mèo thì việc thu thập báu vật lạ trong thiên hạ dễ như lấy đồ vật trong túi. Trương thiếu gia có khí độ của tể tướng, tầm nhìn hà tất chịu bó ngọn trong cái pHong Vũ chung này.
Lúc chiếc chuông đồng rời khỏi mặt nước thì đám mù trắng phun ra từ miệng giếng dần dần tan biến rồi tích tụ toàn bộ trên không trung, biến thành một đám mây đén. Toàn thành lập tức mù mịt, sấm nổ ầm ầm không dứt nhưng có hạt mưa nào, chỉ che khuất trăng sao àm thôi. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử cho gọi toán lính dõng Linh Châu ở phía trên xuống nghe lệnh, sai chúng gói Phong vũ chung lại, rồi trực tiếp mang về giao cho Tuần phủ Mã đại nhân xử trí.
Đám lính dõng đều là người quê Linh Châu mấy ngày nay chính mắt thấy Trương Tiểu Biện liên tiếp lập chiến công. Trương Tiểu Biện lại chuyên nghề khoe khoang, nói tráng giang đại hải một hồi, chuyện bé bằng hạt vừng qua lời hắn cũng trở thành chuyện kinh thiên đồng địa, nghiêng sông dốc biển, thêm vào đó là miệng lưới trơn tuột, lời tuôn như suối, những việc vụn vặt không tên bỗng trở nên hoành tráng, rõ mồm một. tất cả đám lính dõng và công sai đều phục hắn sát đất, cũng khen ngợi Trương Bài đầu quả là có tài nghệ cao cường, kỳ tài đại lược đó ắt sẽ được trọng dụng, sau này nhất định sẽ được triều đình đề bạt, khen thưởng, đến lúc ấy xin chớ quên chiếu cố đến tụi huynh đệ này.
Vừa đi vừa nói đã đến trước cổng của phủ Mã đại nhân. Tuy đương lúc nửa đêm, nhưng Việt khấu đang vây thành rất gấp, toàn thành đang phòng bị nghiêm ngặt, mã đại nân trong lòng cũng rất lo âu, nửa đêm không thể ngủ yên, vừa được tin báo đã lập tức dặn đưa Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đến hậu đường gặp mặt.
Cô ả tiểu Phượng làm Mã phủ rốt cuộc cũng có được mấy ngày yên ổn, thấy Trương Tiểu Biện và tôn Đại Ma Tử đều được làm chức bà đầu Bổ khoái trong nhâ môn Linh Châu, liền mừng thay cho ca rhai. Nhưng cô ả thấy Mã đại nhân đang vội vã hỏi han nên không thể đi tới trò chuyện được, đành phải khép nép đứng hầu một bên.
Mã Thiên tích xem qua cái Phong Vũ chung, rồi liếc mắt nhìn Trương Tiểu Biện, thật chẳng ngờ người này lại có thể làm việc đắc lực đến thế, chuyện khó tày trời mà xem như không, vì vậy, lão cũng không giấu giếm nữa, đèm sự tình kể cho Trương Tiểu Biện avf Tôn Đại Ma Tử rằng:” Đối với bản quan thì Phong Vũ chung này vô dụng, nhưng quan Đề đốc trấn thủ Linh Châu Phú Sát Đồ Hải thì đang rất mong có được nó. Người này xuất thân từ Thượng Tam Kì, phe cánh gia tộc giải rác khắp triều đình, đáng gọi là người có nền tảng có thế lực. Ông ta đi nhậm chức ở đây, mang theo toàn bộ gia quyến vào ở trong thành. Lão Đồ hải có một co con gái, cưng triều như ngọc quý trên tay, vì vậy mới co tên là Phú Sát Minh CHâu, hiện nay tuổi mới mười sáu, xinh như hoa như ngọc, đẹp nổi tiếng một vùng. Đáng tiếc là từ khi tới Linh Châu, nó sinh ra chứng bệnh lạ, thầy thuốc khắp nơi không chữa được. Nghe nói có một danh y đã kê một bí phương, cần có được Phong Vũ chung hứng nước mưa, sau đó đun sôi rồi mang ra tắm mới có thể thuyên giảm. Đương vất vả tìm khắp nơi, may mà hôm nay các ngươi đã mò được vật này dưới đáy giếng cổ chùa Tháp Vương lên, lão Đồ hải biết được chắc chắn sẽ trọng thưởng hậu tạ, đến lúc đó bản quan sẽ nhân cơ hội đề cử các ngươi”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vội vã bái tạ, chỉ có điều Trương Tiểu Biện trong đầu lại có toan tính khác. Trong Miêu Tiên từ, Lâm trung Lão Quỷ đã mách cho hắn mấy việc lớn, nếu đều thực hiện thành công thì tự nhiên sẽ được thăng quan tiến chức. Mây việc đó, một là đến Hoang táng Lĩnh giết con Thần Ngao, hai là dẫn bầy mèo vào giếng cổ chùa Tháp Vương mò Phong Vũ chung lên. Những sự việc đó, cứ liên tiếp diễn ra, chúng đều có mối liên hệ với nhau. Con việc thứ ba chính là phải bắt được giáo chủ Bạch Tháp chân nhân của tà giáo Tạo Súc.
Vì vậy, Trương Tiểu Biện bẩm báo MÃ đại nhân, căn bệnh lạ của Phú Sát Minh Châu tiểu thư không phải dùng thuốc mà chữa được, nó có căn nguyên từ yêu nghiệt đang ẩn nấp trong Đề đốc phủ, nếu không sớm diệt trừ tận gốc, chỉ e gây hậu họa khôn cùng.
Đúng thật là:” Hai tay xé toạc lưới kim tuyến; lôi hẳn ra ngoài chuyện thị phi” muốn rõ sự thể thế nào, hãy xem hồi sau sẽ rõ.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:45 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:09 pm


Hồi thứ sáu:
NĂM CHUYỆN LẠ TRONG PHỦ


Nói đến đoạn Trương Tiểu Biện lấy được đầu con Thần Ngao, lại vớt được Phong Vũ chung từ trong giếng cổ của chùa Tháp Vương, tự cho rằng đắc kế nên hết sức tin tưởng vào lời nói của Lâm Trung Lão Quỷ, tiếp đến, hấn định bụng quét sạch đám giáo đồ Tạo Súc đang ẩn nấp trong thành Linh Châu. Nếu đại sự thành công thì thời khắc lên ông này ông nọ không còn xa nữa.
Lúc ấy, tuy đại quân Việt khấu đang bao vây thành nhưng việc phòng thủ của thành Linh Châu cực kỳ nghiêm ngặt, trong thành binh nhiều lương đủ, dẫu cho Việt khấu đào hào để vây khốn thì cũng đủ giữ vững được trong vòng sáu tháng một năm. Hơn nữa, hỏa khí của lính dõng và quan quân Linh Châu cực kỳ lợi hại, nếu Việt khấu đem quân tới đánh thành cũng chẳng khác nào lấy trứng chọi với đá, thiêu thân bay vào lửa, tự chui đầu vào rọ, vì vậy cũng không đáng lo lắm.
Chỉ có duy nhất một điều khiến Mã đại nhân lo lắng không yên, đó là đám yêu tà Tạo Súc đang ẩn nấp trong thành. Bọn người này hành tung bí ẩn, đang thèm đến rỏ dãi đống tiền bạc trong công khố, thêm vào đó, quan phủ vừa mới đem tên hòa thượng Chuột ra lăng trì tùng xẻo chắc bọn tặc tử đang ngoài vòng pháp luật kia không khỏi oán hận trong lòng, hẳn sẽ chớp cơ hội báo thù. Bầy chó hoang ở Hoang Táng lĩnh làm loạn pháp trường chắc hẳn là chịu sự khống chế của thuật Tạo Súc nên mới có mưu đồ hành thích mệnh quan triều đình. Xem ra, ngày nào chưa diệt trừ tận gốc đám này thì quân dân, quan lại trong thành sẽ không được ăn ngon ngủ yên, việc này liên quan đến sự chấn chỉnh lại đại cục nên hết sức cần kíp.
Giờ đây, Mã Thiên Tích coi bản lĩnh của Trương Tiểu Biện là một chỗ dựa vững chắc như trường thành, hết sức tin tưởng, nhưng sự tình dắt dây rất lớn, không thể không hỏi han cho kỹ lưỡng. Trương Tiểu Biện hiện tại đã đầy đủ tự tin, dựa vào hiểu biết của mình cũng đủ để ứng đối như thường , nói là học được thuật gia truyền, biết rất nhiều tài nghệ, lại nhờ ơn lão đại nhân xem trọng nên mới hết lòng hết sức, nguyện kết cỏ ngậm vành để báo đáp. Mấy hôm nay không từ vất vả, nguy nan để thám thính, nghe ngóng kỹ lưỡng khắp nơi, rốt cuộc đã khám phá ra một số đầu mối.
Số là yêu nghiệt Tạo Súc chuyên ăn tim người, óc người, lấy cương thi, bào thai chết làm thuốc uống. Bọn người này đều bái tháp cổ làm tổ sư, giáo chủ hiện tại lấy đạo hiệu là “Bạch Tháp chân nhân”, đã không xuất đầu lộ diện nhiều năm nay, không rõ được lai lịch tục gia của hắn, càng chẳng ai biết tướng mạo hắn ra sao.
Kỳ thực, trước đây Lâm Trung Lão quỷ đã bảo Trương Tiểu Biện rằng, Bạch Tháp chân nhân đó hiện đang náu mình trong phủ Đề đốc, phải mang Phong Vũ chung đến buộc hắn hiện thân, tuy nhiên nguồn cơn cụ thể ra sao thì chẳng hề nói câu nào, đến lúc đó phải tùy cơ hành sự. Trương Tiểu Biện đành viện khống rất nhiều chứng cớ, lại định đem đầu của mình ra để đảm bảo, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thấy không nên đẩy sự việc căng hết cỡ như giương cung như thế, vạn nhất xảy ra việc ngoài dự liệu thì cái đầu của Trương Tam gia chằng phải đi tong hay sao?
Chính vì vậy, hắn chỉ nói rằng đã ngầm tìm hiểu được tung tích, phát hiện tên Bạch Tháp chân nhân đó chắc chắn đang lẩn trốn trong phủ Đề đốc Đồ Hải. Bắn người nên bắn ngựa, bắt giặc trước bắt vua, chỉ cần bắt được tên yêu đạo đầu sỏ này thì lo gì không giăng được một mẻ lưới bắt sạch bộ đồ tử, đồ tôn của hắn.
Mã Thiên Tích nghĩ bụng, lão Đồ Hãi tuy quyền cao chức trọng nhưng là một kẻ vô dụng giá áo túi cơm, ta không thể lúc nào cũng dung dưỡng, cung phụng hắn như thế. Hơn nữa, thành Linh Châu ở nơi trời thì cao, Hoàng đế thì xa, trên thực tế bản quan muốn thế nào thì được thế ấy. Bây giờ chiến cuộc đang lúc khẩn trương, việc tiêu trừ Bạch Tháp chân nhân không được để bỏ lỡ, thà giết làm còn hơn bỏ sót, không nên do dự quá nhiều.
Mã đại nhân đã cương quyết làm, liền điều động rất nhiều lính dõng, ngầm bao vây chặt mấy vòng xung quanh phủ Đề đốc, đồng thời dặn dò kỹ, bất luận từ bên trong có người nào đi ra, thậm chí chỉ là một con chuột hay con sẻ vọt ra, đều nhất loạt giết chết không bàn, sau đó lão cùng Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma tử và mấy tên tùy tùng, đương đêm mang Phong Vũ chung vào cầu kiến Đề đốc Đồ Hải.
Đề đốc Đồ Hải tuy là một võ quan nhưng quen thói ăn sung mặc sướng, một là không biết cưỡi ngựa, hai là không biết bắn tên, từ khi Việt khấu đến đánh thành, mỗi buổi tối đều phải nấp dưới hầm mới ngủ được. Lúc ấy, lão đang ôm hai tiểu thiếp ngủ, ngáy như sấm, nghe báo có Mã đại nhân đang đêm tới cầu kiến, Đề đốc Đồ Hải cho rằng có chuyện trọng đại gì đó phát sinh, liền hoảng hốt bật dậy, ra sảnh trước để tiếp.
Đề đốc Đồ Hải tuy là quý tộc Bát Kỳ nhưng trong khi làm việc công thì lão nhất nhất đều nghe theo lời Mã Thiên Tích, còn công lao giữ thành giết giặc, Mã Thiên Tích đều tự xếp mình dưới tên lão, khiến lão sướng như một vị chưởng quầy cả ngày chỉ xoa tay đếm tiền. Hôm nay thấy Mã đại nhân đang đêm đến tìm, chắc hẳn vì một chuyện cực kỳ gấp gáp, vì vậy, lão không dám chậm trễ chút nào.
Chủ khách hai bên chào hỏi đâu đấy, Mã Thiên Tích không trực tiếp nói thẳng là đến bắt nghịch tặc, vì dẫu sao một khi chuyện Bạch Tháp chân nhân ẩn náu trong phủ Đề đốc truyền ra ngoài cũng sẽ chẳng hay ho gì, chỉ nói rằng,: “Hai vị Bài đầu đã mõ được Phong Vũ chung từ trong giếng cổ lên, hạ quan nghe nói tiểu thư Minh Châu bị nhiễm bệnh, đang cần vật này để hứng nước mưa làm thuốc dẫn, vì vậy nôn nóng cùng thuộc hạ đến đây để dâng vào phủ. Đang đêm làm phiên, mong tướng quân thứ tội cho.”
Đồ Hải nghe thấy cả mừng, cảm tạ rối rít rồi nói: “Mã huynh thực là khách khí quá, cứ coi như người nhà, xưng hô huynh đệ với nhau thôi, sao phải thượng quan, hạ quan là gì.” Đoạn, lão sai quản gia nhận cái Phong Vũ chung, rồi dặn bày tiệc thết đãi Mã đại nhân và Trương, Tôn hai vị Bài đầu.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử lớn ngần này tuổi mà chưa từng được ăn một bữa yến tiệc nào ra trò, huống hồ là lại cùng ăn với thượng quan. Tuy việc chuẩn bị yến tiệc lúc nửa đêm khá đột ngột nhưng khi bày ra trên bàn, hai người thấy đều là những sơn hào hải vị chưa từng trông qua bao giờ. Thật đúng là “người nghèo nhặt được của, hàn sĩ đến của tiên”, thế là đã thịnh soạn lắm rồi, hai người cắm đầu cắm cổ đánh chén, những chuyện khác gác lại một chỗ.
Mã Thiên Tích nhân cơ hội cùng Đề đốc Đồ Hải hàn huyên, hai người nâng ly cụng chén, lúc đầu là nói một số việc quân, sau đó mới vòng câu chuyện sang chứng bệnh của tiểu thư Minh Châu. Đồ Hải xuất thân là võ tướng, bản tính thô lỗ, không coi trọng những lễ giáo truyền thống của người Hán, hơn nữa tửu lượng không cao, mới có ba chén rượu vào bụng đã đem chuyện ra kể vanh vách.
Lão lớn tuổi mà không có con trai nên coi tiểu thư Minh Châu như bảo bối, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Từ khi lão tới Linh Châu nhậm chức thì trong nhà không được yên ổn, người nhà hay bị mắc bệnh lạ kéo dài, trong phủ Đề đốc toàn xảy ra những chuyện kỳ quái, không ít hòa thượng, đạo sĩ tới xem đều không rõ nguyên nhân tại sao, ngay cả việc đi cúng bái trước thần vị của Miêu Tiên gia cho hợp lệ nhập gia tùy tục cũng chẳng có tác dụng gì. Lão nghĩ nhà này chắc có ma, đang tính từ từ sẽ chuyển sang một phủ đệ khác.
Mã đại nhân ngạc nhiên hỏi:” Lạ thật! Phủ Đề đốc trước đây là chốn đất vượng, chưa từng nghe nói có ma bao giờ, không rõ trong phủ có việc lạ lùng gì?”
Đề đốc Đồ Hải nói: “ Có năm chuyện kỳ lạ gây phiền phức trong nhà, một là phủ Đề đốc tuy có một khuôn viên rộng lớn, trước sau chia thành ba lớp, hai bên đều có một dãy nhà, trên dưới hơn một trăm giam phòng, nhưng xưa nay không có lấy một con sẻ, con quạ nào xuất hiện, chẳng những trên cây không có tổ chim mà vùng trời phía trên phủ đệ cũng tuyệt chẳng có con chim nào bay qua. Mèo hoang trong thành Linh Châu nhiều như thế nhưng riêng xung quanh phủ Đề đốc thì lại chẳng có con nào đến.”
Mã đại nhân thấy kỳ lạ nhưng ngoài miệng vẫn nói: ” Có lẽ chúng không dám phạn đến oai hùm của Đề đốc, cái đó cũng không lấy làm lạ lắm.”
Đề đốc Đồ Hải toét miệng cười ha hả, tự giễu mình: “Lão có mà oai hùm rắm chó thì có. Việc này không coi là lạ cũng không sao, việc thứ hai còn quái dị hơn nữa, ban ngày ban mặt mà nói ra cũng còn phải sởn tóc gáy. Số là mỗi lần có mây đen, mưa xuống, ở tiền đường của phủ Đề đốc sẽ xuất hiện bóng dáng một người con gái, mưa càng to thì hình ảnh càng rõ, đến khi mưa tạnh thì biến mất.”
“Việc thứ ba là ở gian bếp, vào những đêm sao thưa trăng nhạt, nhiều người nhìn thấy trong phòng có một vật đem sì ẩn hiện. Vật đó không có đầu đuôi, tay chân, toàn thân ướt át, to như cái cối xay. Việc thứ tư là ở sau nhà luôn nghe thấy có tiếng gõ cửa rất gấp nhưng khi mở cửa thì bên ngoài nửa bóng ma cũng không thấy, cuối cùng thấy phiền nhiễu quá phải xây bịt hẳn cửa lại, nhưng nửa đêm về sáng, tiếng gõ cửa vẫn y nguyên.”
“Việc thứ năm là một bệnh lạ. Rất nhiều người khi nằm ngủ đều nghe thấy tiếng người nói rì rầm trong phòng, thanh âm như đang niệm kinh, niệm chú, nhưng trong phòng lúc đó ngoài mình ra chẳng có một người nào khác, tình trạng giống như bị bóng đè vậy, y đạo thì gọi là chứng mất hồn. Con gái Minh Châu của ta bị quấy nhiễu rất nhiều nên đêm này cứ phấp phỏng lo âu suốt.”
Đề đốc Đồ Hải than thở: “Bây giờ đang phải ra sức cố thủ Linh Châu, muốn chuyển nhà cũng chưa có nơi nào thích hợp. May là trong đám bổ khoái ở nha môn có người tài, tìm được Phong Vũ chung thì chứng mất hồn của người trong phủ Đề đốc chắc sớm muộn cũng sẽ trị khỏi.”
Mã đại nhân nói: “ Những việc này quả nhiên đều rất kỳ lạ, nếu không tra xét đầu đuôi ngọn ngành thì Đề đốc đại nhân làm sao có thể yên tâm ra sức vì triều đình được? có điều cũng không đáng ngại, huynh đệ đây đã biết được chuyện này nhất định sẽ tìm ra phương cách để chia sẻ nỗi lo âu cho Đồ Hải lão ca.”
Đề đốc Đồ Hải thấy rằng, Mã đại nhân chỉ là một quan văn, tuy thông hiểu mưu lược, binh pháp nhưng lại là ngoại đạo đối với phương thuật trấn trạch trừ ma. Lão không tin lắm, lắc đầu nói: “Mã huynh tuy tài cao nhưng việc này đâu có dễ.”
Mã đại nhân có lòng tiến cử Trương Tiểu Biện, liền nói với Đề đốc Đồ Hải rằng: “ Trong bổ khoái của nha môn bản quan có Trương, Tôn hai vị Bài đầu, đều là những người tài trí, có dũng, có tài nghệ cao cường. Trương Bài đầu đã được cao nhân truyền thụ, thông hiểu thuật xem tướng mèo và thuật tìm của báu, lại rất hiểu biết về phong vật của các địa phương. Tôn Bài đầu thì khỏe mạnh hơn người, giỏi việc bắt bớ, chém giết. Việc tiêu diệt con Thần Ngao ở Hoang Táng lĩnh và việc vớt vật báu Phong Vũ chung trong giếng cổ của chùa Tháp Vương phần lớp đều phải dựa vào sức hai người này.”
Đề đốc Đồ Hải liếc mắt nhìn ngó Trương Tiểu Biện và Tôm Đại Ma Tử, cất giọng nửa tin nửa ngờ, hỏi: “Hai tên tiểu tử này thực có bản lĩnh như vậy sao? Nếu quả thế thật, các ngươi có thể điều tra ra vì sao trong phủ của ta lại có nhìu quái sự như thế không?”
Mã đại nhân ra hiệu cho Trương Tiểu Biện tiến lên nói rõ đầu đuôi sự việc. Trương Tiểu Biện vội lấy ống tay áo quệt mỡ trên mép, trong lòng sớm đã có sự chuẩn bị, liền đem năm sự lạ trong phủ Đề đốc nói rõ ràng từng việc một. Thành Linh Châu là thành cổ nghìn năm, đã trải qua rất nhiều triều đại, lại là chốn địa linh nhân kiệt, chính vì vậy di tích cổ xưa còn lại rất nhiều. Trời mưa mà thấy ở tiền đường xuất hiện bóng người con gái là do có người triều trước đã chôn xuống lòng đất một củ nhân sâm già đã thành hình.
Trong đáy chum nước ở gian bếp hiện đang đè một con ngao già, mỗi khi trăng sáng nó lại nhả khí đen, còn tiếng động lạ ở cửa sau là vì cái then của tác quái. Súc gỗ là then cửa vốn là rễ của cây quế già vạn năm. Cây quế gặp khí âm thì rung động vì vậy mới xuất hiện tình trạng lạ như thế. Trong phủ không có chim chóc, mèo hoang nào qua lại cũng đều do chúng sợ mấy thứ đó mà ra. Nay, có thể đem then cửa ra là củi nhóm lò, lấy Phong Vũ chung làm nồi ninh nhừ củ nhân sâm và thịt con ngao cho tất cả mọi người trong phủ uống thì có thể an thần, áp kinh và phủ Đề đốc sẽ không bao giờ xuất hiện những sự lạ đó nữa.
Đề đốc Đồ Hải thấy Trương Tiểu Biện nói việc nào cũng có lý, bất giác tin quá nửa, vội vã sai quản gia làm đúng như thế, quả nhiên khớp với từng lời, nhưng vẫn còn một quái sự chưa hóa giải là vì sao?
Trương Tiểu Biện nói: “ Xin thứ cho tiểu nhân to gan, nghe thấy tiếng người mà không thấy bóng người, chính là vì trong phủ Đề đốc có Bạch Tháp chân nhân đang ẩn náu. Nếu không sớm lôi hắn ra, chỉ e về sau thành hậu hoạn khó lường.” Nói đoạn, hắn liền chỉ rõ các chỗ nguy hại của tà thuật Tạo Súc.
Đề đốc Đồ Hải nghe thấy thế, sợ tới mức tan gần hết hơi men đến sáu phần, nhưng gia bộc, thân quyến trong phủ toàn người đi theo từ Bắc Kinh đến đây, đã theo mình nhiều năm, xưa nay chưa từng phát hiện ra trong số đó có tên đạo sĩ nào, thế thì yên đạo nọ rốt cuộc ẩn nấp ở đâu? Chẳng lẽ hắn mai danh ẩn tích, thay đổi dung mạo hay sao? Nếu đúng là thần không biết, quỷ không hay như thế, không rõ hắn có âm mưu gì, chỉ e bản Đề đốc đang ngủ sẽ bị người ta cắt cái đầu đi mất. Lão càng nghĩ càng thấy sợ, vội vã truyền tất cả mọi người đến để điểm danh, không phân cao thấy sang hèn, có một người thì tính một người, tất cả đều phải tập trung đến sân sau ngay lập tức.
Đang lúc đêm khuya giấc nồng, người nhà trong phủ Đề đốc quá nửa đang nằm ngủ, đương không bị gọi đến vườn sau, ai nấy đều phấp phổng không yên, nhưng đã có lệnh của chủ nhân thì ai dám oán hận. Chẳng quá thời gian uống cạn chén trà, toàn phủ trên dưới hơn một trăm người đã tề tựu đông đủ. Trong phủ đèn đuốc sáng trưng, im bặt không một tiếng động.
Mã đại nhân đã thương nghị mọi việc với Đề đốc Đồ Hải, chuyện bắt Bạch Tháp chân nhân trong phủ tướng quân phải hết sức kín đáo, không được nói rộng ra ngoài. Hễ bắt được Bạch Tháp chân nhân thì lập tức ngầm áp giải ngay vào đại lao tử tù, bí mật thẩm vấn và hành hình, tuyệt nhiên không công khai cho thiên hạ biết, bằng không, nhẹ thì tổn hại đến danh tiết của nữ nhân trong gia thuộc, nặng thì kinh động đếu triều đình, lúc ấy ai mà gánh nổi tội chứa chấp phản tặc.
Trương Tiểu Biện nhân lúc rảnh tay, đến ngay Miêu Tiên tử tìm con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu của hắn mang về. Con mèo đen mắt sáng nhát gan, nhanh nhạy dị thường, chỉ cần Bạch Tháp chân nhân đi ngang qua mặt nó thì nhất định sẽ xuất hiện hiện tượng cảm ứng.
Bên ngoài phủ đã truyền cho trọng binh bao vây, đến giọt nước cũng không lọt, Mã đại nhân và Đồ Hải đích thân dẫn một toán công sai nhanh tay nhanh mắt, ai nấy giấu binh khí và súng ống trong người, rồi cho mở một gian bên chái nhà, giả cớ bắt uống thuốc trị bệnh, sai từng người trong phủ Đề đốc lần lượt đi từ hành lang rồi bước qua, đợi đến lúc con mèo đen phát hiện được ra thân phận Bạch Tháp chân nhân sẽ ném cái chén làm hiệu, binh lính không cần hỏi đầu đuôi, cứ nhất tề xông lên trới nghiến người đó lại. Thật đúng là: “ Ai chính ai tà, ai lộ mặt; Nghi thần nghi quỷ, lại nghi người.”Rốt cuộc không rõ Trương Tiểu Biện có thể bắt được Bạch Tháp chân nhân hay không, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:45 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:10 pm


Hồi thứ 7: BẠCH THÁP CHÂN NHÂN


Nói đến đoạn trong phủ Đề Đốc ĐỒ Hải, ngoài chính thất nhị phòng, ba thê bốn thiếp của lão ra, còn có rất nhiều nô bộc, tạp dịch, trên dưới hơn 100 người không ai được ngoại lệ, phàm là có mũi, có tay chân và biết thở đều phải tập trung trong sân của hậu đường. bến trái già, lão đã dai dùng gốc cây quế làm củi, ninh nhừ thịt con ngao và nhân sâm, già trẻ lón bé đều phải lần lượt đi qua để uống canh.
Mẫ Thiên Tích dẫn bọn Trương Tiểu Biện nấp trong phòng, ghé mắt nhìn trộm ra ngoài, mỗi một người đi qua, Đề đốc Đồ Hải đúng cạnh khẽ nói với MÃ đại nhân, đây là ai, là thân quyến cũng thế, là nô bộc trong nhà cũng thế, thân phận, lai lịch đều nói rõ ràng, nhưng trong nháy máy đã kiểm tra hết một lượt, nhưng từ đấu chí cuối vẫn chưa phát hiện ra người nào khả nghi trong đó.
Trương Tiểu Biện thấy con mèo đen chẳng nhúc nhích tí nào, trong lòng đã có chút bối rối. Thấy thần sắc trên mặt Mã đại nhân và Đề đốc Đồ Hải đanh lại, hắn đã hơi chột dạ, nhưng Lâm Trung Lão Quỷ đã nói bạch Tháp chân nhân ẩn nấp trong nàh Đề đốc Đồ hải, làm sao sai lệch được? Xem ra, chưa hẳn hắn ta đã trà trộn vào đám thân quyến, nô bộc, có khả năng như Phan hòa thượng, đào một cái hang ngầm trong vườn để ẩn nấp không hay.
Trương Tiểu Biện đang định tìm một cái cớ để lấp liếm, bỗng nghe MÃ đại nhân hỏi Đề đốc Đồ hải:” Người trong quý phủ đẫ ra hết rồi chăng? Sao không thấy tiểu thư Minh Châu?” Đề đốc Đồ hải đáp:” Con gái ta là người hiểu rõ thi thư lễ nhạc, đung mạo đoan chính. Sao có thể là bạch Tháp chân nhân cảu tà giáo? Nó chí có hai con a hoàn hầu hạ ở nhà sau, bây giở đướng lúc loạn nê xưa nay chưa từng ra khỏi nhà, cũng chưa bao giờ cho gặp người ngoài”
Mã Thiên Tích alf tổ sư trong nghề phá án, thẩm hình, xưa nay có biệt hiệu là “MÃ vương gia”, nghe đồn trong lcus thẩm vẫn lão tinh tường như có ba con mắt, suy nghĩ thì kín đạo lạ thường, chưa từng bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào. Lão biết hôm nay nếu không bắt được Bạch Tháp chân nhân, một là đã đánh rắn động cỏ, từ nay về sau càng khó tiễu trừ, hai là đã đích thân đem người đến phủ Đề đốc tra xét một lượt mà không tìm ra bằng cứ xác thực nào thì thật khó ăn nói. Chính vì vậy, lão mới khuyên Đề đốc Đồ hải mời tiểu thư Minh Châu và hai a hoàn ra, chúng ta không sợ giết nhầm, chỉ e bỏ sót, đến loài thỏ còn cần đào ba hang, vả lại chuyện này có quan hệ đến an nguy của cả nhà Đồ đốc, không nên sơ suất chút nào.
Đề đốc Đồ hải không còn cách nào, nghĩ thầm”tạm thời cứ để “Mã vương gia” người đắc ý đi, sau này chúng ta tính toán cũng không muộn”. Lão liền sai người đưa tiểu thư vào vườn uống canh an thầ.
Mọi người đợi một lúc mới thấy tiểu thư Minh Châu được một a hòa dìu bên cạnh, chầm chậm đi ra, cúi chào thỉnh an rồi mới đi lại uống canh sâm. Thịt con ngao rất già, điều chế với củ nhân sâm nghìn năm nên vị canh hết sức nóng và đắng, khó uống gấp nhiều lần các thang thuống khác. Tiểu thư Minh Châu bịt mũi uống nửa bát, còn lại hơn nửa bát thì đưa cho a hoàn uống.
Trương Tiểu Biện lần đầu tiên gặp mặt tiểu thư Minh Châu, thấy làn thu thủy, nét xuân sơn, thực là chim sa cá lặn, nếu chảng phải là bà chúa tuyết Cổ Xạ giáng trần thì cũng là Quảng hàn tiên tử trên cung trăng đầu thai, chảng ngờ lão Đề đốc Đồ Hải lại có đứa con gá xinh đẹp đoan chính như thế, nếu Trương tam gia cưới được về làm vợ thì cũng không uổng một đời người. Trong lòng hắn động tà niệm, ngẩn người ra nhìn ngắm tiểu thư Minh Châu.
Nào ngờ đâu, ngay lúc ấy, con mèo đne trong lòng hắn đột nhiên co rút người lại, sợ đến nỗi toàn thân run lên bần bật, chí có đôi mắt mèo là nhấp nháy sáng. Trương Tiểu Biện cả sợ:’ Chẳng nhẽ co tiểu thư này chính là Bạch Tháp chân nhân tinh thông tà thuật taqoj Súc hay sao?”
Trương tiểu Biện vốn không biết đặc trưng diện mạo của Bạch Tháp chân nhân, càng không rõ nó là nam hay nữ, nhưng nghe đồn vào những năm Gia Tinh đời Minh, các tỉnh đã có trát truy nã tên đầu đảng giặc cướp này nhưng ốt cuộc đã không bắt được và cũng không có ai chính mắt trông thấy chân thân của hắn. Tiểu thư Minh Châu chỉ là giai nhân tuổi vừa đôi tám, làm sao có thể là Bạch Tháp chân nhân đã nối tiếng lâu năm như vậy được? CHẳng lẽ yêu đạo đó đã tu luyện đến mức có thể thay hồn nhập xác hay sao?
Nhưng trên người của đám yêu nghiệt Tạo Súc ngưng tụ rất nhiều tà khí, đằng sao thường có vô số oan hồn bám riết, chính vì thế con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu mới ohats sinh cảm ứng, sợ đến nỗi lông lá toàn thân dựng đứng lên, chỉ giận không thể nhanh chóng cao chạy xa bay, hoặc tìm một khe nứt nào đó để ẩn nấp. tình hình này thực giống hệt lúc gặp phải Phan hòa thượng ăn thịt trẻ con trong thành Đũa.
Bên cạnh tiểu thư Minh Châu là một a hoàn tùy thân chuyên hầu hạ nàng, tuổi cũng mới chừng 15, 16, dáng vẻ ngoan ngoãn dễ thương, đã được đưa vào phủ làm nô tỳ từ thuở nhỏ, cũng không phải là laoij lai lịch bất minh. Bọn Trương Tiểu Biện toàn là người trần mắt thịt, chủ trì đại cuộc là Mã thiên tích tuy độc địa, lão luyện những cũng không có mắt lửa người vàng, rốt cuộc cũng không nhận ra hai trong người đó là Bạch Tháp chân nhân.
Quan phủ đã trải qua nhiều năm tiêu trừ nhưng chưa bao giờ quét sạch triệt để đám dư đảng của yêu tà Tạo Súc, Bạch Tháp chân nhân lại là nhân vật có tên tuổi lẫy lừng hơn hẳn phường trộm cướp tầm thường, vì vậy, ai nấy đều căng thẳng như cung đã lên dây, ngấm ngầm chuẩn bị sắn sàng, chỉ đợi Mã đại nhân ném chén làm hiệu.
Mã đại nhân không khỏi do dự trong lòng, tay cầm chén trà mà trừ khừ không quyết, ra hiệu cho Trương Tiểu Biện mau nghĩ biện pháp tìm đúng chân thân của Bạch Tháp chân nhân. Trương Tiểu Biện hồn vía lên mây, chỉ còn cách ngầm bóp chặt tai con mèo đen để nó đừng náo loạn, hai đại cô nương xinh đẹp như hoa như ngọc này làm sao có thể là đám yêu tà được?lỡ ra nhận nhầm thì khó àm thoát được.
Con mèo đne tuy bị đua tai nhưng vì quá sợ hãi , đến kêu cũng không dám kêu tiếng nào. Trương Tiểu Biện. Trương Tiểu Biện cảm thấy kì lạ, ngẩng đầu nhìn ngó một lần nữa ở bên ngoài hành lang, chỉ thấy tiểu thư Minh Châu và con a hoàn của cô ta đang rời gót quay về, nhưng con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu lại đột ngột run như cầy sấy, sợ co ro cúm rúm mãi không thôi, rõ ràng có một vật gì đó đang từ đằng sau tiến lại gần khiến nó sợ muốn chết.
Tương Tiểu Biện vội vã khoát tay ra hiệu mọi người hớ hành động tùy tiện hành động vì bây giờ mục tiêu mới bắt đầu đi tới. Chính lcus ấy, một con hoàn khác, to béo ngờ ngờ nghệch ló ra. Trong lòng ả ôm một con chó xù lông trắng, đi thẳng đến hành lang để uống canh. Bên cạnh tiểu thư Minh Châu vốn có hai con a hoàn, đây là chuyên làm việc vặt, và ôm chó hộ tiểu thư.
Trương Tiểu Biện thấy cặp mắt vàng của con mèo vần lên tia máu, hiểu rằng nó đã sợ hãi đến mức tột độ nên mới sinh ra như thế. Hắn đột ngột nhớ lại lúc trong lò đúc ở Hoang Táng lính, gặp phải lão Thiết Trung đang hấp hối, nghe lão kể lại rằng, chưởng quầy Thiết Công Kể của Tùng Hạc đường, đã bí mật đem cương thi vào núi hoang để bãn cho con chó xù lông trắng, rồi bị giết chết. Chẳng nhẽ con chó xù được Thiết Công kê gọi là Bạch gia đó, chính là Bạch Tháp chân nhân?
Trương Tiểu Biện phản ứng rất nhanh, con chó xù lông trắng đó cho dù không phải là BẠch Tháp chân nhân thì hẳn cũng có mối qaun hệ mật thiết với yêu đạo. Thật đúng là số kiếp nó đa đến hồi mạt vận, nếu con a hoàn ngốc nghếch đó không ôm con chó đến uống nước canh thì thiếu chút nữa đã bị nó qua mặt rồi.
Mã đại nhân thấy Trương Tiểu Biện gật đầu làm hiệu liền đạp vỡ chén trà trong tay. Con chó xù lông trắng đảo lộn cặp mắt gian giảo, lcus đi qua hành lang tựa hồ như đã cảm thấy có nguy cơ đang tiềm phục, đương khi hết sức nghi ngờ trong dạ, bỗng nghe trong phòng có tiếng vỡ loảng xoảng, tình hình có vẻ nguy, tựa như chim sợ cành cong, nó vội giãy khỏi lòng con a hoàn nọ, chạy xuống đất đào thoát.
Công sai mai phục bốn mặt như hùm như hổ, cùng lcus ùa ra, nhưng đều cho rằng cần phải bắt con a hoàn ngốc nghếch, chẳng ai thèm để ý đến con chó xù lông trắng, liền mặc kệ cho nó chạy vọt qua. May thay, Tôn Đại Ma tử nghe thấy tiếng Trương Tiểu Biện tri hô, nhanh tay nhanh mắt quát lên:” Cho mày chết này!” Một gậy quét ra khiến con chó bị hất tung lên trên không, hộc máu mồm, lăn xuống đất. Trương Tiểu Biện vội vã rút ngay sợi lòi tói, chói nghiến con chó thành một đống.
Con a hoàn bế con có cũng bị toán bổ khoái đè chặt xuống đất, sợ hãi đến m,ức vãi đái ra quần, ú ớ không nói thành lời. Đề đốc Đồ hải không rõ đầu đuôi, cũng không nhìn thấy Bạch Tháp chân nhân ở đâu cả, sao alij hồ đồ trói một con a hoàn sai vặt và một con chó xù lông trắng trong nhà.
Mã đại nhân hạ lệnh cho thủ hạ không được lỗ mãng để tránh làm cho kẻ vô tội phải sợ hãi, rồi lão mượn một gina mật thất trong phủ Đề đốc, cho đốt đèn để thấm án trong đêm. Nào ai ngờ nổi không tra án thì thôi, chứ hỏi ra thì làm rõ được một kỳ án kinh thiên động địa.
Thì ra, ả a hoàn bế chó hoàn toàn không can hệ gì, thứ mà con mèo đen Linh Châu sợ hãi chính là con chó xù lông trắng đó. Mặc dù vậy, từ xưa tới nay, việc thẩm án chỉ là tra hỏi người để lấy khẩu cung chứ sao có thể cật vẫn ra hành tung của Bạch Tháp chân nhân từ mồm một con chó.
Cho dù Mã Thiên Tích là người giỏi việc xét đoán các đại án quan trọng, nhưng trước tình hình đó cũng đành bó tay, đành phải cho thắp đèn trong gian mật thất, đòi một số người có liên quan đến để hỏi, chủ yếu là tra xét lai lịch của con chó xù lông trắng trong phủ Đề đôc. Lúc ấy, lão mới biết con chó được mua ở thành Bắc Kinh, xưa nay vẫn ngoan ngoãn dễ bảo, giỏi đoán ý chủ nhân, chưa từng thấy có cử chỉ dị thường nào.
Lúc ấy, trong mật thất chỏ còn Đề đốc Đồ Hải, Mã Tuần phuvà Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử. Con chó trắng bị Tôn Đại Ma Tử đánh trúng một gậy hộc máu, bị xích lại ở một góc mật thất, nằm phục xuống ngoan ngoãn, gục đầu không ngừng liếm lapx vết thương trong ánh mắt đầy vẻ sợ hãi.
Trong lòng Đồ Hỉa đầy sự bất mãn, nghĩ thầm:” tên họ Mã không hiểu hồ đồ thế nào àm lại nghe lời khoác lác của trương Tiểu Biện, nửa đêm nửa hôm đem cả nhà ta ra hành hạ khổ sở, rốt cuộc lại bắt một con chó không liên quan gì. Con chó này làm sao là Bạch Tháp chân nhân cho được? Định đùa cợt như vậy, chẳng nhẽ không sợ vuốt râu hùm của bản Đồ đốc ta sao?” Lão bất giác định bụng nổi giân đùng đùng ngay lúc ấy.
Đề đốc Đồ Hải còn chưa kịp nói, bỗng nghe Mã đại nhân vỗ án rất mạnh, mắng thằng tặc tử còn dám man trá, gọi tả hữu mau chuẩn bị đại hình, dùng cây châm thép chấm với phân nóng đâm vào bụng con chó.
Đề đốc Đồ Hải những tưởng Mã đại nhân tìm một cớ để rút lui nên mới dùng địa hình để tra khảo một con chó trắng. Lão càng thấy bất mãn, huống hồ đánh chó cũng phải ngó mặt chủ chứ! Nghĩ đoạn, lão liền giơ tay ngăn lại, nói:” Con chó này lúc bình thường rất dễ bảo, chưa từng sủa đổng cắn càn, vì vậy người trong nhà rất yêu quý nó, sao các ngươi lại cứ cố đánh đập nó thế?”
Mã đại nhân nói:” Đề đốc có chỗ còn chưa biết đấy thôi! Như bản quan thấy, con chó này đúng là hết sức bất bình thường, chắc chắn nó vốn không phải là một con chó”. Nói đoạn, lão lại sai tả hữu lập tức tra tấn. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử dạ ran lĩnh mệnh, vén tay, xắn áo hùng hổ định xông lên động thủ, bỗng nhiên, con chó lông trắng đang bị xích ở góc tường đứng thẳng dậy như người rồi phục xuống đất, khấu đầu lạy như tế sao, hơn nữa, miệng còn phát ra tiếng người:” Thuowbngj quan minh giám, nay tôi đã bị khám phá ra hành tung, biết không thể ẩn nấp được nữa, không dám man trá điều gì, chỉ xin được miễn phải chịu tra tấn” Âm thanh phát ra sắc nhọn như chọc vào màng nhĩ, nghe ý tứ trong lời nói hẳn là nó sợ bị tra khảo nên xin tha mạng trên công đường.
Đề đốc Đồ Hải sợ đến mức trợn tròn mắt, há mồm, sao trong phủ lại nuôi một con yêu quái như thế này? Mã đại nhân nhăn mặt lạnh như tiền, sai Bài đàu tả hữu cắt đứt mấy sợi gân lớn của con chó trắng, giải đến trước mặt để thẩm vấn lấy khấu cung.
Con chó trắng biết mình đã rơi vào tay quan phủ thì chẳng có gì tốt đẹpm chịu đau đớn khi bị cắt đứt gân, hai amwts ánh lên những tia oán độc, nhưng lại sợ bị tra tấn, đành phải cung khai sự thực, tự nhận mình chính là “Bạch Tháp chân nhân” Từ những năm cuối đời Bắc Tống ở thành Linh Châu đã có những hành động của đám Tạo Súc, lúc ấy là bắt cóc người bằng đủ các thủ đoạn, người thường khó có thể tưởng tượng được ra nổi. Có một loại lưu lạc giang hồ biểu diễn kiếm tiền, chuyên diễn các tạp kĩ để mưu sinh, trong đó, có những kẻ chuyên thuần dưỡng chó để diễn xiếc. Kẻ luyện chó để diễn đều là những lão già lớn tuổi, nhưng những con chó ấy đều không phải là chó thật mà là những đứa trẻ bị bắt cóc.
Người đời không biết tường tận, đều cho rằng bọn người đó có yêu thuật, hóa phép người thành súc vật, có thể biến đàn bà, trẻ con thành súc vật để bán lấy tiền, câu chuyện đồn đại được truyền ra thêm thắt yếu tố thần kì khiến người nghe phải biến sắc, nhưng kì thực không phải là như vậy. Bọn bất lương dùng thuốc mê bắt cóc những đứa trẻ tầm bốn, năm tuổi ở các thôn làng rồi đem về nhà, giết một con chó có vóc dáng xấp xỉ đứa trẻ nọ, lột bỏ da, rồi nhân lúc còn ấm nóng phủ lên người đứa trẻ. Bộ da chó vừa vặn đẫm máu me còn tươi nguyên sẽ thịt chặt vào đứa bé, không thể lột da được nữa. Bọn nghiệt đồ Tạo Súc còn dùng các thủ đoạn để hành hạ, bắt đứa trẻ trong bộ da chó phải bắt chước giống hệt các động tác của loài chó, nếu không nghe lời sẽ bị dánh chết, vứt xác ra ngoài đồng hoang.
Đến khi đứa trẻ đã thuần phục, chúng mới đem ra ngoài phố làm chó diễn xiếc kiếm tiền. Con người thì khôn ngoan hơn chó thì dẫu là trò lật bảng đọc chữ hay nhảy vòng, vái lạy, lặn lộn đều không phải bảo ba nhiều, vì vậy thường hấp dẫ người xem và kiếm được nhiều tiền thưởng. Mặc dù vậy những đứa trẻ khoác bộ da chó đó bị bọc chặt tới mức nóng bức khó chịu, hơn nữa cơ thể không thể lớn và phát dục được, ngay cả ngày đông lạnh giá hay tháng hè oi bức cũng chỉ có một bộ da chó trên người, toàn thân chúng bị cảm nóng cảm lạnh, không quá sáu tháng, một năm sẽ bị chết ngộp trong bộ da chó, tình trạng thảm thương không kể xiết.
Nhưng tà thuật tạo Súc chỉ hưng vượng đến khi người Kim xâm chiếm phương Nam, bắt hai vua Huy tông, Khâm tông. Thiên hạ đại loạn, nước mất nhà tan, quan lại hình ngục chỉ có làm vi, quan lại coi mạng người như cỏ rác, tính mạng người dân không có giá trị gì, muốn bắt là bắt, muốn giết là giết, chẳng khác nào giết một con rận, con rệp, tuyệt nhiên chúng không bao giờ để tâm. Đúng thật là:” Thà làm chó thời bình; Chớ nhằm lúc loạn mà sinh làm người”. Muốn biết sự thể thế nào xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:46 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:11 pm


Hồi thứ 8 : QUẤN GAI TRA, LỘT DA HỎI



Lại nói, quan phủ giở thủ đoạn sấm sét, bắt sống Bạch Tháp chân nhân đang ẩn náu trong phủ Đề Đốc, giải đến mật thất, định dùng nghiêm hình tra hỏi, hắn nào dám không cung khai?
Bạch Tháp chân nhân tự biết khí số mình đã hết, lại sợ bị quan phủ tra khảo tàn khốc, đành thổ lộ hết sự thật, nói ra nguồn gốc của phái Tạo Súc. Theo lời truyền tụng của dân gian, cái gọi là tà thuật Tạo Súc phần nhiều chỉ vào đám yêu nhân biết thuật lạ, mê hoặc đàn bà, con trẻ, bắt họ phải uống nước bùa chú, biến người sống thành các loại súc sinh như : lợn, lừa, bò, dê…rồi mang ra bán ở chợ để kiếm tiền, nhưng thực chất đố chỉ là những lời đồn đại ngoa truyền, không có thực.
Thực ra, bắt đầu từ khi nhà Tống dời xuống phía Nam, thiên hạ đại loạn, tai họa liên miên, dân đói đầy đường, các cô gái lớn cắm rơm lên đầu làm hiệu để bán thân còn không đáng giá một nửa con lừa. Vào lúc ấy, có một bọn bất lương chuyên đi lại trên giang hồ biểu diễn kiếm tiền, chúng sử dụng trăm phương ngàn kế để thu lợi, bắt cóc trẻ con nam nữ, lột da chó bọc lên mình đưá trẻ, sau đó dùng thêm nhiều thủ đoạn để đày đọa huấn luyện, bắt chúng phải biểu diễn các trò xiếc. Những người bị hại chết trong tay bọn chúng nhiều không đếm xuể.
Người dân không hiểu nội tình, thấy bọn chó biểu diễn trên phố, con nào con nấy lanh lợi, ngoan ngoãn, đều cho rằng nghệ nhân biểu diễn xiếc có ngón nghề cao cường chứ nào biết đâu, những hành động ám muội mà bọn chúng đã làm toàn là những việc không còn lẽ trời.
Mãi tới sau này, khi thế sự dần dần ổn định, quan phủ mới bắt đầu truy nã đám Tạo Súc, hễ bắt được đều dùng cực hình xử trí. Dưới sự trấn áp bằng hình phạt tàn khốc, bọn chúng dần dần biến mất. Mặc dù vậy, mỗi lần có chiến tranh hay thiên tai, lòng người không yên ổn, phong tục không được như xưa, tà giáo Tạo Súc lại được khôi phục, dần dần tạo được thanh thế, bái tháp cổ làm Tổ sư, tự xưng là “ Tháp giáo”. Chúng chuyên đi cắt nam dương, nữ âm của người chết phối làm thuốc, hễ luyện thành thuốc mê thì có thể sai khiến được các loại động vật, lớn thì to như trâu, voi, ngựa, cá kình, nhỏ thì bé như côn trùng, kiến, chuột. Đám yêu tà Tháp giáo phần lớn đêu bí mật lẩn trốn, mai danh ẩn tích, sai khiến các loại súc sinh để làm những việc gian tà phạm pháp, quan phủ cấm đoán nhiều lần mà không dứt được.
Bạch Tháp chân nhân còn vang danh trước khi Bạch Liên giáo nổi dậy, các châu, phủ huyện ở khắp nơi đều có cáo thị truy nã tên giặc này. Tuy thế, hắn sinh ra đã có dị tướng, bẩm sinh còi cọc, cao không đầy ba tấc, mặt mũi hết sức khó coi, từ nhỏ đã bị người nhà xem như quái vật, vứt bỏ ở vùng núi hoang mạc mặc cho tự sinh tự diệt. May mà hắn mệnh lớn không chết, cứ lăn lóc ăn trái cây, uống nước suối để sống, sinh hoạt cách biệt với trần thế mấy năm. Sau này hắn gặp được môt dị nhân Tháp giáo trong núi sâu, được truyền thụ sách lạ, học được tà thuật, từ đó mới xuất sơn làm những chuyện gian tà, đồng thời, thu nạp rất nhiều môn đồ, đệ tử, trở thành giáo chủ của Tháp giáo, tự đặt hiệu là “ Bạch tháp chân nhân”.
Nhưng, vì Bạch Tháp chân nhân có hình thù tướng mạo hết sức đặc biệt, lúc ngày thường không ra khỏi cửa thì thôi, chứ hễ ra ngoài đường thì ắt sẽ bị đám Bổ khoái tinh mắt nhận ra hành tung bắt lấy để hỏi tội, làm sao có thể sống ung dung ngoài vòng pháp luật cho đến tận ngày nay? May mà hắn bẩm sinh đã giỏi sủa tiếng chó, thường gỉa làm chó trèo tường băng vách, nhanh nhẹn như gió, chính vì vậy, hắn vạch mưu, làm theo cổ pháp từ thời Tống, lột da một con chó Bắc Kinh lông trắng, rồi cứ để máu me đầm đìa như thế mà khoác vào người. Từ đó về sau, hắn coi như lắc mình biến thành một con chó trắng ngoan ngoãn, từ tướng mạo đến cử chỉ đều không hề sai lệch, hoàn toàn giống như thật.
Bạch Tháp chân nhân tuy thanh thế rất lớn, là đầu sỏ của một gian đảng nhưng lúc ấy triều đình mải trấn áp Bạch Liên giáo, không có thời gian để mắt đến chúng. Từ sau khi Bạch Liên giáo bị tiêu diệt, các địa phương truy nã bọn cầm đầu phản tặc rất gắt, Tháp giáo cũng dần dần bị tan rã, đám tàn dư im hơi lặng tiếng, trà trộn trong dân gian.
Có câu rằng: “Cao tay thì ẩn trong triều, bình bình thì ẩn chỗ nhiều thị phi”, Bạch Tháp chân nhân giả làm một con chó, trốn vào nhà giàu có, đám Bổ khoái vốn không biết chân tướng của hắn, muốn truy nã chẳng khác nào mò kim đáy biển, tìm đâu cho ra?
Tới khi loạn Việt khấu lan tới Giang Nam, Bạch Tháp chân nhân liền nhân cơ hội, trà trộn vào phủ tướng quân của Đồ Hải, theo cả nhà già trẻ, lớn bé của Đồ Hải về thành Linh Châu. Ở đây, hắn câu kết với đám dư đảng cũ, định nhân cơ hội loạn lạc lấy tiền bạc trong công khố. Trong đám môn đồ của Bạch Tháp chân nhân, chỉ có lối hành xử của hòa thượng Chuột là kỳ bí nhất. Phan hòa thượng đem bầy chuột nấp vào Hòe viên rồi đào một đường địa đạo, lén ăn cắp bạc trong công khố mang về. Mắt thấy đại công sắp cáo thành, nào ngờ không rõ vì sao hành tung của lão bị bại lộ, khiến Phan hòa thượng rơi vào tay quan phủ, bị giải ra giữa chợ lăng trì tùng xẻo.
Việc này khiến Bạch Tháp chân nhân tức đến nỗi muốn đập đầu vào tường, thống hận đám công sai chó diều của quan phủ không sao kể xiết. Song, hắn cũng không rõ tại sao Phan hòa thương bị sa cơ nên không dám mạo muội lộ diện, đành ngấm ngầm sai con Thát tử khuyển ở Hoang Táng lĩnh vào pháp trường Linh Châu náo loạn một phen, coi như thay đồ đệ rửa hận.
Nào ngờ, chuyện vẫn còn chưa kết thúc ở đó, đầu chó của con Thát Tử khuyển cũng bị quan phủ treo trong thành để thị chúng. Bạch Tháp chân nhân liên tiếp bị cắt đi các cánh tay đắc lực, trong long không khỏi kinh hãi. Hắn biết nhất định có cao nhân muốn đối phó với hắn, nếu không, chỉ với đám quan binh Linh Châu thì không thể giết được con Thần Ngao hung tàn như thế, may mà hắn vẫn còn ẩn nấp kín đáo trong phủ Đề Đốc, bằng không, lúc ấy ắt hẳn đã bị quan phủ bắt sống xử trị rồi.
Bạch Tháp chân nhân nham hiểm, giảo hoạt, cực kỳ đa nghi, càng nghĩ càng thấy phủ Đề Đốc chưa chắc đã là nơi an toàn. Hắn định bụng trốn ra khỏi thành để ẩn náu, nhưng thành Linh Châu đang bị Việt khấu tầng tầng lớp lớp bao vây, cửa thành đều đóng chặt, đến nỗi một con chim cũng bay không lọt, vì vây, hắn định trốn vào một căn nhà hoang trong hang cùng ngõ hẻm nào đó. Lúc bấy giờ đang khi binh mã hỗn loạn, chỗ nào cũng có rất nhiều phòng trống có thể ẩn nấp được, chẳng ai thèm để ý đến một con chó hoang trong một căn nhà trống, cũ nát, thế mới là cách trốn tránh ổn thỏa nhất.
Đương lúc định tính toán như vậy, hắn lại nghe có người mang Phong Vũ chung đến phủ Đề đốc. Trong núi sâu, những thử đoạn Bạch Tháp chân nhân tu luyện được đều là loại “Tặc công phu”, nghĩa là sao? Đương nhiên là những thủ đoạn luyện thành lúc canh năm về sáng, có câu “ Gà chờ sáng, chó canh đêm”, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi đều hết sức thính nhạy, cho dù một chút gió lay cây động hơi bất thường cũng không qua được sự cảm ứng của hắn, chính vì vậy, vừa đánh hơi được mùi của đồ vật bằng đồng, biết chắc người ta đã mang bảo vật đến phủ Đề đốc. Hắn bất giác động lòng tham, liền chui từ ổ chó ra ngoài, quấn quít bắt con nha hoàn bế cho phải ôm lên, tựa hồ như chó hiểu tính người, cũng muốn đi uống canh vậy. Con a hoàn chẳng đặng chẳng đừng phải ôm nó đi xuống hành lang.
Vốn đám Tháp giáo Tạo Súc đều thờ một tòa tháp cổ làm tổ sư, rất tin tưởng rằng trên thế gian tồn tại sự hiển linh của tháp. Hồi xưa ở thành Linh Châu, có một tòa cổ tháp cao chọc trời, được gọi là “Vạn tháp chi vương”. Tòa bảo tháp bát giác này tuy đã bị phá hủy từ lâu nhưng trong giếng cổ dưới chân tháp vẫn còn giấu một cái chuông đồng có thể quần tụ mưa gió. Cổ vật linh thiên hội tụ long khí của tháp báu nghìn năm, vì vậy đám yêu tà đó đều coi thành Linh Châu là thánh địa, lấy đó làm sào huyệt của Tháp giáo.
Mấy năm trở lại đây, Bạch Tháp chân nhân vất vả tìm kiếm Phong Vũ chung nhưng không có kết quả, đột nhiên nghe nói vật đó đã hiện thân, đương nhiên hắn sung sướng phát điên. Chẳng ngờ tính sai một bước, khác nào Quan Vũ sơ ý mất Kinh Châu, vừa tới hành lang hắn đã phát hiện sự tình không ổn, nhưng không kịp thoát thân lẩn trốn thì đã bị Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu của Trương Tiểu Biện nhận ra, bị bắt ngay tại trận, nếu hắn nhẫn nhịn không lộ mặt thì ai mà tìm ra được? Hắn nghĩ một lượt từ đầu đến cuối càng thấy chuyện xảy ra rất vô duyên vô cớ, đành tự nhủ chắc là do quỷ thần xui khiến ra thế, số mệnh đã định, ắt phải có hạn lớn ập xuống, sự tình do nhân quả chứ không phải do người có thể tính ra được.
Mã Thiên Tích trước đây làm tri phủ đã từng đích thân phá được một cái án liên quan đến phải Tạo Súc. Hồi ấy có kẻ bất lương bắt trẻ con bọc vào tấm da khỉ, lại dùng xích sắt trói lại, bắt gõ phèng diễn xiếc. Con khỉ thấy kiệu của Mã tri phủ đi qua liền cản lại giữa phố, quỳ xuống rỏ nước mắt, rập đầu, Mã Tri phủ biết là chuyện lạ liền đưa cả người và khỉ về nha môn mới vỡ lẽ được sự tình. Trong gian mật thất lúc này, thấy con chó trắng có hình dạng kì dị, lão đã hiểu được bí mật của hắn, liền giả vờ cất tiếng đe dọa, quả nhiên làm cho tên giặc phải sợ và phục xuống đất cung khai. Xem ra dẫu ngón nghề của bọn giặc có thiên biến vạn hóa bao nhiêu cũng không che mắt được kẻ già dặn ở chốn công môn, thật đúng là: “ Nước cờ đi trước đã giăng bẫy. Địch dẫu mưu mô cũng trắng tay.”
Lúc ấy, Bạch Tháp chân nhân đã bị cắt gân, thành một kẻ tàn phế, dẫu có bản lĩnh bằng trời cũng không cách nào thi triển được nữa. Hắn biết kiếp nạn này khó thoát, cực chẳng dã phải đem hết sự thật khai ra. Thân đã làm đến giáo chủ của Tháp giáo, một khi rơi vào tay quan phủ, biết số mình đã tận, chỉ mong thượng quan đem lòng nhân từ, đừng dùng thủ đoạn tra tấn tàn khốc. Hắn tự biết tội mình tày trời, chắc chắn phải chết không sai, nhưng mong được xem xét đến việc đã nói rõ nguồn gốc của Tháp giáo và tấm thân tu luyện vất vả mấy chục năm mà đừng động đến việc chặt chém, chỉ xin được chết toàn thây, kiếp sau dẫu phải làm trâu ngựa cũng không dám quên ơn.
Mã đại nhân càng nghe càng căm tức. Bọn thối tha này đã hoành hành gây họa cho người đời bao lâu nay, cứ tự cho rằng có thể ung dung ngoài vòng pháp luật, làm biết bao nhiêu việc ác, đến ngày bị bắt giải tới công đường, lộ rõ nguyên hình mới biết đến đường van vỉ xin tha, cái gì mà tự biết tội chết khó thoát. Muốn không phải chịu cực hình cũng được nhưng phải mau cung khai toàn bộ dư đảng của Tháp giáo, nếu có nửa lời man trá, nhất định sẽ không dung thứ cho đâu.
Naò ngờ Bạch Tháp chân nhân thà chết không khai ra những chuyện đó, Trương Tiểu Biện cùng Tôn Đại Ma Tử liền dùng kim dài chấm vào phân lỏng, hết cây này đến cay khác đâm vào những chỗ da thịt mềm khiến Bạch Tháp chân nhân đau quá, gào rú thảm thiết, mồm phun ra toàn lời nguyền rủa độc địa khôn cùng: “ Các ngươi là đồ chó diều của triều đình, chỉ quen trò cáo mượn oai hùm, dám cả gan đày đọa tấm pháp thân đắc đạo của bản chân nhân, ta nguyền rủa các ngươi, đứa nào cũng phải chết không yên…”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều là kẻ sắt đá nhẫn tâm, lại rất ghét đám yêu tà Tạo Súc, thấy điệu bộ Bạch Tháp chân nhân hung hăng, cắn răng chịu tra tấn không chịu cung khai, cả hai càng nóng mắt, chửi rằng: “Tiên sư cha nhà mày, còn dám mở mồm nói cứng, để xem ông nội nhà mày chọc nát cái lưỡi rồi móc mắt mày ra thế nào.” Nói đoạn, dùng kim đâm vào không chút dung tình, tới mức tấm thân đội lốt chó của Bạch Tháp chân nhân không còn chỗ nào toàn vẹn, sau đó lại giơ kim định chọc vào lưỡi và mắt của hắn.
Mã đại nhân ở bên cạnh thấy rõ ràng, biết Bạch Tháp chân nhân tuy sợ bị tra khảo nhưng lại càng sợ việc cung khai ra đồng đảng, chứng tỏ đằng sau lưng hắn còn có những nhân vật cực kỳ lợi hại. Nếu cứ tiếp tục tra tấn ắt nó đau đớn mà chết mất, vì vậy, lão hạ lệnh cho tả hữu ngừng châm kim tẩm phân, hạ giọng thương nghị với đề đốc Đồ Hải vài câu. Đồ Hải cũng chẳng phải kẻ tử tế gì, lão nói với Mã đại nhân, chuyện này chớ truyền rộng ra ngoài, cứ kết liễu tính mạng của thằng này trong mật thất là tốt nhất, sau đó lão còn nghĩ ra được một cách hết sức hiểm độc nữa.
Mã đại nhân nghe xong, gật đầu đồng ý, rồi dặn Trương Tiểu Biện mấy câu, bảo hai người cứ theo ý của Đề đốc đại nhân mà kết liễu tính mạng của Bạch Tháp chân nhân, sau đó hủy thi thể, xóa tung tích. Đoạn, lão liền cùng Đồ Hải rời khỏi gian mật thất.
Trương Tiểu Biện đợi Mã đại nhân đi khỏi liền bảo Tôn Đại Ma Tử ra ngoài chuẩn bị mấy thứ cần thiết,. Trong gian mật thất chỉ còn lại một mình, hắn giương mắt nhìn Bạch Tháp chân nhân rồi ha hả cười lạnh lùng, chửi rằng: “Thằng cẩu tặc, giờ này năm sau là giỗ đầu của nhà ngươi rồi, Trương Tam Gia ta là người ngay không làm việc ám muội, trước khi ngươi chết cũng cần phải cho ngươi chết một cách rõ ràng, kẻo xuống đến Âm phủ phải làm con ma hồ đồ. Thằng hòa thượng Chuột trong Hòe Viên và con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh đều chết trong tay của Tam Gia ta đây.”
Bạch Tháp chân nhân tuy biết mình chết chắc nhưng không bao giờ tưởng tượng nổi mình không sống được qua đêm, than rằng: “Trước đây, Phan hòa thượng bị bắt ba ngày mới trói giải ra chợ tùng xẻo, sao đêm nay đã giết ta luôn rồi?” Nói đoạn, hắn đổi giọng nghiến răng rít lên: “ Ta đã tung hoành thiên hạ mấy chục năm trời, chẳng ngờ rốt cuộc hồ đồ thế nào lại chết trong tay thằng tiểu tặc nhà ngươi, ta chết cũng không nhắm mắt được.”
Trước lúc bị hành hình, Bạch Tháp chân nhân không khỏi tim lạnh lòng run, càng nghĩ càng sợ, giọng điệu cũng nhũn đi, vật nài rằng: “Xin Trương Bài đầu niệm tình pháp thân của ta tu luyện chẳng dễ, hơn nữa hình hài xấu xí này đã trộm sống trên đời nhiều năm, hay là để ta được chết nhẹ nhàng một chút, giữ cho cái thây vẫn còn toàn vẹn.” Nói đoạn, nước mắt, nước mũi chảy ràn rụa, bảo với Trương Tiểu Biện ở chỗ đó, chỗ nọ có chôn một hộp “Kim Dương tiền”, chỉ cần toại nguyện cho hắn thì những thứ trong hộp tiền đó đều thuộc về họ Trương hắn cả.
Trương Tiểu Biện một mặt ngầm ghi nhớ địa điểm chôn dấu Kim Dương tiền, một mặt cất lời rằng: “ Chắc hẳn đống Kim Dương tiền đó đều là của bất nghĩa, Tam Gia đương nhiên sẽ tính sổ nhận về, chẳng lẽ còn phải khách sáo với loại cẩu tặc như nhà ngươi hay sao? Có điều, ngươi van nài với ta cũng vô ích thôi, mới rồi Đề đốc Đồ Hải đã dặn dò không thể để nhà ngươi chết sung sướng, mát mẻ được, chúng ta là công sai thì phải chịu sự sai khiến của quan trên, không thể tự quyết, chỉ e Trương Tam Gia này khó lòng mà chu toàn cho nhà ngươi. Nhiều nhất, chúng ta cũng chỉ có thể đến Tết Thanh minh hóa thêm chút ít tiền vàng cho ngươi mà thôi, âu cũng là để ngươi bớt chút khổ sở dưới chốn âm tào.”
Bạch Tháp chân nhân không ngờ Đồ Hải đã có lời dặn dò, trong lòng sợ run lên, nói: “Không rõ chúng định xử trí bản chân nhân thế nào? Định mổ bụng moi tim hay lăng trì tùng xẻo? Hay muốn dùng xe xé xác, chém ngang lưng?”
Lúc ấy, Tôn Đại Ma Tử đã quay về, trong tay cầm một cái ống gỗ, bên trong chứa toàn bong bong cá đang đun sôi sùng sục, ngoài ra còn mang theo hai mảnh bao gai đã bị cắt nát. Trương Tiểu Biện chỉ vào đó rồi nói: “Quan gia có lệnh, niệm tình ngươi van vỉ đáng thương, không nỡ dùng đến đao búa hành hình, chỉ cho ngươi nếm một trận “quấn gai tra, lột da hỏi”. Nghe nói năm xưa, lúc Nhạc Vũ Mục bị oan uổng, cũng phải chịu lối tra khảo này. Có điều, loại thối tha nhà ngươi tội ác ngập đầu, đúng là tự gây tội nghiệt thì đừng mong sống, nay sắp bị đạo trời tru diệt, sao có thể sánh ngang với Nhạc gia được, mau câm mồm lại mà nhận cái chết cho rồi.”
Bạch Tháp chân nhân có khí lượng hẹp hòi, hơn nữa xấu xí hèn đớn, biết phải chịu hình phạt “ quấn gai lột da ”, hiểu rõ đây là một cực hình hết sức tàn khốc, lại nghe những lời vừa rồi, lập tức vừa nổi giận vừa kinh hãi, “ọe” một tiếng phun ra ngụm máu bầm, sặc sụa vài cái, điên cuồng chửi mắng: “ Ta ẩn mình trong phủ Đề đốc đã bao nhiêu lâu, chưa từng làm hại đến già trẻ lớn bé trong nhà, thế mà thằng cẩu quan Đồ Hải độc ác với ta như thế sao! Được rồi, các ngươi đã đem thủ đoạn độc địa như thế để hại tính mạnh của ta, bản chân nhân sau khi chết sẽ niệm huyết chú, toàn thành Linh Châu sẽ thây chất như núi, máu chảy thành song, người ngợm súc sinh đều chết hết!” Thật đúng là: “ Người đời cứ bảo trời xa; Ai hay báo ứng hóa ra nhãn tiền.” Muốn biết chuyện sau thế nào, xem hồi sau phân giải.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:47 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:11 pm


Hồi thứ 9: NHẠN DOANH


Lại nói Bạch Tháp chân nhân từng nấp trong chỗ kín đáo chính mắt nhìn thấy đao phủ Bộ hình lăng trì Phan hòa thượng ở giữa ngã tư đường, cứ tưởng cực hình tàn khốc đến thế là cùng cực. Chính vì vậy, khi sa vào tay quan phủ, hắn chỉ khẩn cầu được chết nhanh, xin đừng lóc thịt tùng xẻo, để hắn được chết cho toàn pháp thân. Một là, hắn sợ nỗi đau khổ khi bị xử cực hình; hai là, theo quan niệm mê tín của người thời bấy giờ, nếu trong đời người phạm phải tội lớn, bị xẻo thịt phanh thây thành vạn mảnh trên pháp trường thì kiếp sau không được làm người, chỉ có thể biến thành vô số những con dòi bọ, ruồi muỗi, mặc cho người đời tha hồ đánh đập, giẫm đạp, trầm luân vạn kiếp không cất đầu lên được.
Bạch Tháp chân nhân vốn là một nhân vật có tiếng tăm chấn động thiên hạ, chẳng ngờ qua khe lật thuyền, bị người ta không tốn chút hơi sức bắt sống, lại còn bị cắt gân, giày vò đủ kiểu. Biết là mình sắp ngậm hờn chết trong mật thất, hắn van vỉ vật nài bọn Mã Thiên Tích đừng dùng đao búa chặt chém, ý hắn là tốt nhất cho uống thuốc độc hoặc một sợi dây gai để thắt cổ chết.
Nhưng Mã đại nhân và Đề đốc Đồ Hải nọ đều là những kẻ nhẫn tâm độc địa, không dùng đến đao kiếm thì cũng không thể nhẹ tay dung thứ cho tên trọng phạm này, trên đời làm gì có chuyện dễ dàng như thế, nên mới dặn tả hữu dùng đến hình phạt “ quấn gai keo da cá”, sau đó mới rời khỏi mật thất, đi tuần thị bố phòng trong thành.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nhận lệnh phải đích thân kết liễu tính mạng của tên ác tặc, liền dùng dao cạo sạch lông trên khắp mình Bạch Tháp chân nhân, sau đó đem miếng bao gai cắt thành từng sợi mảnh, nhúng từng sợi vào keo đang sôi rồi nhân lúc còn nóng, dán lên người hắn. Trong phút chốc, từ đầu đến chân tên ác tặc đã dính đầy hàng trăm mảnh bao gai vụn.
Lúc đó, Bạch Tháp chân nhân đã khiếp hãi tới mức toàn thân run lên cầm cập, cứt đái vãi tung tóe, muốn cứng cũng không cứng nổi nữa, đành phải nhất loạt cung khai hết nới ẩn nấp của dư đảng, không dám giấu giếm mảy may, chỉ cầu xin nới tay để hắn được chết mát mẻ một chút.
Tôn Đại Ma Tử mắng rằng: “ Ta xem đám giặc dòi bọ các ngươi thật chẳng đáng mặt tí nào, quả nhiên giống hệt thằng hòa thượng Chuột, trong người không có lấy một chút khí khái anh hung, dưới tay đã hại chết biết bao nhiêu sinh mạng, phạm tội tày trời như thế mà cũng chỉ đền bằng một cái mạng nhà ngươi, cho dù lăng trì muôn mảnh cũng là dễ dãi cho ngươi lắm rồi. Hôm nay phải chết thì cứ thẳng thắn vươn cổ ra mà chịu chết là được rồi, sao lại có những cử chỉ đê hèn như thế.”
Trương Tiểu Biện cũng đứng cạnh cười mỉa rằng: “ Pháp thân của chân nhân tuy tôn quý nhưng cực hình quấn gai lột da này lại khá khó chịu, không được để cho chết ngay. Chúng tôi không phải là những đao phủ tinh thông ngón nghề, hôm nay lần đầu tiên làm việc này, xuống tay không khỏi có chỗ vụng về, nặng nhẹ thế nào cũng mong chân nhân lượng thứ cho.”
Bạch Tháp chân nhân căm hận đến độ cắn vỡ cả răng, rít lên với Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử: “ Các ngươi khinh người quá lắm, bản chân nhân có thành ma quỷ cũng không quên được mối hận ngày hôm nay. Hai thằng tiểu tặc nhà ngươi tưởng mình là ai kia chứ? Đều chỉ là phường chó diều của bọn triều đình, con bà các ngươi, các ngươi có biết vì sao càng bắt bớ thì giặc giã càng nhiều, tiễu trừ không hết không? Vì quan lại và giặc cướp là một, mèo chuột một phường thôi, thằng bắt cướp cũng đều là cướp cả, chẳng qua được làm vua, thua làm giặc thôi. Các ngươi dùng thủ đoạn tàn độc này để hại pháp thân đắc đaọ cuả bản chân nhân, đến tối còn mong được ngủ yên sao?”
Trương Tiểu Biện nghe Bạch Tháp chân nhân càng nói càng oán độc, liền chửi rằng: “Câm mõm! Bọn ông hôm nay thay trời hành đạo, đưa thằng cẩu tặc nhà ngươi lên đường, mau nhân lúc còn sớm sửa, đến Uổng Tử Thành ở Phong Đô dưới Âm ty mà báo tên đi!” Nói đoạn, hắn cũng Tôn Đại Ma Tử cúi xuống, phồng mang trợn má liên tiếp thổi hơi lạnh vào mình mẩy của Bạch Tháp chân nhân.
Vốn là cực hình “ quấn gai lột da” không được đưa vào chính điển, chỉ là một hình thức tra khảo tàn khốc được lưu truyền từ thời Nam Tống, về sau cũng nhiều lần được sử dụng để hành quyết tù phạm. Đầu tiên, đao phủ dùng dải gai tẩm keo nóng, dán vào da thịt trên cơ thể trần truồng của phạm nhân, keo bong bóng cá rất dính, dính chặt tới mức không thể bóc da được. Đợi tới khi chúng se mặt, đao phủ mới kéo đầu dải gai, rút một cái lôi theo cả mảng da lẫn thịt, vì vậy mới có tên là “quấn gai tra, lột da hỏi”. Dẫu là hảo hán mình đồng da sắt cũng không chịu nổi loại độc hình này, thế nên mới có câu rằng: “ Khiến cho hảo hán mất hồn; Dẫu là cứng cỏi cũng còn thất kinh.”
Toàn thân Bạch Tháp chân nhân đã quấn đầy dải gai, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thi nhau thổi từng luồng hơi vào cơ thể hắn. Thấy lớp keo bong bóng cá đã se nguội, ước chừng có thể hành hình được rồi, cả hai liền thử túm chặt một miếng vải gai trên lưng Bạch Tháp chân nhân rồi mắm môi mắm lợi kéo ngược ra, chỉ nghe “soạt” một tiếng, một miếng cả da lẫn thịt đã bị lột tung ra, những tia máu bắn vọt xuống đất. Bạch Tháp chân nhân đau đớn quá, rú lên như lợn bị chọc tiết, gào thét kêu trời kêu đất.
Tuy trên người Bạch Tháp chân nhân có đội một lớp da chó nhưng trải mấy chục năm, lớp da đó đã gắn chặt với da thịt trên người làm một, không thể gỡ ra được nữa, khi bị rút dây gai tẩm keo thì cả một mảng thịt cũng bị xé toạc ra theo. Hắn đau như cắt ruột, tự biết nếu chết như vậy thì thật quá thảm khốc, vội cất tiếng một lần nữa xin tha mạng nhưng trong cơn đau đớn dữ dội, miệng lưỡi dường như không còn nghe theo sự sai khiến.
Trương Tiểu Biện cầm miếng vải gai vừa giật ra giơ lên xem, quả nhiên là dính cả da lẫn thịt, rồi thuận tay quẳng sang một bên, hắn không để cho Bạch Tháp chân nhân kịp nói điều gì, đột nhiên nghĩ ra một câu chế giễu, giả bộ ngạc nhiên mà rằng: “Ôi!... Tam Gia ta dường như nghe thấy tiếng trống, tiếng nhạc ồn ã trên không trung, chắc hẳn là thần tiên đã mở cổng lớn để chuẩn bị đón chân nhân về trời, chuyện tốt như thế thì chớ nên chậm trễ.” Nói đoạn, hắn lại cùng Tôn Đại Ma Tử nhất tề động thủ, giật toạc từng miếng vải gai, mới rút được một nửa thì Bạch Tháp chân nhân đã đau đớn mà chết cứng.
Sau khi hành hình, trong gian mật thất vương vãi máu thịt khắp nơi, nhìn kĩ thì đúng là có một bộ xương người dị dạng trong tấm da chó. Trương Tiểu Biện mời viên quản gia trong phủ đến nghiệm hình rồi mới nổi một đống lửa để đốt thây xóa vết, còn lại những chuyện quan phủ chiếu theo khẩu cung, ngầm bố trí tróc nã dư đảng Tháp giáo ngoài vòng pháp luật như thế nào thì khỏi phải cần nói thêm. Việc yêu đạo ẩn náu trong phủ Đề đốc đương nhiên không thể nói rộng ra ngoài, chỉ có điều cả nhà trên dưới đều phải chịu nhiều sợ hãi, định bụng đợi đánh lui Việt khấu sẽ mời gánh hát tới diễn mấy vở kiểu “Tam anh chiến Lã Bố”, “Uất Trì Cung một roi đoạt giáo”, “Qua năm ải chém sáu tướng” có lời tuồng diễn võ trấn trạch, những chuyện đó cũng không cần phải nói.
Lời tác giả: Đáng thương thay Bạch Tháp chân nhân, khổ tu nhiều năm trong núi, đã luyện được một thân dị thuật, thế mà cuối cùng lại có kết cục như thế, chết thảm khốc không sao kể xiết, chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể nói rằng: “ Khuyên người ấy chớ làm điều ác; Ba thước trên vai có thánh thần; Làm ác mà trời không báo ứng; Hóa ra người mất hết nhân luân.”
Đại để cũng chỉ vì Bạch Tháp chân nhân làm việc ác quá nhiều, kiếp số đã hết, ông trời muốn lấy tính mạng của hắn nên tự nhiên khó lòng thoát chết. Về tình về lý thì như thế, tuy là nói vậy, nhưng người này cũng là đầu sỏ của Tháp giáo, quan phủ truy bắt mấy chục năm trời mà không tìm được tung tích, ngoài thủ đoạn giỏi lẩn trốn ra, hắn còn biết rất nhiều tà thuật của phái Tạo Súc, ngoài ra lại còn có con Thần Ngao ở Hoang Táng lĩnh và Phan hòa thượng chuyên ăn thịt trẻ con trong thành Đũa bên dưới Hòe viên. Đám yêu nhân ác thú này nào dễ đối phó? Thế mà sao bản lĩnh tày trời của chúng không thể thi triển được một chút nào, trái lại tất cả đều phải chết trong tay của Trương Tiểu Biện?
Cứ xem Trương Tiểu Biện cũng chỉ học được một chút thuật xem tướng mèo không đầu không đũa, làm sao có thể chỉ nhờ vào ăn may, thấy đâu làm đấy, mà vừa giơ tay cất chân đã diệt trừ hết thảy đám gian tà ác thú đó được? Suy cho cùng vẫn là nhờ vào lời chỉ dẫn ngầm của Lâm Trung Lão Qủy.
Lão già ấy đã không nói thì thôi, chứ nói ra thì đề linh nghiệm như thần, phá giải được rất nhiều huyền cơ, chỉ cần làm theo sự sắp đặt của lão thì việc nhất định sẽ tốt đẹp.
Trương Tiểu Biện cứ cho rằng thời vận của mình đã đến, mộ tổ nhà mình chắc đang mọc thêm một tấm bia “Tiến phúc” vô hình, chỉ trong sớm muộn sẽ được mở mày mở mặt, nên mới có quý nhân phù trợ như thế. Được Lâm Trung Lão Qủy chỉ rõ bến mê, chẳng bao lâu nữa, Trương Tam Gia nhà hắn sẽ được đội mũ cao, mặc áo cừu, cưỡi ngựa béo, chỉ huy vạn quân ruổi thẳng đến núi non, uy phong và vinh quang nào ai sánh bằng? Hắn đâu hiểu được rằng, quan trường trầm luân, thực là một bể khổ không bờ bến, nào được tiêu dao tự tại, chòm hoa linh đỏ cài trên mũ ấy đã nhuốm không biết bao nhiêu máu tươi.
Trên đời này làm gì cõ chuyện dễ dàng đến thế, thường có câu rằng: “ Tưởng ngon xơi mà xơi được đâu”, hung thần, mầm họa đã sớm ẩn tàng trong đó, chỉ có điều chưa đến lúc Trương Tam Gia hắn phải trả giá đấy thôi, muốn hỏi “Muối vì sao mặn? Dấm vì sao chua?” thì phải biết lai lịch của Lâm Trung Lão Qủy trong mộ Kim Quan đó như thế nào? Rốt cuộc lão trợ giúp Trương Tiểu Biện là có âm mưu gì?
Đừng bảo chỉ riêng mình Trương Tiểu Biện bị che mắt, ngay cả Bạch Tháp chân nhân, hòa thượng Chuột và Thát tử khuyển, những kẻ yêu nhân ác thú đã phải trả giá bằng cả tính mạng, cũng đều phải chết mơ hồ, không minh bạch. Chỉ e rằng, bọn chúng dẫu cho đã đến cầu Nại Hà, bước vào thành Uổng Tử cũng không biết rằng mình đã chết vì mưu kế của Lâm Trung Lão Qủy.
Còn về Lâm Trung Lão Qủy, đó là những chuyện về sau, dần dà sẽ rõ, bây giờ tạm thời không bàn đến, lại nói về thời thế ngày nay, thù trong giặc ngoài, đạo tặc thảo khấu nhiều như lông bò. Thành Linh Châu tuy quân nhiều lương đủ nhưng đang bị Việt khấu ùn ùn kéo tới vây khốn, trải qua mấy trận ác chiến, lòng người đều lo sợ. Chuyện Trương Tiểu Biện tiễu trừ yêu tà Tháp giáo tuy làm rất bí mật, song thiên hạ này đúng là tai vách mạch rừng, chẳng quá dăm hôm cả thành đều biết cả, tiếng tăm của hắn liền nổi như cồn khắp trong ngoài.
Tiếng lành đồn xa, đồn đi đồn lại, ai nấy đều cho rằng Trương Bài đầu là một nhân vật có bản lĩnh cao cường, mỗi lần trông thấy hắn đều gọi là Bài Đầu trưởng, Bài đầu phó này nọ, cứu như xưng hô với mấy vị viên ngoại giàu có không bằng. Hắn được mọi người hết sức kính trọng, ngày thường ra ngoài uống trà xơi rượu, các hàng quán đều không dám nhận tiền.
Trương Tiểu Biện tự lấy làm đắc ý đến mức đi đường cũng sắp quên nên bước chân nào trước. Hắn nhớ công ơn của Lâm Trung Lão Qủy nhưng vất vả tìm kiếm mãi mà không được. Hắn lại nhớ đến bầy mèo hoang thành Linh Chấu đã nhiều lần giúp mình, nên cũng hay mua chút đầu cá, thịt luộc, mang đến Miêu Tiên từ thết đãi chúng. Chính vì vậy, trong toàn thành Linh Châu, từ người đến mèo đều hết sức ghi nhớ công ơn của hắn, đặc biệt là những con mèo nhà, mèo hoang được hắn nuông cho ăn thành quen nên đeo bám hắn khắp nơi như hình vs bóng, kêu là đến, gọi là đi.
Một hôm nọ, Mã đại nhân điểm lính dõng Linh Châu trên mặt thành rồi gọi Trương Tiểu Biện đến. Lão khen Trương Bài đầu có tài nghệ phi phàm, đừng tưởng trẻ người non dạ, thực ra từ xưa hậu sinh khả úy, mới nhẹ cất tay là trừ sạch yêu nghiệt Tháp giáo đã cát cứ trong thành Linh Châu nhiều năm, bản quan và Đề đốc Đồ Hải rất hài lòng. Người như thế này mà để trong đám Bổ khoái ở Nha môn thì khác nào giết gà dùng dao mổ trâu, vì vậy phá lệ tiến cử, điều chuyển vào trong quân để ra sức vì triều đình, có như thế thì toàn bộ bản lĩnh chân thực mới có cơ hội thi triển, từ hôm nay sẽ điều đến làm doanh quan trong quân Đoàn luyện, cai quản một doanh lính dõng.
Vào thời ấy, quân Bát kỳ người Mãn và quân Lục doanh người Hán đã nhiều năm không chinh chiến, quân kỷ lỏng lẻo, sĩ tốt bê trễ, không còn tinh nhuệ như hồi hoành hành thiên hạ năm xưa, khó lòng đối phó được với chiến sự có quy mô lớn. Chỉ có mỗi đội quân Mông Cổ do Tăng Cách Lâm Tẩm chỉ huy là còn đủ khả năng Nam chinh Bắc chiến, ngoài việc phòng vệ vùng hiểm yếu của kinh kỳ còn phải điều đi các nơi trấn áp khởi nghĩa nông dân. Lúc đó, triều đình hỗn loạn, thiên hạ chao đảo không yên, đội người ngựa ấy tuy tinh nhuệ nhưng dập được phương Đông thì phương Tây lại nổi loạn nên vô cùng mệt mỏi, hơn nữa đại quân trấn giữ kinh thành thì không thể dễ dàng điều động được, triều đình phải lệnh cho các địa phương tự tổ chức dân quân. Đội dân quân đông đảo của thành Linh Châu phần lớn là quân chiêu mộ tại địa phương nên khó tránh được cảnh rồng rắn hỗn tạp, có khá nhiều thành phần thảo khấu, đạo tặc được chiêu an về, trong đó có một doanh quân gọi là “Nhạn doanh”. Trong doanh này đều là thợ săn nhạn đồng hương, đồng tộc xuất thân, hết sức kiêu dũng thiện chiến, dẫu xung phong hãm trận thì vẫn bình thản như không. Song, ở đời chum vò vỡ miệng giếng, tướng quân chết trận tiền, trong trận huyết chiến giữ thành chống địch mấy hôm trước, viên doanh quan của Nhạn doanh bị một viên đạn của Việt khấu xuyên vào não mà chết, chính vì vậy, chức vụ trưởng quan trong doanh tạm thời vẫn khuyết một chỗ.
Mã đại nhân biết rằng sĩ tốt của Nhạn doanh rất hung hăng, lại đều xuất thân từ đám thảo khấu giang hồ, quan quân khó lòng khống chế, chỉ e chúng làm loạn, chính vì vậy lão định bụng phái một người tâm phúc để thống lĩnh doanh này. Còn Đề đốc Đồ Hải lại cho rằng lính dõng Nhạn doanh đều là phường kẻ cướp, nhiều lần gây náo loạn trong thành, có ý đồ giết quan lại để tạo phản, không thể giữ lại được, giữ lại sẽ trở thành đại họa, nên mau chóng tìm cách phế bỏ doanh này đi. Hai bên tranh cãi không thôi, cuối cùng Đồ Hải đề nghị để Trương Tiểu Biện chỉ huy Nhạn doanh, ngoài mặt là có ý đề bạt hắn, kỳ thực lão dụng tâm hiểm độc, sắp xếp như thế là có ý đẩy hắn một đi Nhạn doanh sẽ không trở lại. Nào ngờ đâu, vì chuyện này nên mới dẫn đến một trường ác chiến, chém giết đến mức long trời lở đất, nhật nguyệt lu mờ. Thế mới có câu rằng: “Thiên binh vạn mã ào ào; Máu đầy khe rãnh thây cao mặt thành.”
Quyển này đến đây là hết, muốn biết chuyện sau thế nào, xem quyển thứ năm “Nhạn doanh” của bộ Tặc Miêu sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:48 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:13 pm

Quyển thứ 5:Nhạn doanh

Hồi thứ nhất:
NHẠN BÀI LÝ TỨ



Có câu rằng : “Trâu cày thiếu cỏ, chuột kho thừa thóc.” Con trâu kéo cày cả đời vất vả khổ sở nhưng ngay cả cỏ để ăn cho ấm bụng cũng chưa chắc có đủ, tới lúc về già còn bị người ta mổ thịt. Trong khi đó, bọn chuột đục khoét kho lương thì được ăn đẫy thóc gạo, béo núch ních, sống an nhàn. Đời con người ta cũng thế, cứ gắng công cố sức làm lụng một cách chân chính vị tất đã được đền đáp xứng đáng. Mã đại nhân không biết đã hao tốn biết bao nhiêu tâm cơ để chiêu mộ quân lính giữ thành, chống giặc nhưng viên Đề đốc giá áo túi cơm người Bát kỳ Đồ Hải nọ thì chỉ chăm chăm sợ Mã đại nhân đoạt được binh quyền trong thành Linh Châu. Vì vậy, lão mới ủ mưu cắt hết vây cánh của Mã đại nhân, việc đầu tiên là phải xoá sổ Nhạn doanh.
Quân lính trong nhạn doanh đều xuất thân từ thợ săn nhạn, hay còn gọi là nhạn dân chuyên kiếm sống bằng nghề săn trộm nhạn. Ở phía tây thành Linh Châu có một vùng đầm lầy lau sậy rộng lớn, gọi là Hoàng Thiên Đăng. Nơi đây cỏ nước sải mênh mông, không biết che rợp bao nhiêu dặm, là chỗ dừng chân của bầy nhạn lớn bay qua lại giữa phương Nam và phương Bắc. Nhạn là loại vật thủ tín, mỗi khi đến kỳ di trú, đàn nhạn lại rợp trên không, từng hàng từng hàng kín nền trời, nhìn ngút mắt.
Thợ săn trên đời này chẳng ai lại không đào hầm hố đặt bẫy hoặc là dùng cung nỏ, súng ống để bắn muông thú, nếu là làm theo đúng cách thì muốn bắt hùm hổ báo gấu hay cầy cáo chồn thỏ gì cũng không cần phải bàn, chỉ riêng có việc săn bắt nhạn là khó nhất. Tục ngữ có câu “ăn thịt chim hơn nghìn thịt thú”, trong đó thì nhạn hoang đứng đầu trong các loài chim, từ thời cổ người ta đã coi nó là loài linh vật có đầy đủ cả ngũ thường. Thế nào là “ngũ thường”? Tức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Nói là chim nhạn có Nhân vì trong một bầy nhạn, riêng những con già yếu bệnh tật, không thể tự đi kiếm ăn thì những con lớn, khoẻ mẹnh sẽ nuôi dưỡng chúng đến chết, không bao giờ bỏ mặc đồng loại, đó là tấm lòng của kẻ có nhân.
Nhạn không những có Nhân mà còn có Nghĩa. Nhạn trống và nhạn mái luôn đi thành một cặp, chung thuỷ với nhau. Dẫu cho nhạn trống hay nhạn mái chết trước thì con nhạn lẻ còn lại tới chết cũng hông tìm kiếm bạn mới. Đó là điểm mà loài nhạn có tình nghĩa còn hơn cả loài người.
Đàn nhạn bay trên trời thường xếp thành hình chữ nhất hoặc hình chữ nhân, từ đầu đến cuối được xếp theo thứ tự trên dưới, được gọi là “thứ tự của nhạn,” bay ở đầu đàn đều là những con nhạn già. Những con nhạn khỏe mạnh dẫu có bay nhanh cũng không dám vượt lên trước những con nhạn già, đó là ý tứ khiêm tốn, giữ lễ.
Nhạn là loài vật khó bắt nhất vì nhạn có mưu trí.Khi cả đàn đáp xuống đất nghỉ ngơi, trong bầy sẽ có con nhạn lẻ đóng vai trò cảnh giới, thế mới gọi là “đất ngán chó, trời ngán nhạn, nước ngán cá chuối”, ba loài đó là những sinh linh hết sức nhạy bén, mưu trí. chỉ cần có hơi chút gió cây lay động là bầy nhạn lập tức bay vọt lên không trung trốn tránh, chính vì vậy, cho dù là thợ săn hay dã thú đều khó mà tiếp cận được bầy nhạn trên mặt đất.
Chữ Tín của nhạn tức là chỉ vào tập tính thiên di xuống phương Nam, về phương Bắc của nhạn hoang. Hễ đổi mùa là chúng lại di trú, xưa nay không hề sai lệch, vào mùa thu là lại bay xuống phương Nam, vì vậy màu thi còn gọi là “mùa Nhạn”. Ngũ thường có “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tin” của loài nhạn cho dù người chí hiền chí thánh cũng vị tất có đủ, vì vậy, những người thợ săn nhạn mưu sinh không ai không kính trọng đức hạnh của chúng.
Khi giới bắn nhạn của cánh thợ săn gọi là “Nhạn Bài”, tức là cái bè gỗi có gắn súng kíp. Đầu tiên, họ giấu kín bè gỗ trong vùng lau rậm rạp, sau đó, những thợ săn có thân thủ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, mình choàng áo tơi, đầu cắm lông nhạn đang trú ngụ, cách một tầm tên bắn thì không tiếp cận nữa, bằng không ắt sẽ làm đàn nhạn hoảng sợ bay mất.
Đám thợ săn nhạn nằm phục đến tận đêm khuya, tới khi trăn lạnh sao mờ mới đột nhiên châm một cây đuốc khiến con nhạn lẻ cảnh giới trong bầy nhạn lập tức vỗ cánh báo động, người thợ săn cũng lập tức dìm tắt ngọn đuốc xuống nước rồi tiếp tục im hơi lặng tiếng, náu mình không nhúc nhích. Bầy nhạn hoảng sợ tỉnh giấc định giương cánh bay lên thoát thân thì phát hiện thấy bốn bề mờ mịt, im ắng, đâm ra nghi ngờ con nhạn lẻ đó báo động nhầm, liền quang quác trách mắng nó một trận rồi yên tâm nghỉ ngơi tiếp.
Đám thợ săn nhạn nấp ở bốn phía nghe bầy nhạn dần dần yên ắng liền lại châm lửa một lần nữa. Con nhạn lẻ tận trung, hết mình vì nhiệm vụ, lập tức lại báo động, nhưng đám thợ săn nhạn vẫn dập ngay ngọn đuốc. Cứ như thế lặp lại vài lần, bầy nhạn bị quấy nhiễu đến mức quá mệt mỏi. Trải qua một chặng đường dài, vốn chúng đã nhọc sức lắm rồi lại bị con nhạn lẻ năm lần bảy lượt làm phiền mà nào có nguy hiểm nào đe dọa trong đám lau lách? Cuối cùng chúng nổi nóng mổ chết tươi con nhạn lẻ nọ.
Nhưng như thế là trúng phải quỷ kế của bọn thợ săn nhạn rồi, một là mất đi con nhạn lẻ cảnh giới, hai là bị quấy nhiễu nhiều lần tới mức buồn ngủ rũ ra, tâm lý cảnh giác giảm đi rất nhiều. Đám thợ săn nhạn liền nhân cơ hội giơ súng kịp bao vây bốn phía. Khi bầy nhạn phát giác ra đại sự đã hỏng vội bừng tỉnh dậy, lúc ấy muốn chạy cũng đã muộn,tất cả đều lọt vào lưới đạn từ các bè săn nhạn, hầu như chết hết cả đan. Cách săn nhạn như thế được gọi là “đánh nhạn lẻ”.
Đám thợ săn dựa chủ yếu vào nghề bắt nhạn để sinh sống cũng chỉ đủ rau cháo qua ngày nhưng vẫn bị quan phủ bắt ne bắt nẹt, cho tới lúc thiên hạ đại loạn thì càng áo không đủ che thân, cơm không đủ ấm bụng. Trong đám có người dựa vào thân thủ nhanh nhẹn, chuyên ẩn nấp trong đám lau lách hoang vu để cướp của, giết khách thương qua lại, làm những việc gọi là thay trời hành đạo, lấy của nhà giàu, chia cho người nghèo, cũng coi như đứng vào hàng lục lâm mãi lộ.
Về sau, đám người này đều được Mã tuần phủ chiêu an cho biên chế vào lính dõng Linh Châu, gọi là Nhạn doanh. Tới nay, khi viên quản doanh chết trận, Đồ Hải liền tiến cử Trương Tiểu Biện tới thống lĩnh doanh này vì lão phát hiện ra, hắn chính là người tra xét ra yêu đạo ẩn náu trong phủ tướng quân khiến lão bị ê chề mặt mũi, lại chỉ e người này sau sẽ trở thành cánh tay phải đắc lực của Mã Thiên Tích. Đồ Hải ngấm ngầm căm giận, định bụng tìm một cái cớ để diệt trừ mối vạ gan ruột, thật đúng là: “Trong triều gian đảng lộng hành; Anh hùng thiên hạ cũng đành sa cơ.”
Trương Tiểu biện những tưởng được quan trên cất nhắc, chứ nào biết được những chỗ hiểm ác của cuộc đấu tranh trong sáng ngoài tối giữa chốn quan trường. Chính vì vậy, hắn mới đưa Tôn Đại Ma Tử và con mèo đen, xúng xính đến nhận chức, nghĩ bụng, Nhạn doanh ít nhất cũng có tầm, chín trăm lính dõng, nay đều phải nghe hiệu lệnh sai khiến của Trương Tam gia ta, thực là đắc ý vô cùng.
Lão quân doanh của Nhạn doanh đã chết nên sự vụ trong doanh tạm thời do con trai lão là Nhạn Bài Lý Tứ cầm đầu. Lý Tứ mới hai mấy tuổi đầu, vốn là một kẻ mãi lộ kiếm tiền xuất thân từ dân săn nhạn, giỏi kết bè chèo mảng, vì vậy mới có tên hiệu là “Nhạn Bài Lý Tứ”, đồng thời, gã còn nổi tiếng là một tay thiện xạ, súng trong tay bắn trăm phát trăm trúng. Gã còn có một cô em gái được cưng chiều từ nhỏ tên là Nhạn Linh Nhi, tuy nét mày thanh tú, thần thái thướt tha nhưng lại là một trang nữ nhi căn quắc anh hùng không thua kém đẩng tu mi nam tử, còn hơn cả Hỗ tam nương trong “Thủy Hử”, chẳng nhường Bà La Sát trong “Tây Du”. Cô chẳng những từng trải chiến chinh mà còn có tài bắn bách bộ xuyên dương, thường dắt bên mình một cái loan cung đầu nhạn và bay mươi hai mũi tên đuôi nhạn, xưa nay hễ tên rời dây cung là trúng, trăm phát như một, lúc này, cô cũng ăn mặc giả nam giới, theo việc đánh trận trong doanh.
Nhạn Bài Lý Tứ từ lâu đã cảm thấy vieencj làm lính dõng bán mạng cho quan phủ tuy cũng là vào sinh ra tử nhưng không được xem bằng với cánh quan quân có lương có lậu, lại càng kém xa hồi giết người cướp của sung sướng của Hoàng Thiên Đãng, sao phải khuất thân làm thằng lính quèn để ngày nào cũng phải phiền não, vào luồn ra cúi mới sống được? Gã đương định đem quân rời thành, tới lúc đó thì “chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai” chẳng cần biết đến quân Thanh hay quân Thái BÌnh cái quái gì,chỉ cần bước một chân vào Hoàng Thiên Đãng là mặc ông nội các ngươi muốn chém muốn giết tùy thích.
Chính vào lúc đó, bỗng nghe có Trương Bài đầu ở nha môn tới thống lĩnh Nhạn doanh. Nhạn Bài Lý Tứ là một kẻ đầu đội trời, chân đạp đất, tráng chí ngút mây xanh, rất thích kết giao với các trang hào kiệt trong thiên hạ, nghĩ bụng: “Nghe đại danh Trương Bài Đầu đã lâu, được người ta kể đến mức muốn rộp cả tai, nay đã có duyên sao khong gặp mặt một lần xem hắn có thực sự là một hảo hán xuất chúng không, sau đó rồi bỏ đi cũng chưa muộn,” Đoạn, gã đi ra nghênh đón.
Nào ngờ khi hai bên gặp mặt, Nhạn Bài Lý Tứ cứ tưởng mình bị hoa mắt. Trông Trương Tiểu Biện nọ, tướng mạo vô lại, loắt cha loắt choắt, mũ đội thì lệch lạc, mắt nhìn liên láo, quan phục mặc trên người hết sức thùng thình, trên vai còn vắt vẻo con mèo đen, chỉ có gã mặt mụn đi bên cạnh còn ra dáng lưng hùm vai gấu, nhìn vóc dáng bước chân liệu chừng cũng là một tráng sĩ có chút võ nghệ.
Mặc dù vậy, đất Linh Châu từ xưa có phong tục thờ cúng Miêu Tiên, đám thợ săn Nhạn cũng tôn kính Miêu Tiên gia. Vừa trông thấy trên vai Trương Tiểu Biện có con mèo đen đang ngồi thì bọn Nhạn Bài Lý Tứ cũng không dám quá coi thường, lập tức chắp tay hành lễ nhưng trong lòng vẫn còn chút nghi hoặc, không thể tin tưởng hoàn toàn rằng, bằng vào thằng nhóc lưu manh này làm sao mà có bản lĩnh giết chết những tên giặc khét tiếng như Phan hòa thượng và Bạch Tháp chân nhân được?
Trương Tiểu Biện rất biết đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, lại được lời mách bảo của Lâm Trung Lão Quỷ, hiểu rằng trong Nhạn doanh phần lớn là những đại hán lỗ mãng. Hắn cũng chắp tay hành lễ, rồi hỏi thẳng bọn lý Tứ rằng: “Chư vị hảo hán trước đây đều là cánh mãi lộ tụ tập trong rừng núi phải không?”
Bọn Nhạn Bài Lý Tứ, Nhạn Linh Nhi nghe xong giật mình. Nhạn doanh ngày nay đã được triều đình chiêu an làm lính dõng, quan gia từ lâu đã tỏ ý xá cho hết những hành vi đã làm trước kia, không rõ lời vừa rồi của tên này có ý gì? Chẳng lẽ quan phủ đổi ý, định khử chúng ta chăng? Nghĩ tới đây, cả bọn bất giác nổi bụng đề phòng, nhè nhẹ đặt tay lên chuôi yêu đao, chỉ đợi khi quân mai phục của quan phủ ồ vào thì mọi người sẽ giết hắn trước rồi liều chết một phen.
Nào ngờ, Trương Tiểu Biện vẫn to mồm nói oang oang: “Nhớ khi xưa, tổ tiên nhà họ Trương của ta cũng có người làm nghề mãi lộ, hồi đó cũng là một nhân vật có tiếng tăm trong đám lục lâm. Từ trước tới nay, đã là mãi lộ thì phần lớn là cướp giữa ban ngày, gặp những đại phú hộ hay khách thương qua lại thì việc đầu tiên là bắn một mũi tên gió làm hiệu, sau đó mới xuất hiện để cản đường, đồng thời, đọc lên mấy lời dọa nạt quen thuộc: “Núi này do ta khai hoang, cây này do ta trồng, muốn đi qua thì mười xe để lại chín, nếu hé răng nửa chữ “không” thì “ha ha”, một đao là đi tong một mạng.” Làm như thế mới gọi là to gan mật lớn, đến cỗ ngựa cũng cần phải đeo nhạc, đi đến đâu tiếng vang đến đó, thế mới đáng mặt thảo khấu đường đường, có bản sắc anh hùng Lương Sơn, chứ đám chuột bọ cướp cạn tầm thường tuyệt đối không thể sánh được. Thế nhân người trần mắt thịt, chỉ biết chúng ta xuất thân là dân mãi lộ, chứ không biết được nghĩa khí của kẻ lục lâm chẳng phải bọn trai tráng tủn mủn nào cũng có thể học được. Chư vị đã xuất thân từ cánh mãi lộ chắc đều là đấng anh hùng khảng khái, phóng khoáng đương thời, tiểu đệ đây may mắn được gặp mặt, thật là có phúc ba đời.”
Hai hôm trước, Trương Tiểu Biện cùng với Tôn Đại Ma Tử đã bí mật đào được hộp Kim Dương tiền do Bạc Tháp chân nhân lúc sinh thời chôn giấu trong thành. Hắn tin theo lời của Lâm Trung lão quỷ, chỉ sợ giữa nhiều tiền bạc sẽ rước tai vạ, tự hủy đi tiền đò của mình. Trước khi làm đến quan to, hắn không dám nổi lòng tham, lúc ấy vắt gan cắt ruột đem toàn bộ đống kim tiền vào trong doanh để phân chia cho tướng sĩ, bày tỏ lòng kết giao.
Cổ nhân có câu: “Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ”, mấy lời này của trương Tiểu Biện thực là nói đúng nỗi lòng, hộp Kim Dương tiền đầy chặt càng khiến người ta hoa mắt. Bọn Nhạn Bài Lý Tứ đều mang trong lòng mình hào khí của bậc anh hùng, tính tình lỗ mãng, vừa nghe nói thế ai nấy đều thay đổi sắc mặt, cảm thấy rằng, chưa vội bàn bãn lĩnh của vị họ Trương này ra sao, chỉ nói riêng về sự trọng nghĩa khinh tài vừa rồi cũng đáng kể vào hàng trượng phu, đún có khí lượng của bậc tể tướng. Kẻ có thể nói ra những lời ấy, tuyệt đối không phải bình thường, nây giờ tuy mới chỉ là một trưởng quan trong doanh lính nhưng ngày sau ắt thành việc lớn, hơn nữa cũng có xuất thân mang dòng máu lục lâm của bọn ta. Nếu có thể đi theo người này lo gì chẳng được trọng dụng? Chính vì vậy, cả bọn đều tâm phục khẩu phục, lập tức khuỵu gối khom lưng, lạy rạp tung hô cả lượt. Lý Tứ cầm đầu cả bọn, nói: “Tuy chúng tôi đều xuất thân từ trong đám nhơ nhuốc nhưng cũng biết được những chuyện anh hùng, từng xem sự tích xưa nay, hiểu được rằng, hai chữ “nghĩa khí” ở đời này rất quan trọng. Nếu Trương Tam ca không ruồng bỏ, chúng tôi nguyện được kết giao, từ nay về sau đồng sinh cộng tử, vinh nhục có nhau, cho dù phải nhảy vào núi đao biển lửa cũng vĩnh viễn xin theo.”
Có lời rằng: “Đánh hùm nhờ sức huynh đệ, xông trận cậy quân cha con”. Trong các cảnh dân quân lính dõng đương thời, phần lớn rộ lên trào lưu kết nghĩa huynh đệ, nếu không làm như thế thì khó có chỗ đứng trong quân. Lần này đúng là bọn họ có duyên phận từ kiếp trước, số kiếp tương đồng, vừa gặp mặt nhau đã thấy tâm đầu ý hợp, nguyện cùng kết nghĩa anh em sống chết. Chọn ngày chẳng bằng nhân dịp, tướng sĩ Nhạn doanh lập tức đắp đất làm lư, cắm cỏ làm hương, Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử, Nhạn Bài Lý Tứ, Nhạn Linh Nhi và những tùy tùng xuất thân từ thợ săn nhạn cùng quỳ xuống đất, chắp hai tay, nhón tay cái hướng vào trong tim mình, trước mặt con mèo đen, ngẩng đầu nhìn trời mà thề, cùng nhau đọc lời “Lệnh thắp hương” là:
Hai kẻ đồng lòng
Sức bạt núi sông
Vạn người như một;
Sử ghi tiếng tốt.
Anh em giang hồ;
Sự nghiệp nghìn thu.
Thắp hương cắt máu;
Sống chết có nhau.”
Trương Tiểu Biện may được Lâm Trung lão quỷ chỉ rõ đường số mệnh của mình, chỉ cần năm câu ba điều tự dưng được đám hảo hán nguyện đem cả tính mạng ra giao phó, thực là hổ thêm cánh, cái gọi là ba cây chụm lại nên hòn núi cao là thế, nếu được như vậy thì lo gì kế lớn chẳng thành công? Đúng thật là “Muốn sang thì bắc cầu kiều; Lên non thì phải liều thân mở đường.” Không biết Trương Tam gia chỉ huy Nhạn doanh như thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:49 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:14 pm


Hồi thứ hai: Người kể chuyện


Lại nói về thành Linh Châu, từ thời xưa đã nổi tiếng là sản sinh ra nhiều mèo khoang, vì vậy mới có tên gọi nôm na là “Miêu nhi thành”. Nơi đây tuy là một chốn giàu có, phồn hoa, gấm vóc nhưng cũng là đất dụng võ của quốc gia. Thiên tai địch họa kéo dài từ năm này qua năm khác, một bên là quan phủ vơ vét, trưng thu, một bên là giặc giã bốn bề tắm máu, làng xa thôn gần quanh vùng phần lớn đã bị tàn phá tới mức điêu tàn.
Những người thợ săn nhặn sống dựa vào nghề bắt nhạn và đánh cá, hầu hết chẳng còn đường sống cho gia định, liền nhao nhao đi làm thảo khấu. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, đất hoang nghìn dặm, ở chốn hoang vu, ngoài đám dân chạy loạn tụ tập để trốn tránh ra, nào có khách buôn hay nhà giàu nào mang hàng đi qua, cũng chẳng có nơi nào để cướp của nhà giàu chia cho kẻ nghèo. Đám thợ săn nhạn chỉ còn mỗi hai con đường, một là, theo lệ cũ, “muốn làm quan thì giết người phóng hỏa nhận chiêu an”, toàn bộ sẽ được biên chế vào lính dõng để ra sức vì nước, đi theo quan phủ tiều trừ giặc giã, hai là, nhập quân Thái Bình, dựng cờ làm phản. Tóm lại, dầu đàu thân vào đâu cũng không tránh khỏi cảnh xông pha trận mạc, nếu có trách chỉ trách nhà mình nghèo khổ, sinh ra đã ở tận đáy xã hội, lại gặp phải tời tao loạn, chẳng chết dưới lưỡi gươm thi cũng chết nơi đầu giáo.
Phân tích kĩ hơn thì con đường thứ nhất vừa có lương vừa có tiền, lại là danh chính ngôn thuận, còn con đươngg thứ hai khó thoát khỏi tội tru di cửu tộc, ngoài ra quân thía Bình thờ Thượng đế, so với phong tục thờ Miêu Tiên ở Linh CHâu thì thật trái ngược như nước với lửa, những người bình dân thì không thể tiếp nhận quan niệm đó được. Sau khi đám thợ săn nhạn thương nghị, kết quả là thanh niên trai tráng đều theo thủ lĩnh là Lão Nhạn Đầu, đem thân về với quan phủ, liều mạng đánh trận để đổi chút lương tiền mang về nuôi dưỡng người già, đàn bà và trẻ con.
Sao khi Lão Nhạn Đầu chết, Nhạn doanh như rắn mất đầu, thiếu lương hết tiền, cả bọn vốn xuất thân từ cánh mãi lộ ở Hoàng Thiên Đăng, lại thường lo sợ quan phủ để bụng hiềm nghi, đang tính làm ầm lên rồi bỏ thành đi thì MÃ đại nhân phái Trương Tiểu Biện đến làm doanh quan.
Trương Tiểu Biện giở ngón đem tiền bạc ra kết giao, thu nạp nhân tâm. ĐÁm lỗ mãng trong Nhạn doanh quả nhiên cảm kích vô cùng, đều tình nguyện nghe theo hiệu lệnh của hắn, mọi người chiều theo quy củ của đám lục lâm thắp hương ăn thề, tyu chỉ là cắm cỏ dại làm hương, lấy nước suối làm rượu nhưng đây là nghi lễ của tiên hiền ngày xưa truyền lại, truyền đến đời sau thì danh thơm bất hủ vẫn còn lưu muôn thuở. Đọc xong lời “Lệnh thắp hương”, mọi người tự nói ra ngày sinh tháng đẻ, phân chia lớn nhỏ, rồi trước Hoàng thiên hậu thổ và Miêu Tiên gia, ai nấp rập đầu, cắt amus ăn thề, kết thành an hem sống chết.
Cánh lục lâm mãi lộ lập bang, lập hội, xưa nay đều tôn thờ “Vua Cướp” ở Động Đình tỉnh Hồ Nam, sau khi thắp hương xong, ai nấp đọc một lượt bài” Thường thắng tán phú” làm chứng. Vào thời ấy, ngay cả tướng sĩ, quan quân Lục doanh chính quy cũng đều ngấm ngầm làm theo lệ đó chứ chẳng riêng gì lính dõng vũ trang ở địa phương, thế mới nói là quan và cướp làm một, điều này chắc cho thấy rõ? Tạm hãy nghe bài tụng kết nghĩa rằng:
Doanh chữ “Nhạn” lệnh đã ban bố;
Người hữu duyên nghe rõ lời đây;
Hôm nay tốt tháng đẹp ngày;
Chúng tôi huynh đệ nơi này kết giao;
Khí tượng coa nguy nga trời đất;
Đúc lầu vàng chọn đặt danh sơn;
Bắc Nam hào kiệt đổ dồn;
Toàn người danh nổi như cồn mà thôi.
Chánh phó quan xin mời lên trước;
Đội tiêu đầu lần lượt xưng tên;
Sai quân thám thính bốn bên;
Chớ cho gian tế làm phiền nhiêu khê;
Đàn ăn thề đắp xong xuôi hết;
Lên thắp hươngrồi kết an hem
Nén dầu, đem tuổi so xem;
Trước kia Dương, Tả từng phen thế này;
Tiếng thơm nay hẵng còn lưu cả;
Học người xưa còn qua ruột liền;
Nén hai, kính thuở Đào viên;
Rõ ràng nghĩa khí còn truyền thiên thu;
Cắt màu nguyền sao cho được thể;
Dâng ngựa trâu mà tế trời xa;
Noi Lương Sơn, nén thứ ba;
Sẵn lòng đem mạng để mà vì nhau;
Nay trước sau chúng tôi kết ước;
Quyết đồng lòng theo bước cổ nhân.
Lại nói về việc kết nghĩa, muốn giống được người xưa thì phải làm sao cho sắt đá khong thể đổi dời, sống chết không thể lay chuyển mới được, người xưa kết giao làm bạn thì rất coi trọng lời thề, không giống như người thời nay, chỉ kết giao kiểu đầu môi chót lưỡi, rượu thịt thì lắm anh em, đến khi hoạn loạn chẳng thèm nhìn nhau.
Mọi người trong doanh theo lệ thời cổ kết bái huynh đệ, cảm tháy vui mừng vô hạn. Tuy xét về tuổi tác, Trương Tiểu Biện không thể xếp wor trên, nhưng hắn thân làm trưởng quan của Nhạn doanh, ai nấp đều tôn kính, nên dẫu người lớn tuổi cũng gọi hắn là tam ca. Trương Tiểu Biện cũng nhắm mắt nhận bừa, xưng hô huynh đệ với mọi người, sau đó sai bày tiệc rượt để say sưa một trận.
Số là từ khi Trương Tiểu Biện mò được Phong Vũ chung mang ra khỏi giếng cổ trong chàu Tháp Vương thì tòa tháp phía trên không trung thành Linh Châu cuồn cuộn tản ra, che rợp bốn phía, khuất lấp tám phương, hóa ra là do trận mưa lớn kéo dài suốt mấy ngày, Mưa trút như nghiêng dốc đổ bể khiến cho sông ngòi đầy ư, làm ngập không biết bao nhiêu ao xung khe hốc. Thành Linh Châu địa thế khá cao nên không bị ngập, nhưng quân Thía Bình đnag bao vây ngoài thành thì không đủ lương thảo, lại đang đào hào vây khốn thành, trên thực tế là đang chuẩn bị mở đường hầm để nổ thành, tới giờ mưa lớn mấy hôm liền, thuốc nổ đều bị ướt hết, không sử dụng được. Thấy lương thảo trong quân đã hết, vả lại không có cách nào đánh thành, đại quân đành tụ tập người ngựa chuẩn bị bỏ vây, rút thành.
Tuần phủ Mã Thiên Tích đứng trên mặt thành theo dõi động tĩnh Việt khấu, biết quân địch bị thua liên tiếp mấy trận, lại không còn lương thảo, khi rút nhất định sẽ hoảng loạn, nếu có đại đội quan binh vây chặt xung quanh thêm lính dõng trong thành Linh Châu thuờ cơ đánh ra, trong ngoài thành cùng tấn công thì sẽ chém cho chúng không còn manh giáp. Tuy nhiên mấy tỉnh ở Giang Nam đều đã bị đánh chiếm, quanh vùng vốn đã chẳng còn đại đội quân nào để điều động được nữa.
Mã đại nhân hiểu rõ, cũng chỉ vì thành Linh Châu tay đơn phó vỗ, Việt khấu thấy muốn đến là đến, nên khi rút kui nhất định sẽ sao lãng việc đề phòng, chính vì vậy, lão tính toán phái mấy doanh lính tinh nuệ, vòng ra ngoài phục kích trên đường. Nhưng Đề đốc Đồ Hải lại sống chết không đồng tình, lấy lí do là lính dõng Linh Châu có hạn, chỉ đủ giữ thành, không được tùy tiện điều động một quân, moojy tốt nào ra ngoài dã chiến với đại quân của Việt khấu, bằng không sự phòng vệ trong thành sẽ không vững chắc. Nếu tham công mà để mất Linh Châu, khi triều đình giáng tội thì biết ăn nói làm sao.
Mặc dù vậy, cuối cùng Đề đốc Đồ Hải cũng nói:” Quan quân tuần thị và quân Bát Kì thì không thể điều động, nhưng cứ để bọn giặc tóc dài đó khoa trương thanh thế mà rút đi như thế, hóa ra tăng uy thế cho chúng hay sao? Theo bản Đề đốc thấy, Nhạn doanh của thành Linh Châu chúng ra rất kiêu dũng thiện chiến, chi bằng ái doanh này đuổi theo chém giết chúng một phen.
Mã thiên Tích thầm biết Đồ hải chẳng những tính tình hẹp hòi mà còn lợi dụng chuyện công để trục lợi, đến đâu cũng ra sức vơ vét của cải cho đầy túi riêng, thực là tham lam vô độ. Lão đã từng phái người chuyển mấy xe tiền của về Bắc Kinh nhưng đến giữa đường bị đám thợ săn nhạn cướp mất, chính vì vây, đối với doanh quân này thường ôm hận trong lòng, coi họ là cái gai trong mắt, sớm đã có bụng xóa sổ càng nhanh càng tốt.
Từ xưa có câu:” Trứng khôn chọi đó, rắn há thắng rồng”. Một doanh lính dõng bé nhỏ làm sao đối phó nổi với đại quân việt khấu hàng vạn người? Mã Thiên Tích vốn không muốn ưng thuận nhưng lại nghĩ rằng:” Bây giờ chưa nên đắc tội với lão thất phu Đồ hải, hơn nữa, nếu như có thể đánh mộ trận bất ngờ, thắng bại cũng chưa biết đâu được” Lão liền trú tính một lúc rồi sai Nhạn doanh mang theo nhiều hỏa khí, lại cho nghỉ ngơi một ngày hôm nay, ăn uống rượu thịt no nê một bữa, đợi đến tối nhân lúc mây mưa mù mịt thì theo cửa Thủy môn ra ngoài thành, vòng đến Hoàng Thiên Đăng mai phục rồi đợi đến khi Việt khấu đi qua thì đổ ra chém giết.
Quan sĩ trên dưới trong Nhạn doanh nhận được lệnh thì đều biết ngàu mai sẽ nổ ra một trận ác chiến. Nhưng, cánh thợ săn nhạn vốn đều là những tay kiêu dũng, xưa nay chưa hề sợ chết, sau khi no say một trận ai nấy đều đi chỉnh đốn khí giới, riêng bọn Lý Tứ vẫn bình tĩnh tiếp trương Tiểu Biện chưa chịu thôi. Tôn Đại Ma Tử và Lý Tứ nể nhau là kẻ hào kiệt, liên tiếp mới uống cạn mấy bát rượu, cứ một hơi là hết, rồi nhân tử hứng liền bàn chuyện võ nghệ. Hai người không phục nhau, liền xắn quần xắn áo ra tỉ võ.
Trương Tiểu Biện tửu lượng kém cỏi, đúng là loại:” Ba ly Trúc Điệp vừa xơi; Hai quầng mặt trời đã vội mọc lên”. Mới uống có hai, ba bát rượu, hắn đã chân đá chân chiêu, ngồi cũng không ngồi vững, nhưng Nhạn Linh Nhi và mấy viên tiêu quan bên cnahj vẫn cứ chuốc rượ mãi, đặc biệt là Nhạn Linh Nhi Có tửu lượng nghìn chén không say, đẩy rượu tới trước mặt Trương Tiểu Biện rồi nói:” Tam ca! Hôm nay thật có hứng quá, chi bằng uống thêm một bát nữa”
Trương Tiểu Biện hoa mắt ù tai, líu hết cả lưỡi, biết rằng nếu uống tiếp thì tam gia này ngục mất, vội vã giơ tay đẩy bát rượu đằng trước ra, nhưng cũng bởi uống quá nhiều nên tay chân loạng choạng, đẩy một cái lại chạm vào ngực cảu Nhạn Linh Chi. Tay hắn vừa sờ vào đã thấy có gì khác lạ liền nhên tiện bóp một cái, ra sức vần vò thử, rồi lơ mơ hỏi bằng giọng ngạc nhiên:” Xem ra cơ thể của hiền đệ cũng… cũng không…cũng không béo lắm, mà sao… sao lại có bộ ngực như phụ nữ vậy”
Nhạn Linh Nhi vừa sợ vừa xấu hổ, mặt mũi đỏ bwungf lên, gạt phắt tay của Trương Tiểu Biện khỏi người mình, rồi lập tức dựng ngược cặp lông mày lá liễu, “soạt” một tiếng rút yêu đao ra, thật là:’ Mày tầm hóa sắc như dao cạo, định chém rồi đời gã Sở khanh”. Hai tên tiêu quan đứng cạnh thấy tình thế không ổn, vội vã đứng dậy giữ cô ta lại. Nhạn Bài Lý tứ cũng biết tiểu muội của mình giết người như ngóe, năm ngón vươn ra là người ta đi đời, hễ trợn mắt như thế là đối thủ phải chết tươi, gã vội dừng tay với Tôn Đại Ma Tử kêu to:” Bà cô nhỏ của ta ơi, hôm nay là ngày vui kết nghĩa của Nhạn doanh chúng ta, sao lại động đao thương. Ngươi dám vô lễ với Tam ca, chắc không còn coi ta là huynh trưởng của ngươi nữa phải không? Mau thu đao về cho ta!”
Trương Tiểu Biện vốn đang say bét nhè, nhưng mắt thấy ánh đao sáng lòa, sợ quá, hơi men tỉnh quá nửa, liền định thần nhìn kĩ Nhạn Linh Nhi mới đột nhiên hiểu ra, thấy xấu hổ vì không phân biệt được vị thiếu niên đó chính là một tiểu nương từ xinh đẹp đang đóng giả nam trang. Đám lục lâm kị nhất là việc” bỡn chị, cợt em”, đây là tội phải chịu đâm xuyên ba đao, dẫu có chém chết ngay cũng chẳng oan uổng gì. Dù Trương Tam gia hắn mồi rồi còn khoe khoang là anh hùng, nhưng lúc ấy sợ hãi đến mức thở không dám thở, đánh rắm chẳng dám đánh rắm.
Nhạn Bài Lý Tứ thấy tình hình khó xuôi liền dàn hòa rằng:” Từ lâu trong thành Linh Châu đã nghe có một người kể chuyện rất li kì, cổ quái, những chuyện dã sử, du hiệp qua lời kể của ông ta đều trở nên rất hay, ngoài ra ông ta còn biết gieo quẻ đoán vận, xem việc họa phúc dữ lành. Nhạn doanh chúng ta đêm nay sẽ ra ngoài thành giết giặc, việc chinh chiến nguy hiểm, sống chết khó lường, nhân lúc này còn sớm, nếu đã uống rượu xong chi bằng chúng ta lên phố xem chơi một chuyến, nghe người đó kể mấy câu chuyện, đồng thời hỏi xem Nhạn doanh chúng ta chuyến này lành dữ ra sao”
Trương Tiểu Biện muốn còn chẳng được, liền vội bảo như thế rất hợp lí, rồi dẫn mọi người cùng đi, thật là :” Muốn tỏ tường chuyện sau việc trước; Phải hỏi người sáng suốt anh minh”
Đương lúc Việt khấu vây thành, nhà nhà trong thành đều đóng chặt cửa nẻo, quán trà cũng chẳng có air a vào, cả bọn đành phỉa hoi đường đến nhà người kể chuyện nọ. Vòng vèo đường phố một hồi rốt cuộc cũng đến trước một că nhà nhỏ hết sức thanh khiết, nhã nhặn, vừa gõ cửa đã có một đứa tiểu đồng ra hỏi có việc gì, bọn Trương Tiểu Biện nói rõ là đến nghe tiên sinh kể tích cũ, uống mấy chén trà, liền được dẫn vào trong một cái sảnh.Cả bọn chia vai vế lớn nhỏ, phân nhau ngồi hia bên vị trí khách.
Chẳng bao lâu sau, người kể chuyện ra ngoài tiếp kiến. CHỉ thấy một vị tiên sinh, tuổi tác không quá tứ tuần, dưới cằm có một chòm râu ngắn,da dẻ trắng trẻo, vóc dáng hơi gầy. ông ta tự xưng là người kể chuyện mưu sinh, thỉnh thoảng có xem bói cho người ta, từ xưa đến nay chưa hề đoán trượt boa giờ nhưng không dùng cách Tứ trụ, Ngũ hành, cũng không cần đến gieo quẻ bói toán, chỉ cần xem sắc mặt và lời nói là có thể biết được chuyện sống chết, tiến thoái sau này. Có người hỏi ông ta học đâu ra những ngón nghề đó thì ông ta nói là hiểu rộng chuyện xưa thì biết được chuyện ngày nay, kể chuyện cũ đã nhiều thì tự nhiên sẽ rõ được nguyên lý hưng suy cảu vạn vật trên thế gian.
Chuyện Nhạn doanh rời thành đi phục kích Việt khấu là việc quân cơ bí mật, đương nhiên không thể tiết lộ được, Trương Tiểu Biện ỷ mình đã có Lâm Trung Lão Quỷ mách bảo nên cũng không tin những lời nói đơm đặt của vị tiên sinh này, chỉ có điều đã đến đây chơi thì hẳn có nhân duyên. CHính vì vậy, hắn mới hỏi thẳng vị tiên sinh kể chuyện nọ, nếu Nhạn doanh chúng tôi lâm trận thì việc giáp binh sẽ lành dữ ra sao? Đồng thời hắn cũng hỏi luôn những điềm báo thắng bại.
Nào ngờ, tiên sinh nọ vừa trông thấy Trương Tiểu Biện đã cả kinh, lặng người đi một lúc, mặt biến sắc nói rằng:” Thất lễ quá, tại hạ quyết không dám khoe khoang kiên thức trước vị liệt trưởng quan lão gia” Nói đoạn, ông ta sai dâng trà tiễn khách.
Nhạn Bài Lý Tứ vẫn giữ tình cục cằn cả bọn mãi lộ, nóng như lửa, làm sao chịu nổi kiểu rề rà của tiên sinh kể chuyện chốn thị thành như thế. Hắn nghe thấy vậy , đột nhiên cả giận, vỗ bàn đánh bốp một cái rồi đứng dậy, rút dao mắng:” Lại còn không biết nặng nhẹ hay sao? Cái đồ nhà người, tuy hủ lậu nhưng cũng là giống người có hai cái tai, chẳng nhẽ chưa từng nghe đến đại danh lừng lẫy của trưởng quan chúng ta là Trương Bài đầu ở Linh Châu sao? Để xem ông nội nhà người cắt thử hai cái tai vô dụng đó xuống xem sao?”
Tiên sinh kể chuyện nọ chẳng mảy may rung động. Tính tình của lão cũng hết sức cứng cỏi, thần sắc vẫn ngang nhiên, “hừ” một tiếng cười lạnh, rồi chỉ nói:” Ta xưa nay chưa từng nói những lời lòe bịp, nhưng chuyện của Trương doanh quan không phải tầm thường, nói không được, không dám nói, nói là phải chết. bây giờ, nếu cưỡng bức ta nói, thì muốn chém muốn mổ cứ việc tùy thích, chết có khi sướng hơn”
Thật là:” Vì chưng biết hết chuyện đời; Phải rước cái chết vào người một phen” Rốt cuộc không rõ vị tiên sinh kể chuyện này đã khám phá ra đầu mối gì, trong đó có tai họa to lớn thế nào mà ông ta thà chết không nói rõ hãy xem hồi sau phân giải.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:55 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:15 pm


Hồi thứ ba: Rải đậu sông La Sát


Ở hồi trước đang nói đến việc mọi người muốn đi bói một quẻ xem số vận, tiền trình của Nhạn doanh, nào ngờ vị tiên sinh kể chuyện nọ nhất định không chịu nói cho rõ, hơn nữa mới được mấy câu đã làm cho Nhạn Bài Lý Tứ nổi nóng. Lý Tứ lập tức rút dao định cắt hai tai của ông ta xuống, Tôn Đại Ma Tử là người cương trực, không muốn ỷ mạnh hiếp yếu, liền đứng cạnh khuyên can.
Nhạn Linh Nhi cũng không nhịn được bực mình, đứng bật khỏi ghế, nói với Trương Tiểu Biện rằng:” Tam ca! Cái loại người nói năng không biết năng nhẹ, chỉ e không phải kẻ lương thiện, thôi đừng dây vào hắn nữa, chúng ta về doanh thôi!”
Trương Tiểu Biện cũng chẳng thấy vui vẻ gì, cất tiếng mỉa mai rằng:” Tam gia ta trước đây nhận một lão đạo sĩ làm thầy, cũng là một bậc đại sư trong nghề xem quẻ đoán mệnh trên giang hồ. Mấy trò ba hoa lừa bịp của các ngươi, che mắt được thiên hạ chứ làm sao che mắt được Trương tam gia ta đây. Thường có câu rất hay rằng là: Nghe thầy bói, đói rã họng.” nói xong hắn hô hố cười, đứng dậy nghênh ngang bước đi.
Lời tác giả: Vị tiên sinh kể chuyện này tuyệt không phải là hạng tầm thường. từ nhỏ ông ta đã đọc làu kinh điển, bách gia chi tử, thiên văn địa lý, không gì không tinh thông, nếu xét riêng về sự tài hoa thì ngay cả các bậc địa nho ngày xưa như kiểu Tô Đông Pha, Bạch Lạc Thiên cũng không sánh kịp. Thật là một người bụng chưa vạn quyển sách, bút quét muôn nghìn quân, hùng biện không ai bằng, văn chương duy có một, lại càng giỏi thuật xem tướng số, sự tài hoa không sao kể hết. Nhưng, ông ta thấy thế đạo suy đồi, chẳng thiết công danh nữa, liền lui về ở thành Linh CHâu, hành nghề bói toán kể chuyện để sống qua ngày.
Ông ta thấy Trương Tiểu Biện vận số phức tạp, chỉ có điều không dám trực tiếp mách bảo, vốn định bụng đuổi cả bọn đi cho rồi. Nhưng, người này vốn tính tình kiêu ngạo, lúc ấy thấy Trương Tiểu Biện nghênh ngang bước ra ông ta nghĩ bụng:” nếu như cứ để bọn chúng đi như thế hóa ra bản lĩnh của ta sẽ bị người ta coi là lòe bịp trên giang hồ ư?” Chính vì vậy, ông ta mới gọi:” Hãy khoan! Mong chư vị quân gia bớt giận, nếu đã đến đây, chi bằng hãy nghe tại hạ kể một chuyện lạ để tiêu khiển rồi hẵng đi cũng chưa muộn”
Sau cuộc rượu chè, bọn Trương Tiểu Biện vốn định đến nghe kể chuyện làm vui, thấy vị tiên sinh kể chuyện nói khách sáo như thế, liền nguôi lửa giận, quay lại ngồi vào ghế, Tôn Đại Ma Tử hứng chí, sốt ruột, ngoác miệng cười lớn rồi nói:” Không rõ tiên sinh định kể cho chúng tôi đoạn chuyện nào? Có thể kể chuyện Võ tòng Võ Nhạ Lang địa náo Phi vân Phố không? Tổ tiện nhà ta vốn là người huyện Thanh Hà, tỉnh Sơn Đông nên rất thích nghe sự tích bọn hảo hán Lương Sơn”
Nhạn Bài Lý tứ liền nói:” Đoạn đại náo đó ngắn quá nghe không sướng, chi bằng kể đoạn Tinh trung báo quốc Nhạc Vũ Mục đại phá quân Kim ở Chu tiên trấn, hoặc là kể chuyện Đại Minh anh liệt, Yên Vương tảo Bắc đi. Những chuyện đó mới sôi nổi.” Mọi người ai cũng góp một câu, loạn cả lên, đang lúc không biết được nghe kể chuyện gì thì tiên sinh kể chuyện cất lời:” Liệt vị quân gia! Chúng ta hôm nay không kể chuyện dã sử dài dòng, cũng không kể chuyện du hiệp ngắn ngủi, chỉ xin hầu các vị một mẩu chuyện kì dị lưu truyền trong dân gian. Câu chuyện có tên “ Rãi đậu sông La Sát”.”
Mọi người đều nói:” Cái này lạ đấy, xưa nay chưa từng nghe thấy cái tên” Rải đậu sông La Sát”, chẳng lẽ có thể trồng đậu ở trên sông hay sao? Không biết sông La Sát ở chỗ nào? Chuyện này lại có nguồn gốc ra sao? Chỉ cần nghe tên truyện là những sự tích trên sông nước rồi? ông kể thử nghe xem nào?’
Chỉ thấy, vị tiên sinh kể chuyện nọ chỉnh đốn y phục, hắng giọng, gõ phách gỗ “chát” một cái để thính giả tập trung rồi mới đem câu chuyện “Rải đậu sông La Sát” ra kể thao thao, nhàn nhã khi bổng khi trầm, đẩy đưa lúc nhanh lúc chậm, câu chuyện cất lên thì có lúc hồi hộp, có lúc hòa hoãn, quả nhiên khiến người nghe say sưa, trước tiên ông ta xướng lên một đoạn mở màn:
Khí hởn cửa bể giật ì ồ,
Thuyền lái bảo hồn Ngũ Tử Tư.
Nước vỗ lưng trời, rung sấm nổ;
Sóng cồn mặt đất, ngựa chen đua.
Thiên luân đã định, sáng và tối;
Vũ trụ nay chia, tỏ với mờ.
Ngô Việt chiến trinh đâu hết cả?
Xóm chài chiều xuống tiếng hò ở.
Bài thơ cổ chỉ tán riêng về lớp song triều ở sông Tiền Đường. thủy triều wor đây hùng vĩ mạnh mẽ vô cùng, dấy lên các trận phong ba hiểm ác, thường cuốn trôi quân dân, lật đắm thuyền qua lại, chính vì vậy từ thời xưa, sông tiền đường đã có tên gọi là sông La Sát.
Lại nói những năm đầu thời Thanh, ở bên bờ sông La Sát có một nhà nghèo nọ, người đàn ông trụ cột trong gia đình họ Hoàng tên là Sam tự là Hạo Niên, hia vợ chồng mở một cửa hàng chuyên xay xát đậu hạt để nuôi sống già trẻ cả ngày, ngày nào cũng phải thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả, sống chật vật qua ngày đoạn tháng, được bữa nay lo bữa mai, vất vả chạy ăn từng đận.
Mấy năm trước đó, gia đình họ Hoàng cũng từng là nhà giàu có ở địa phương. Thường tu thiện tích đức, xây cầu dựng quán, làm nhiều nghĩa cử tốt đẹp. Nhưng không hiểu xúc phạm thần linh thế nào mà dến đời Hoàng Hạo Niên thì gia nghiệp tiêu tan đến nông nỗi đó. Hai vợ chồng ngày nào cũng than thở, cầu xin trời đất rủ lòng thường xót, không biết cuộc sống khổ cực này còn kéo dài bao lâu nữa, ví thử trong gia đình trên không còn mẹ già, dưới không còn con dại thì hai vợ chồng đã sớm nắm tay nhau nhảy xuống sông tự tận rồi.
Có một ngày nọ, Hoàng Hạo Niên phải xay một bao đậu hạt cho nhà người ta, vì trong của hàng không có lừa kéo cối xay nên chàng ta đành nai lưng ra kéo, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vất vả đứt hơi, đến lúc xong xuôi thì trời cũng đã tối muộn, định đóng cửa đi về, chợt thấy có một ông lão không rõ ở đâu đi đến.
Ông lão nọ không cao, mắt mũi đều nhỏ bé, vóc dáng đuồn đuỗn như một cái ống nước, mặc một tấm trường bào bằng vải Hồ Châu màu trắng, phục sức hết sức kì di, cặp mắt trong đêm đen sáng lóe lên. Lão đến thẳng trước cửa hàng xay xát, khuôn mặt tươi cười, hỏi Hoàng Hạo Niên một chập.
Hoàng Hạo Niên đáp lễ rằng:” Không biết quý khách lặn lội đến đây có gì chỉ giáo?” Lão già nói:” Ta có chuyện cần nhờ nên mới đến làm phiền quý nhân”. Thì ra, lão mang một thuyền của cải về quế, tới sông La Sát thì gặp phải sóng ta gió lớn, đấm thủy thủ và lái thuyền đều bị cuốn xuống sông cả, lão may mắn thoát chết và giữ được thuyền của cải nhưng chẳng còn thuyền phu và thủy thù nào. Con thuyền mắc cạn trên bãi không tiến lui được nữa, nơi đây trước thì không có làng, sau thì không có quán, vì vậy đành nhờ Hoàng Hạo Niên canh giùm con thuyền trong một đêm, để lão vào thành thuê nhân công để sớm mai khởi hành, đương nhiên sẽ không nhờ chàng không công, lão hứa trả cho chàng bằng một phần mười số của cải.
Hoàng Hạo Niên tuy là một người nghèo khổ nhưng khảng khái nghĩa khí, thấy người gặp nạn, vả lại được hứa hẹn thù lao, chàng liền gật đầu ưng thuận, nói:” Chuyện này nhỏ nhặt, có gì khó đâu, quý khách cứ đi tìm thuê người đi,vãn sinh sẽ ở lại trông hộ hàng hóa, chắc chắn không sao”
Lão già năm lần bảy lượt cảm ơn, dặn dò Hoàng Hạo Niên nhất định không được để mất hàng hóa, nếu sáng mai ta không quay về thì con cháu ta sớm muộn cũng đến lấy, sau đó lão vội vã đi vào thành ngay trong đêm để thuê người làm công. Hoàng Hạo Niên không về nhà, một mình chịu đói, chịu mệt ra nhóm một đống lửa ở bờ sông, ngồi xuống đất để trông chiếc thuyền.
Tới quá nửa đêm, người vợ sốt ruột, đốt đèn đi tìm, nghe Hoàng Hạo Niên nói rõ đầu đuôi, cô vợ cũng bảo:” Cứu người giúp nạn là việc thiện, không nên để sơ suất:” Đoạn, hai người cùng thay nhau canh thuyền.
Chẳng ngờ, suốt ba ngày hai đêm cũng không thấy lão già trở lại, Hoàng Hạo Niên không muốn thất tín, liền vòa thành tìm kiếm, nghe ngóng khắp nơi, song cũng không rõ tung tích của lão già đó ở đâu.
Hoàng Hạo Niên bắt đầu bối rối, liền bàn bạc với vợ cho rằng ông lão số đen, gặp phải kẻ cướp trên đường đã bị mất mạng không chừng, có điều còn thuyền của cải thì biết xử lí ra sao? Nếu ông lão đã hứa cho ta một phần mười thì sao không lên xem trong thuyền có những gì thì hẵng tính.”
Hai vợ chồng quyết định như thế, bèn vào bên trong, thấy một thuyền đậu nành, không dưới một nghìn cân, hơn nữa hạt nào hạt nất tròn mẩy. Hoàng Hạo Niên làm nghề xay xát đã laau những chưa bao giờ thấy loại nào hảo hạng đến thế, liền đem một cái cân to, tự lấy ra hơn một trăm cân rồi về nhà xay xát, chế thành đậu tương. Nào ngờ, loại đạu này sau khi chế thành đậu tương thì hương bay ngào ngạt khắp nơi, mùi vị rất thơm ngon, uống một hớp lại muốn uống hớp nữa, người mua khảo nhau chẳng mấy chốc đã mua hết sạch.
Hai vợ chồng Hoàng Hạo Niên luôn tay bán hàng mấy ngày trời nhưng không thấy bóng dáng ông lão nọ, bèn quyết định lấy thêm một ít đậu nữa trong thuyền, định bụng nếu ngày sau chủ nhân của số đậu đó quay lại sẽ gộp cả vốn lẫn lãi để trả lại cho ông ta. Cứ bụng tính tay làm, quá hai tháng đã lấy sạch nghìn cân đậu nành trong thuyền..
Nhà họ Hoàng từ đấy phát tài. Thật là việc đầu đã thông thì trăm việc đều thông. Hoàng Hạo Niên vốn xuất thân từ gia đình buôn bán, một khi trong tay đã sẵn vốn liền chuyển sang kinh doanh nghề khác, từ đó gặp thời gặp vận, mấy năm sau đã có được gia sản lớn, tậu được nhà cửa ruộng vườn, trong nhà đầy tớ đông đảo, ngày một hưng vượng.
Hoàng Hạo Niên ngày ngày vẫn nhớ đến ông lão năm xưa, nếu không có con thuyền đậu nành của ông lão thì làm sao có được nhà họ Hoàng như hôm nay. Chàng càng nghĩ càng thấy câu chuyện này không phải tầm thường, có lúc nói chuyện lại với vợ, đều cho rằng ông lão phục sức kì dị đó là thần linh Ngũ thông Ngũ hiển, thấy họ Hoàng chúng ta xưa nay đều là thiên nam tín nữ bneen có ý hiện ea phép thần để giúp đỡ, xem ra chúng ta cần phải tô tượng đắp chuông, năm nào cũng phải lập mấy đạo tràng để cảm tạ công đức của trời xanh mới được.
Tiếc thay chuyện vui ngắn ngày tày gang, tới năm thứ năm,hễ ban đêm chợp mắt là Hoàng Hạo Niên lại mơ tấy có người gõ cửa, lúc mở cửa ra xem thì chỉ thấy bọn người như hung thân nanh ác xông vào. Bọn đó tướng mạo dữ tợn, xấu xí, đều mặc áo bào màu trắng, đầu đội mũ thời xưa, tranh nhau mắng nhiếc, đánh đấm Hoàng Hạo Niên không chút dung tình, mồm nưm miệng mười bảo rằng nhà họ Hoàng thiếu nợ lão thái gia nhà chúng một món tiền lớn, rồi lôi một cuốn sổ ra, chỉ cho Hoàng Hạo Niên xem từng dòng một. Trên cuốn sổ đó ghi rất rõ ràng, ngày này tháng này năm này, họ Hoàng đã dùng thuyền đậu hạt của lão thái gia để kiếm ra bao nhiêu bao nhiêu tiền, rồi ngày nào tháng nào năm nào, đã dùng số tiền đó kinh doanh những gì, thu được bao nhiêu lợi nhuận. Nay nhà các ngươi đã chiếm dụng vốn để phát tài, chắng hóa ra ăn trên ngồi trốc hết phần của thiên hạ hay sao. Bây giờ món nợ đã đáo hạn rồi, mau mau trả hết cả vốn lẫn lời ra đây.
Hoàng Hạo Niên đêm nào cũng bị giấc mơ kì quái đó làm cho giật mình tỉnh mộng, khi tỉnh lại thì thấy trên người bầm tím từng mảng, toàn thân đau nhức, sợ đến mức ba hồn bảy vía lên mây, bỏ ăn bỏ uống, gầy rộc như một bộ xương. Chàng hiểu rằng, chắc chắn mình đã rước phải đại họa, liền vội vã mời một vị cư sĩ giỏi xem việc lành dữ đến hỏi rõ nguồn gốc họa phúc.
Vị cư sĩ hỏi rõ đầu đuôi nhân quả, nghe xong liền bảo Hoàng Hạo Niên rằng:” Các hạ quả nhiên bị nhân quả báo ứng rồi. Trong đường vận mệnh của cá hạ vốn không có số giàu sang, nhưng hai vợ chồng lại không can tâm sống nghèo khổ, ngày nào cũng cầu trời, cầu đất kể lể mãi không thôi, cuối cùng lại bị bọn tà ma ngoại đạo dưới sông La Sát nghe thấy. Chúng giả vờ đến đẻ ban lộc cho các ngươi, lừa các ngươi lấy đồ vật dưới thủy cung, bây giờ phải trả lại chúng cả gốc lẫn lãi. Cái gì Ngũ thông Ngũ hiển đó đều là yêu ma quỷ quái, xưa nay không bao giờ làm điều tốt. Chúng đã cho cái gì nhất định sẽ đòi lại, Xưa nay thiếu nợ phải trả tiền, chẳng aic ứu nổi các hạ đâu, chẳng những cái gia sản này mà chỉ e ngay cả tính mạng cả nhà cũng không đền đủ được’
Hoàng Hạo Niên được mách bảo, biết là việc hỏng rồi, chỉ e tai họa đổ ập xuống già trẻ trong nhà. Chàng không dám chậm chễ, rồi chuẩn bị đúng mười thuyền hạt đậu loại hảo hạng, rồi sắm sửa nhiều đồ cúng lễ như lợn, bò, dê, trở ra giữa sông La Sát rồi cùng vợ quỳ xuống đầu thuyền, thắp hương, khấu đầu, ném toàn bộ các thứ xuống lòng sông. Chỉ thấy, nước sóng cuồn cuộn đục ngầu, dưới sông xuất hiện vô số cá lớn mở miệng tranh nhau đớp.
Hoàng Hạo Niên niệm thầm “A Di Đà Phật”, cho rằng đã hoàn trả hết nợ nần, đang khấp khởi mừng thầm thì bỗng thấy sóng to gió cả nổi lên, thực là ‘đáy nước rồng run sợ, không trung quỷ khóc gào”, sóng lớn từ sông La Sát đột ngột vọt lên, trong phút chốc đổ ập xuống nhấn chìm toàn bộ thuyền bè, những người trên thuyền đều vùi thây vào bụng cá. Tới khi sóng lặng trời êm thì làng xóm nơi nàh họ oàng cư ngụ đã bị cuốn phăng hết. Đáng thương thay Hoàng Hạo Niên không chịu an phận thủ thường, tuy có được mấy năm giàu có, nhưng rốt cuộc phải trả giá bằng tính mạng của cả nhà, đúng là:” Dẫu cho sức mạnh trùm đời; Đến khi hết số chạy trời được chăng”
Câu chuyện “Rải đậu sông La Sát” tuy nửa thực nửa hư nhưng không có lửa thì sao có khói, chỉ khuyên những kẻ oán trời hận mình chớ suy nghĩ nông cạn mà kêu trời kêu đất lung tung, cũng không được tham lam những thứ không thuộc về mình. Nên biết rằng:” Phú quý chỉ là giấc mộng năm canh; Công danh nào khác mây trời lênh đênh; rốt lại vạn sự đã tan tành”
Vị tiên sinh nọ kể cho bọn Trương Tiểu Biện một câu chuyện xưa, đúng là:” uốn ba tấc lưỡi kể mà chơi; Nói rõ nông sau ở lẽ đời. Chớ tưởng say vì chén rượu; Chẳng qua thức tỉnh kẻ làm người” Quả nhiên câu chuyện đã điểm trúng huyệt khiến Trương Tiểu Biện nghe mà toát mồ hôi đầm đìa, đứng ngồi không yên, nhưng Trương Tam gia có thể hiểu hết được lẽ” bể khổ vô bờ” để mà sớm quay đầu lại không, mời xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:56 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:16 pm


Hồi thứ 4: Cáo ba mắt


Lại nói trước lúc Nhạn doanh ra trận, sau cuộc rượu, Trương Tiểu Biện dẫn các tiêu quan thuộc hạ đi nghe kể chuyện “Rải đậu sông La Sát”
Vốn là vị tiên sinh nọ đã nhìn ra số phận kì lạ của Trương Tiểu Biện, biết hắn đang rước họa lớn vào thân, hơn nữa sẽ còn liên lụy đến tất cả quân dân trong thành Linh Châu, không phân già trẻ, gái trai, cho tới chó gà cũng đều phải chết hết. Chỉ có điều chuyện này không hề tầm thường chút nào, ông ta cũng không dám nói thẳng sự tình, đành mượn một mẩu chuyện xưa mách bảo. tuy câu chuyện kể ra không liên quan trực tiếp với cảnh ngộ của Trương Tiểu biện nhưng kỳ thực, đạo lý ở bên trong thì rất tương đồng.
Cái gọi là “Sách chẳng cần dày, có đạo thì hay; lời chẳng cần dài, có lý thì phải” Muốn hỏi đạo lý trong câu chuyện của vị tiên sinh đó là gì chăng? Ông ta đang định mách bảo Trương Tiểu Biện là:” Từ xưa đến nay không có gì tự dưng từ trên trời rơi xuống, tuy tiểu tử nhà ngươi hôm nay uy phong thế nhưng sớm muộn gì cũng có ngày phải trả hết nợ nần, ác quỷ sẽ tìm đến trước cửa. tới lúc đó, có muốn hối cũng muộn
Thế nhưng, sự thật mất lòng, Trương Tiểu Biện tuy ngầm hiểu rõ ý tứ, trong lòng thấy bất an, song thâm tâm hắn luôn tự nghĩ mình tuyệt đối không phải hạng phàm phu tục tử, mà số phận đã định sẵn việc Trương Tam gia được hưởng vinh hoa phú quý, hoạn lộ thênh thang, đời nào hắn chịu tin vào miệng lưỡi của vị tiên sinh nọ.
Trương Tiểu Biện đảo đảo tròng mắt, lại nghĩ rằng, sống chết có số, phú quý nhờ trời, hơn nữa, Trương Tam gia vốn là kẻ nghèo rớt mùng tơi, chí có mỗi món bắt gà, trộm chó chật vật sống qua ngày, có được ngày hôm nay âu cũng là hợp với lẽ “bĩ cực thái lai”. Trên là trời, dưới là đất, con người ta ở đời chỉ như bầy cá, được sung sướng một ngày là tốt một ngày rồi
Tiên sinh kể chuyện lén đưa mắt nhìn, thấy Trương Tiểu Biện vẫn tỏ vẻ nhơn nhơn dường như không để ý câu chuyện vừa rồi, ông ta biết việc mình làm chẳng khác nào đàn gảy tai trâu, chỉ cười nhạt trong lòng, chỉ chắp tay nói với khách:” Hôm nay may mắn được kể hầu chư vị quan gia một câu chuyện, cũng coi là chúng ta có duyên với nhau. Bọn người kể chuyện như tôi đây chẳng qua dựa vào mồm mép để kiếm tiền sinh sống qua ngày, không kể mấy chuyện tình tứ thì cũng kể mấy chuyện lạ, để mong người ta dễ nghe là được rồi, đương nhiên không phải là việc thực, thế nên có chỗ nào sơ suất, cũng mong các vị quân gia lượng thứ cho. Đáng tiếc là tiệc vui cũng có lúc tàn, chuyện dài rồi có hồi kết thúc” Nói đoạn, ông ta bảo thời giờ cũng không còn sớm nữa, rồi sai thư đồng tiễn khách.
Bọn Nhạn Bài Lý Tứ và Tôn Đại Ma Tử không hiểu rõ huyền cơ bên trong, chỉ mong nghe tiếp mấy sự tích mới mẻ, sinh đông. Tuy cả bọn chưa đã hứng nhưng cũng đành thôi, đều cảm tạ rằng:” Chuyện tiên sinh kể quả là ly kỳ, nhất định hôm khác chúng tôi sẽ lại xin được nghe tiếp” DDaonj mọi người chắp tay từ biệt, theo Trương Tiểu Biện về trong doanh.
Mấy hôm nay mưa lớn không dứt, mấy chỗ để xung quanh Linh Châu bị vỡ, lập tức lũ lụt tràn lan, ngập rát nhiều xóm làng và đường xá. Tuần phủ Mã đại nhân tuy là quan lớn trong tỉnh nhưng địa bàn nắm giữ trong tay hết sức có hạn, các nơi xung quanh phần lớn đã bị Việt khấu nắm giữ cả rồi. Thế giặc trước mặt đang thịnh, khó lòng khống chế, mau mà trời giáng một trận mưa lớn, khiến lũ quét tràn về nhấn chìm vô số Việt khấu, mấy vạn quân Việt khấu đang vây thành Linh Châu mất đi tiếp viện, lại thêm vào đó là lương thảo không đủ cung ứng, đợi đến khi mưa ngừng nước rút, nhất định chúng sẽ rút quân.
Mã Thiên Tích thấy hao hôm nay mưa đã bớt đi nhiều, quan sát tình hình, đoán định quân Thái Bình nhất định sẽ tạm hoãn đánh thành, đợi đến khi đi cướp bóc xung quanh một trận, bổ sung đủ lương thảo và quân lính mới có thể tổ chức đánh thành lần nữa. Thấy đường xá xung quanh đều bị lũ lụt làm hư hại nặng, liệu chừng nếu không có quân thủy tiếp ứng, quân thái Bình đông như thế chỉ còn cách rút lui theo lối Hoàng Thiên Đăng ở phía Nam.
Chính vì vậy, Mã đại nhân đã sai Nhạn doanh nhân đêm tối qua cửa Thủy môn ra khỏi thành, mai phục trên con đường quân Thái Bình bắt buộc phải đi qua để giết cho chúng trở tay không kịp, dẫu rằng không tiêu diệt được cả nhưng chí ít cũng làm nhụt nhuệ khí của bọn Việt khấu, để chúng nghe hơi mà kinh hồn táng đởm, trong thời gian ngắn sẽ không dám quay lại xâm phạm Linh Châu. Được như thế thì quan phủ mới có thời gian để chỉnh đốn quân bị, chiêu mộ và luyện tập lính diongx mới, cũng cố bố phòng trong thành.
Trương Tiểu Biện thấy trời đã tối, mưa đã ngừng liền dẫn binh lính Nhạn doanh thắp hương, cùng vái trước thần vị của Miêu Tiêm, khấu đầu caaiu xin Miêu Tiên gia rất mực linh thiêng, từ bi vô bờ phù hộ Nhạn doanh ra quân đắc thắng, mã đáo thành công. Đoạn, mọi người đều nai nịt gọn gang, sai gần một ngìn lính dõng, ai nấy đều vác thuốc nổ, mang súng đạn, mở cửa thủy môn dưới thành, cưỡi thuyền nhẹ ngầm ra ngoài.
Lúc ấy, mây mù che kín, bốn phía đen như mực, ngoài thành chỗ nào cũng có Việt khấu, Nhạn doanh không dám dùng đèn đuốc gì. Dân săn nhạn quen đi săn bắn vào lúc đem khuya nên nhãn lực phi thường, mò mẫm đẩy từng chiếc thuyền nhẹ đến sông rồi vòng theo đường thủy đến thẳng Hoàng Thiên Đăng, thực là thần không biết, quỷ không hay.
Trương Tiểu Biện tuy được đề bạt là quân quan nhưng chẳng biết một chút gì về chiến trận, may mà có bọn Nhạn Bài Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi ở bên cạnh vốn là những người từng trải trăm trận. Cánh mãi lộ trong Nhạn doanh trước đây từng đánh nhau với quan binh càn quét, đồng thời cũng từng chém giết với cánh lính dõng ở địa phương, bây giờ lại đáh với quân Thái Bình, thực không kể xiết đã làm bao nhiêu việc giết người, phóng hỏa, hơn nữa Hoàng Thiên Đăng chính là sào huyệt cũ của Nhạn doanh, đến được đó tức là chiếm được thiên thời, địa lợi, dẫu cho quân Thái Bình có mười vạn ắt cũng bị đánh cho một trận tơi bời hoa lá.
Thuyền đi trọn một đêm thì trời đã hơi hửng, may mưa đã tạnh hẳn, bọn Trương Tiểu Biện ngồi trên đàu thuyền nhìn bốn phía xung quanh chỉ thấy trời đất vẫn một màu u ám, trên mặt nước toàn các xác chết bập bềnh, có lời rằng:” Người dậy xát cơ, ngoại cnarh biết ngay; trời động sát cơ, người đâu có hay” Vào lúc thiên hạ loạn lạc, khắp nơi đều có cảnh tàn sát lẫn nhau, ấy cũng là bởi ông trời đã động ý niệm giết choc. Chỉ riêng cuộc trấn áp Thái Bình Thiên Quốc của triều nhà Thanh trong vòng mười mấy năm cũng khiến cho số người chết vì thiên tai địch họa lên tới hơn bảy chục triệu người, trong khi thời đó, tổng dân số của nước Đại Thanh có được bao nhiêu? ở những tỉnh xảy ra chiến vụ ác liệt nhất thì mười họ mất đi chín, lửa bếp nguội lạnh, đi mấy chục dặm cũng không gặp một bóng người, cho dù là những thôn làng không bị nạn lũ lụt thì phần lớn cũng đã vườn không nhà trống, đổ nát điêu linh, đến tiếng gà gáy chó sủa cũng không có, đâu đâu cũng đầy mùi tử khí nặng nề.
Trương Tiểu Biện đã làm môt doanh quan của Nhạn doanh, trong lòng vốn hết sức đắc ý, nhưng đứng trên thuyền chứng kiến cảnh đổ nát thê thảm do thiên tai địch họa gây nên, trong lòng bất giác nhận ra rằng nếu loạn thế bất giác còn chưa dứt thì khó mà sống cho sung sướng được, bèn nói với mọi người:” Ta xem ra, trước vận bước hưng vong thì kẻ thất phu cũng phải gánh vác, Nhạn doanh chúng ra xả thân liều chết để dẹp giặc giã chẳng vì cái gì khác, chỉ mong sớm được cảnh quốc thái dân an, để bách tính trong thiên hạ đỡ phải chịu cảnh loạn ly đau khổ”
Bọn Nhạn Bài Lý Tứ và Tôn Đại Ma Tử, Nhạn Linh Nhi đều đồng thanh khen phải, thán phục sát đất, biết đâu rằng, Trương Tiểu Biện thầm toan tính:” Nếu không dân không giàu, nước không mạnh, không phải là một thời thái bình thịnh trị thì Trương Tam gia ta dẫu có gia sản ức vạn thì cũng lấy đâu ra chỗ để ăn tiêu, hưởng lạc. Thân làm quan to sẽ phải gánh các lo âu cho quan trên, dân dưới, cái gọi là:” Tướng quân mặc giáp đêm qua ải; quan lại năm canh khắc khoải chờ”, cả ngày bôn ba lao tâm khổ tứ thì còn vui vẻ gì chứ?”
Nhạn Linh Nhi thấy bên cạnh Trương Tiểu Biện có một con mèo đen tuy trông lười nhác nhưng có cặp mắt vàng rực, đảo liếc xung quanh rất linh động. Con mèo này xưa nay gắn chặt với Trương Tiểu Biện, không bao giờ gàn với người ngoài, cô ta hết sức tò mò hỏi:” Tam ca! Nghe người ta nói hồi huynh làm Bài đầu của nha môn Linh CHâu toàn nhờ vào sự giúp đỡ của bầy mèo hoang mà bắt sống được mấy tên cướp như Phan hòa thượng và Bạch Tháp chân nhân, liệu chuyện này có thật không?”
Trương Tiểu Biện vốn có ý khoe khoang chuyện anh hùng của mình, bây giờ lại được Nhạn Linh Nhi hỏi đúng chỗ ngứa, hắn liền đáp:”Ta và mèo hoang, trời sinh đã có duyên với nhau, nói về chuyện mèo nhà, mèo hoang trong thành Linh Châu thì thực là rất ly kỳ. ly kì như thế nào? Đúng là:” Trời chia đất mở chưa từng thấy, từ cổ chí kim ít kẻ hay”. Lại nói về lão kể chuyện to mồm không biết xấu hổ hôm qua, còn dám xưng là” Đánh giá ngay, gian binh thiện, ác; Liệt kẻ xấu, tốt luận cổ kim” Hắn chẳng qua cũng chi nhai đi nhai lại mấy cuốn sách cũ, đến caauc huyện mèo già nói được tiếng người cũng không biết. CHỉ giận loại người có mắt không tròng đó, không biết chúng ta đều là anh hùng hảo hán đương thời. Nếu hắn chịu đi theo làm gia sư ở cạnh Tam gia ta, đảm bảo sẽ mở mang được nhiều kiến thức, chỉ riêng sự tích bầy mèo hoang Linh Châu của chúng ta cũng đủ cho hắn soạn được mấy chuyện ăn khách rồi”
Trương Tiểu Biện ngồi trên thuyền trong quân trảy đi, thấy bốn bề mênh mông, còn xa nữa mới tới được Hoàng Thiên Đăng, bèn thuận miệng ứng đáp, nhân có mấy người bên cạnh mà tán khoác về “Miêu kinh”, nói rằng mèo hoang Linh CHâu chúng ta có từ đời Hán, hết sức có linh tính và thần thông, ít nhất cũng có hơn hai trăm loại nổi tiếng, các loại mèo thường ở địa phương khác không sánh kịp. Đừng tưởng chúng cả ngày chỉ biết chơi đùa nghịch ngợm mà nhầm, kỳ thực không có sự tình gì của loài người mà chúng không hiểu, không chỉ riêng chuyện cảm hứng với việc hung cát, họa phúc mà còn có nhiều năng lực thàn kỳ khác.
Mèo Linh Châu không con nào là không pha hai màu lông, phàm là loại này, thì đều giỏi chế Miêu nhi dược. Hồi xưa, Miêu tiên gia cũng đã từng đi khắp hang cùng ngõ hẻm bán Miêu nhi dược cứu nhân độ thế, trị không biết bao nhiêu nan y tạp chứng. Nhưng loại Miêu nhi này chỉ có lũ mèo hoang mới biết cách phối chế, ngay Đàm đạo nhân cũng không biết hết bí phương. Tuy tinh thông thuật về mèo nhưng ông ta cũng không thể nắm hết được Thứ Miêu nhi dược thiên biến vạn hóa đó.
Thì ra trong ngoài thành Linh Châu mọc rất nhiều thảo dược, giả dụ mèo bị rắn độc, bọ cạp cắn trúng, hoặc bị thương tổn gì, nó đều tự biết đi hái mấy loại thảo dược về nhai chung với thức ăn để trừ độc chữa thương, đó chính là Miêu nhi dược có thể trị khỏi nhiều bệnh, rất công hiệu, tuy nhiên, việc phối chế thuốc lại phải thay đổi theo thời tiết. Cho tới nay thì không ai biết bọn mèo hoang làm cách nào chế ra loại linh đan có công dụng cải tử hồi sinh đó.
Trương Tiểu Biện nói đến đoạn hứng khởi, bọn Nhạn Linh Nhi chăm chú nghe thì bỗng có một tiếng còi nhạn, ai nấy đều cả kinh, biết rằng có biến. Những tưởng trên đường gặp phải cướp, lại không biết kẻ địch có bao nhiêu, mọi người đều lăm lăm tay súng, nhưng chỉ thấy từ đằng xa có một vật đang phập phềnh trôi tới.
vật đó theo sóng dập dềnh trôi đến càng lúc càng gần, trong phút chốc đã cách đội thuyền của Nhạn doanh một khoảng bằng tầm bắn tên, mọi người mới nhìn rõ thì ra là một òn hồ ly già rất lớn đang ôm một quả dưa to, trôi nổi trên mặt nước . Con hồ ly ấy có một đốm trắng trên trán, thoáng nhìn trông như có ba con mắt. Nó nhướng mắt nhíu mày cười trên quả dưa, tuy gặp phải mấy chục chiếc thuyền của Nhạn doanh và hàng loạt mũi súng, cánh cung đang dương lên nhưng không mảy may sợ hãi, tỏ ra như không trông thấy ai.
Lính dõng Nhạn daonh tuy anh dũng thiện chiến nhưng rất mê tín vào quỷ thần. Thấy con hồ ly ba mắt đang cưỡi một quả dưa bơi trên sông, lại không biết sợ người, ai nấy cho rằng con vật kì quái này chắc hẳn đã thành tinh, có lẽ là điềm dữ, nhưng chỉ e giết nó sẽ gặp ơhari điều chẳng lanh. CHính vì vậy, họ chí dám giơ súng chứ nào ai dám động thủ hạ sát.
Nhạn Bài Lý Tứ thấy con hồ ly có vẻ quái dị, biết nó là vật chẳng lành, hẳn có gì cổ quái, bèn nghiến răng nói:” Con nghiệt súc nàh người đến thật không đúng lúc, xem ra kết thúc tính mạng của ngươi đây…” gã sợ tiếng súng gậy kinh động nhẹ nhàng rút loan cung đầu nhạn từ trên vai xuống, lắp một mũi tên lông đuôi nhạn trắng, chuẩn bị bắn chết nó. Trương Tiểu Biện vội ngăn lại nói:” Từ ca hãy khoan! Con hồ ly ba mắt này có lẽ là chủ tâm đến tìm chúng ta, không thể mạo muội giết được” thật đúng là:” Khuyên người chớ kết thù gây oán; thù oán đã gây tựa bể sâu” Muốn biết chuyện sẽ thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:00 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:16 pm
Hồi thứ năm: Hoàng Thiên Đăng


Lại nói, đám mây do Phong Vũ chung ngưng tụ đã hóa thành trận lụt lớn, bốn phía bên ngoài thành đều trũng thấp nên bị ngập trong nước lũ. Đội thuyền của Nhạn doanh rời thành Linh Châu, giấu kín hành tung, theo đường thủy tiến về Hoàng Thiên Đăng, dọc đường đi chỉ thấy cảnh tượng thể lương do cơn lũ gây ra.
Nào ngờ đi đến nửa đường, bỗng gặp phải một con hồ ly già ba mắt. Con hồ ly đó bám trên một quả dưa trôi từ đằng xa lại, trong chớp mắt đã đến cạnh mọi người. Nhạn Bài Lý Tứ thấy con vật rất quái lạ, không biết báo điềm lành, dữ ra sao, liền động sát cơ, giương cung lắp tên định bắn chết nó.
Trương tiểu Biện đứng trên thuyền nhìn chăm chú, chợt nhớ ra mình dã từng thấy con hồ ly này trong Hoang Táng lĩnh. Lúc ấy, nó bị bầy chó hoang đuổi vào tuyệt lộ, phải nảh viên nội đan để chuộc mạng, về sau Trương Tiểu Biện giết con Thát tử khuyển, móc được viên ngọc từ trong bụng con chó dữ. Viên ngọc đó do hồ ly hấp thụ tinh hoa từ mặt trăng, mặt trời lâu năm mới luyện thành, sao có thể để mất dược? Lúc ấy, nó cưỡi quả dưa dập dềnh theo dòng nước đến đây, chắc hẳn định đòi Trương Tiểu Biện trả ngọc.
Trương Tiểu Biện tuy chuyên nghề du đãng, là chúa thích gây rắc rối, nhưng trước việc quan cấp bách phải đến Hoàng Thiên Đăng để mai phục, chuyện thành bại, phú quý của cả đời hắn đều ở trận này. Hắn đâu dám sơ suất chút nào, đương nhiên không thể để lỡ chỉ vì một viên ngọc hồ ly. Nghĩ đến đây, hắn vội ngăn cung tên của Nhạn Bài Lý Tứ, lại nói đó alf hồ ly tiên không chừng, phàm lạ vật dị thường, tuyệt đối không được khinh suất sát hại, nếu không ắt sẽ rước họa vào thân, chi bằng mwor cho nó một con đường sống.
Hồi trước, Đường Thái tông Lý Thế Dân tha mạng cho một con rắn Xích luyện xà mà về sau có thể đăng cơ làm vua thiên hạ, Y thánh Tôn tư Mạo hồi trẻ cũng đã trị bệnh cho một con rồng già ở đáy giếng mới được truyền cho bốn cuốn kỳ thư, từ đó y thuật có bước nhảy vọt. Có thể thấy rằng, phàm là vật bất thường, chắc chắn sẽ có linh tính, nếu chưa từng gây họa cho nhân gian thì không nên tùy tiện giết nó. Kẻ tích đức được phúc, kẻ gây họa sẽ bị báo oán, trong cõi u minh đều có mối quan hệ nhân quả, xưa nay việc lành dữ, nhân quả đều ứng nghiệm về sau.
Nhạn Bài Lý Tứ nghe thấy thế, king ngạc nói:” Thì ra là thế”, đoạn liền thu loan cung đầu nhạn lại. Chỉ thấy Trương Tiểu Biện móc trong bọc ra một viên ngọc, giơ nhử về đằng trước, con hồ ly nhận thấy từ xa, tựa như hiểu ý. Vốn nó nấp trong thâm sơn cùng cốc, khi lũ lớn cuốn đến, vô số muông thú trong núi bị nước dìm chết, riêng nó cưỡi được một quả dưa nổi trên nước tránh được tai họa, may thay đã giữ được tính mạng, cũng không biết đã quẫy đạp mất bao nhiêu lâu, chẳng ngờ số trời run rủi, cơ duyên xảo hợp thế nào, rốt cuộc lấy lại được viên ngọc từ doanh nhân chữ Nhạn, thực đúng là:”Của rơi đáy nước nay tìm được; Kim mất bể sâu lại trở về” Con hồ ly trôi lại gần, há mồm nuốt viên ngọc vào bụng, tự vẫy đuôi chồn rẽ nước, ôm quả dưa trôi xuôi đi xa, chẳng mấy chốc khuất sau một dốc núi, không thấy tung tích đâu nữa.
Việc thiện, ác trong lòng người ta vốn chỉ wor trong một ý niệm mà thôi. Dẫu đã tính toàn kĩ càng hay chỉ một phút sơ ý, hễ phát sinh ác ý lập tức có hung thần đến ngay, nếu người ta có ý lương thiện lập tức sẽ có phúc thần phù trợ. Trương Tiểu Biện chẳng mấy khi nảy ra được lòng thành, không cho Nhạn Bài Lý Tứ giết con hồ ly ba mắt, tự cho rằng mình làm một điều nghĩa cử tích đức hành thiện. Nhưng thực chất, hắn cũng không biệt được đâu là yêu tà, đâu là thiện ác, việc làm đó rốt cuộc sẽ là lành hay dữ thì phải chờ xem đoạn sau mới rõ, trước mắt tạm chưa bàn tới.
Đoàn thuyền Nhạn dopanh đi tiếp hơn mười dặm nữa, trông xa xa thấy mặt nước mênh mông, lau lách mọc um tùm, cuối cùng cũng đã đi vào địa giới của Hoàng Thiên Đăng. Thuyền đi tiếp vào trong, nhòn bốn phía thấy từng cơn gió thổi qua khiến bông lau bay rợp trời, trên không trung xam xám, thi thoảng lại cso mấy con nhạn lạc đàn thảng thốt bay qua, cũng không biết đi đâu về đâu nữa, thực là:” Ngàn lau mặt nước tơ bay loạn; Đoàn nhạn trên không thoáng vụt qua”
Nhạn Bài Lý Tứ giải thích địa thế vùng này cho Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử:” Khu đầm lầy này vốn là một cái hồ cạn lớn, xưa nay là nơi đàn nhạn hoang di trú nhất định phải đi qua. Chỗ này, phía Bắc gần với Trường Giang, phía Nam giáp với Lục CHâu, không rõ là rộng bao nhiêu dặm, hình thế rất hiểm ác. Trong đầm còn có vô số chuột nước tha rơm rác, bùn đất tạo thành các con đê thiên nhiên, hình dáng như ba vòng đồng tâm. Đê của lũ chuột vô cùng đặc biệt, có thể điều tiết được lũ hồ lên xuống, vì vậy mặc cho bên ngoài nước lũ có to đến mấy, mực nước bên trong đầm vẫn không thay đổi, trpng cả một năm luôn giữ mức nước và bùn xâm nhập. Nhạn dân chúng tôi từ xưa tới nay đều sinh sống bằng nghề đánh cá và bắt nhạn, hiểu rõ các chỗ hố, vũng, ao, đầm và mực nước nông sâu”
Quân Thái Bình vây công Linh Châu không có quân thủy tiếp ứng, tới giờ bị đứt nguồn lương thảo, chỉ có thể rút về pía Nam theo đường bộ, nhưng đường xá vùng xung quanh đều dã bị lũ lụt làm hư hại. Quân Thái Bình kịch chiến mấy ngày trời, rốt cuộc không hạ được thành Linh Châu, muốn bỏ đi thì lâm vào cảnh không còn đường rút lui, vì vậy bất đắc dĩ pải men theo con đường đê của chuột nước trong Hoàng Thiên Đăng mà rút về Nam.
Trương Tiểu Biện thân làm doanh quan cảu Nhạn doanh, nhưng hắn chẳng thông hiểu gì về cách hành binh, bày quân bố trận, lại nghĩ thế quân Việt khấu cực lớn, bên mình chẳng qua chỉ có một doanh lính dõng, nhiều nhát cũng không đủ một nghìn người, ít hơn tới mười lần. Trước lúc đại chiến, hắn không khỏi lo ngại làm thế nào để đổi phó cho nổi.
May mà Nhạn Bái Lý Tứ từng theo Lão Nhạn Đầu đánh trận nhiều năm, chỉ có điều cánh nhạn dân như họ xuất thân từ đám mãi lộ, nên tuy dược thu dụng và biên vào lính dõng Linh CHâu, nhiều lần lập chiến công nhưng vẫn bị người ta dị nghị về quá khứ, trước sau khó được quan phủ tín nhiệm. Nhưng Nhạn Bài Lý Tứ và Trương Tiểu Biện trước sau đã kết nghĩa an hem, đương nhiên gã phải tận tâm, tận sức giúp đỡ. Gã điềm nhiên nói với Trương Tiểu Biện:” Tam ca chớ lo âu, nước đến thì đất chắn, binh đến thì tướng ngăn, quân tinh nhuệ của giặc tóc dài chẳng qua cũng chỉ một, hai phần mười, còn lại toàn đám ô hợp, căn bản không thể chịu được một đòn. Huống chi, hoàng Thiên Đăng là sào huyệt của ta, đường thủy ngoắt ngoéo phức tạp, người ngoài rất khó biết được. Đã dám đến địa bàn của chúng ta đây thì dù là Việt khấu cũng chỉ có đi mà không về, đến một đưa thì chết một đứa, đến hai đứa thì bỏ mạng hai đứa, chỉ sợ bọn chúng đến không đông mà thôi.
Nhạn Bài Lý Tứ nói xong liền giơ tay ra lệnh cho lính dõng dừng thuyền. trong doanh ai nấy đều mang theo một cái còi nhạn. Cái còi này chế ra từ xương sọ của nhạn hoang, khi thổi lên thì tiếng kêu hết sức thế lương, saau thẳm, có thể bắt chước được tiếng nhạn kêu. Lúc ấy, tiếng còi nhất loạt vang lên làm kinh động bốn bề.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử là người dân ngoài nghề, không biết vì sao toàn doanh lại thổi còi nhạn, chực hỏi rõ thì thấy từ đám lau lách, lối nước um tùm ở bốn phía bỗng xuất hiện vô số bè tre, người trên bè thì đầu đều cắm lông đuổi nhạn, người khóac áo tơi, nhưng trên tay đều cầm vũ khí giết người như súng tực hế, tiêu tre, chĩa đâm cá, phi tiêu ngạch, nhạn linh đao.
Vốn hồi trước, Lão Nhạn Đầu muốn tìm một kiểu thoát trong thời loạn thế nên dẫn rất nhiều dân loạn về thành Linh Châu làm lính dõng, nhưng trong đầm vẫn còn lại không ít thợ săn nhạn. những người ở lại tuy phần lớn đều là ông già, bà cả, phụ nữ, trẻ ưm nhưng xét trên tổng thể thì số người có thể cầm đao giết người cũng không dưới hai nghìn. Cho tới nay, nhwungx người này vẫn ẩn nấp trong Hoàng Thiên Đăng làm cái việc trăng lu giết người, gió lớ phóng hỏa, có thịt cùng ăn, không lương cùng nhịn.
Lính dõng trong Nhạn doanh đều là con em vùng Hoàng Thiên Đăng, nên khi hai bên gặp nhau thì vui mừng lắm. Nghe tin Lão Nhạn Đầu đã bỏ mạng ở trận tiền, mọi người nhớ lại những ân tình xưa kia, ai nấy đều thở than thương tiếc, nghiến răng nghiến lợi muốn báo thù rửa hận co lão thủ lĩnh. Khi cơn bĩ phẫn tạm nguôi, Nhạn bài Lý Tứ mới dẫn đám nhạn dân mãi lộ đến diện kiến Trương Tiểu Biện:” Trương tam ca có nghĩa khí hơn người, là bậc hảo hán khẳng khái. Con Thần Ngao ở Hoang Táng Lính, hòa thường Chuột thành đũa, Bạch Tháp chân nhân ẩn náu trong phủ Đề đốc đều bị Tam gia đây bắt sống, giết chết, đúng là người vì dân trừ hại, thiên hạ đều khen ngợi. Không chỉ như vậy, Trương Tam gia đây còn học được bản lĩnh do Miêu Tiên Đàm đạo nhân truyền lại, rất được tuần phủ đại nhân tin tưởng, tới nay, an hem Nhạn doanh chúng tôi đều đi theo Tam ca để giết giặc lập công”
Nhạn Bài Lý Tứ là con của Lão Nhạn Đầu, xét về võ nghệ và kiến thức thì gã là hảo hán số một trong mấy nghìn thợ săn nhạn. Đám thợ săn nghe gã nói như vậy thì thảy tin là thật, đều tranh nhau kết bái với Trương Tiểu Biện.
Trương Tiểu Biện thầm kêu:” Thật xấu hổ! Trương Tam gia ta cũng có ngày vẻ vang như hôm nay sao?” Đoạn, hắn mặt dày nói với đám nhạn dân rằng:” Không biết kiếp trước đã thắp bao nhiên nén hương mà kiếp này được kết giao vói biết bao huynh đệ, thực là không uổng một đời tiểu đệ đây. Trương Tam vốn là người thẳng tính, xưa nay chưa từng học lối uốn giọng khom lưng, nịnh nọt bợ đỡ. Hôm nay đến đây, chính là quyết chém giết với Việt khấu tại Hoàng Thiên Đăng, chỉ mong các vị hảo hán rút đao tương trợ. Có câu rằng:” Hổ chết để dạ, người ra để tiếng”. Cam chịu chôn vùi trong đám bụi đất, thảo mãng, chẳng bằng làm một hảo hán oanh oanh liệt liệt, lập nên kỳ công bất hủ, bình định giặc giã, ắt sẽ được sử sách nghìn thu ca tụng, cũng là để hậu thế còn biết đến rằng, dưới gầm trời này cũng từng có tên tuổi Nhạn doanh chúng ta”
Trương Tiểu Biện hiểu rằng, nhạn dân đều xuất thân nghèo khổ, có câu rằng:” ngừơi nghèo chí hèn, ngừi quèn lắm mộng”, đối với những người chỉ hiểu việc trượng nghĩa một cái hết sức giản đơn thì những trung quân ái quốc, sử sách lưu danh không thích hợp để nói ra, vì vậy hắn mạnh bạo ba hoa một phen:” Từ khi Việt khấu làm loạn đến nay, đánh từ Nam đến Bắc cướp châu, đoạt phủ, đã thu được không biết bao nhiêu vàng bạc, lụa là, đó đều là của bất nghĩa, vì vậy chúng cũng giàu có chẳng khác nào cánh thương nhân buôn bán hàng hóa. Hơn nữa, nghe nói những tên đầu sỏ của bọn giặc đều là những tên cướp biển có tiếng, từng cướp rất nhiều thuyền buôn của cánh người Tây Dương, vì vậy thu được nhiều Kim Dương tiền. Ngoài ra chắc hẳn những tên từng làm cướp biển sẽ tìm được kho báu của Long cung, những vật lấy được đương nhiên đều là những kỳ trân dị bảo, đã là châu thì ắt là châu dạ quang, đãlà ngọc thì ắt là ngọc bích Doanh Xích. Bây giờ, triều đình to nhỏ đều coi việc dẹp yên giặc giã làm đầu, chỉ cần các nơi tiêu trừ sớm nạn việt khấu thì những của cải trên người bọn giặc tóc dài, ai có bản lĩnh, có gan lớn để lấy được thì sẽ thuộc về người ấy, sau này quan phủ sẽ không truy cứu”
Trước đây, Trương Tiểu Biện đã phân phát một ít Kim Dương tiền cho lính dõng Nhạn doanh.”Kim Dương tiền: là cách gọi trong dân gian, kỳ thực là tiền vàng của nước ngoài. Tuy chúng không chính thức lưu thông, giao dịch trong nước Đại Thanh nhưng đều là vàng thật, bạc trắng chính cống, lại được đúc hết sức tinh tế, ai nhìn thấy mà chẳng mừng? Chính vì vậy giá cảu chúng rất cao, vượt quá giá trị thực. Nhạn dân nghe nói trên người Việt khấu đều giắt vàng bạc, của cải thì đều phấn chấn, nhao nhao bày tỏ ý nguyện theo quân giết giặc.
Bên cạnh đó, Nhạn Bái Lý Tứ chọn mấy người có mối quen biết với cánh mãi lộ, cướp cạn, sai thuyền đi Phi Nhạn lệnh để tụ tập lại cả đây. Bây giờ chiến loạn kèm theo thiên tai khiến dân các vùng đều không còn đường sống, thấy trước mặt có một cơ hội phát tài thì đều không ngại hiểm nguy mà hưởng ứng, trong một ngày đã tụ tập được năm, ba ngìn người, phân thành các đội trên bộ, dưới nước, mỗi đội do một viên tiêu quan cảu Nhạn doanh thống lĩnh, lại dự bị nhiều súng và thổ pháo, bố trí nhiều tầm vông, tên nỏ để mai phục trên các bè nhạn ở khắp nơi.
Tới tờ mờ sáng hôm sau, thám tử về báo, đã trông thấy đại đội người ngựa của quân Thái Bình rung rung trảy đến, quân sĩ ken dày như kiến, đội ngũ cuốn rời rợp đất, không thấy đầu đuôi, chẳng rõ rốt cuộc có bao nhiêu người ngưa. Nhạn Bài Lý Tứ hạ lệnh cho các đội người ngựa phân tán vào đám lau lạch, giấu kín hành tung, khi nào nghe tiếng còi nhạn thì mới nhất tề xông lên chém giết. Một trận huyết chiến sắp nổ ra, thật đúng là:” Lạnh mặt trời, ngút cao sát khí; Buốt mây trôi, ảm đạm khói lang” Muốn biết chuyện sẽ thế nào, xem hồi sau sẽ rõ





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:01 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:17 pm

Hồi thứ 6: Mèo gào



Lại nói Nhạn doanh với một nghìn lính dõng hội hợp với nhiều cánh cướp cạn, mãi lộ mai phục trong Hoàng Thiên Đăng, bố trí thế trận thiên la địa võng chết người. Những người đó phần lớn đều xuất thân làm nghề săn nhạn và đâm cá, quen các ngón nghề mai phục, trong khu đầm lầy lại có cỏ nước, lau lách um tùm dày đặc, kín tầm mắt, che dấu đi sát cơ nguy hiểm ở bên trong. Cả một vùng nước hoang dã, lạnh lùng, im lìm, người ngoài căn bản không thể nhìn thấy điểm nào khác lạ.
Tới tờ mờ sáng, khi giọt sương đầu ngọn cỏ còn chưa tan, trong vùng nước xẫm ấ, lau lách mênh mông, từng dám sương dật dờ bay, đã trông thấy quân Thía Bình tiến vào Hoàng Thiên Đăng, Trương Tiểu Biện vội sai Nhạn Bài Lý Tứ ở lại cắt đặt lính dõng, chuẩn bị phục kích. Hắn mang con mèo đen, rồi sai Tôn Đại Ma Tử và Nhạn Linh Nhi làm người tùy tùng cùng chống một cái bè nhạn ra đến vùng nước sâu nhất là khu “Mộ Nhạn”
Mộ Nhạn này vốn là một núi đất ở giữa Hoàng Thiên Đăng, sau này bị nước nhấn chìm, nghe đồn, trong đàn chim di trú theo mùa giữa phương Bắc và phương Nam ấy vốn có rất nhiều con tuổi già sức yếu hoặc giữa đường bị bệnh tật không qua được, chúng biết không thể bay tiếp tới đích, đành đậu lại trên Mộ Nhạn chờ chết. Khi chúng sắp tuyệt mệnh vẫn ngẩng đầu lên nhìn trời trừng trừng, trông đồng loại dang vỗ cánh trên không trung. Từ xưa tới nay không ai rõ vì sao những con chim di trs hoặc nhạn hoang sắp chết đều đậu lại trên Mộ Nhạn này. Nhưng. Nhạn dân luôn luôn sùng bái nghĩa khí, giũ phong tục xa xưa truyền lại, không bao giờ sắt hại những con chim di trú đáp xuống xung quanh vùng Mộ Nhạn.
Bên cạnh đó, Mộ Nhạn còn có một truyền thuyết khác mà ngay cả những thợ săn già nhất trong đám nhạn dân cũng không biết rõ nguồn gốc, chỉ truyền miệng cho nhau từ đời này sang đời khác. CHuyện kể rằng, vào khoảng cuối đời Đường, trong thời kỳ Ngũ đại Thập quốc, có một tướng quân đã bị người ra hại chết ở đó. Nhạn dân trong đàm thương tiếc trước cái chết tráng liệt đã dựng một cái miếu tuềnh toàng ở Mộ Nhạn để chôn cất thi thể của vị Tướng quân nọ, năm nào cũng thắp hương cùng bái.
Đến những tượng đất nơi miếu hoang nếu thường xuyên nhận hưng thì cũng còn linh thiêng, huống gì bộ hài cốt trong miếu Thổ địa là một vị tướng quân phải ngậm hờn mà chết. Không rõ có phải vị anh linh trường tồn bất diệt hay không mà từ khi trên Mộ Nhạn có tòa “Tướng quân miếu”, núi đất bắt đầu sụt lún, cuối cùng chìm xuống dưới nước, sau đó điềm trời bất thường, có vô số chuột nước bắt đầu tha rơm rác, đá gỗ đến đắp xung quanh Mộ Nhạn một vòng đê kéo dài đến mấy chục dặm khiến cho các dòng nước đổ vào Hoàng Thiên Đăng được lưu thông, nuôi dưỡng đám cỏ nước mọc rậm rạp, ngay cả hạn hán cũng không ảnh hưởng tới được.
Chỉ có điều từ đó trở đi, trong vùng đầm lầy lau sậy này thường có những trận gió âm và sương mù xuất hiện, khiến cho trời đất biến sắc, nước mây mờ mịt, những hiện tượng dị thường này lúc có, lúc không,trước giờ không theo một quy luật nào cả. Nhạn dân thường bảo ấy là oán khí chưa tiêu tan của vị tướng quân trong Mộ Nhạn kia, chỉ cần một trận gió âm nổi lên là báo hiệu trên thế gian có tai họa như binh đao, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh.
Trước đấy, người ta rất tin vào câu chuyện này, cứ đầu năm lại mua những đứa trẻ nhà nghèo ở ngoài tỉnh, phối thành một cặp đồng nam, đồng nữ, rồi cho trang điểm chỉnh tề, nèm xuống vùng đất xung quanh Mộ Nhạn, dìm chết để nuôi cá, cầu xin thần linh dưới nước bớt giận, phù hộ cho phương này được bình yên vô sự. tuy nhiên, việc làm đó còn chưa thấy tác dụng thực sự đâu, mặc cho đám ngu dân tha hồ cúng bái, chiến sự, thiên tai vẫn cứ thế nổ ra. Chính vì vậy, dần dần hương lửa chõ này trở nên lạnh lẽo. Cho tới cuối thời Minh, phong tục tàn nhẫn đó mới bị xáo bỏ hoàn toàn.
Trương Tiểu Biện nhớ hồi ở trong Miêu Tiên từ lúc gặp Lâm Trung Lão Quỷ lần thứ hai từng đưuọc lão mách bảo rằng tướng tinh của hắn đang chiếu, sẽ phát ở nghiệp vô trong thời loạn thế, chỉ cần làm theo những lời cặn dặn của lã thì dẫu dẹp loạn hay giết giặc, cũng ắt định là thắng. nay muốn thủ thắng ở Hoàng Thiên Đăng thì phải dùng con mèo đen để lôi di cốt của tướng quân trong Mộ Nhạn ra, nếu sơ suất chút nào thì toàn quân sẽ bị tiêu diệt ngay.
Thường có câu:’ Mật ngọt chết ruồi”. Câu đó thật không sai, nhưng Trương Tiểu Biện bị ma quỷ mê hoặc, cứ xem lời Lâm Trung Lão Quỷ như khuôn vàng thước ngọc, bảo sao là làm vậy, đương nhiên việc thành bại hôm nay hắn chỉ trông chờ vào mỗi việc đó mà thôi, thế nên vội vội vàng vàng đến Mộ Nhạn, thật đúng là:” Lòng như tên bắn còn e chậm; chạy tựa đằng vân thấy chẳng nhanh”
Nhạn Linh Nhi là người dẫn đường, từ nhỏ cô đã lớn lên ở Hoàng Thiên Đăng, đối với đường thủy các nơi đều thông thuộc. Cô chống bè nhạn trên mặt nước, len lỏi trong đám lau sậy rậm rạp lòa xòa, đưaTrương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đến một vùng nước rộng, chỉ thấy nước ở quãng lau lạch sâu trong đầm, phẳng lặng như gương, khói sóng man mác, hết sức thanh u.
Nhạn Linh Nhi chống sào dừng bè, nói với Trương Tiểu Biện:” Tam ca! Nơi đây chính là Mộ Nhạn, chỗ tòa miếu tướng quân chìm dưới đáy nước thường có xoáy mạnh, hút người ta xuống, mức nước nông sâu khó mà biết được. Nhiều năm nay, không ai dám thăm dò cho rõ thực hư”
Trương Tiểu Biện không thạo bơi lội cho lắm, nhiều nhất cũng chỉ quều quào chân tay như chó bơi mà thôi., bây giờ đang ở trên mặt nước nên hắn không khỏi run sợ nhưng vẫn nói cứng:” Người làm đại sự không câu nệ tiểu tiết, Nhạn doanh chúng ta toàn là hảo hán, khi hành động thì chỉ cần hợp với lương tâm trong vòng trời đất chứ không cần phải đắn đo về lời xì xào cửa người ta, sao phải tin vào những chuyện quỷ thần huyễn hoặc ấy? Bọn các ngươi chỉ cần đứng xem cho rõ Tam gia ta làm thế nào mời vị tướng quân bị vùi thây dưới đáy nước ra diện kiến là được”
Tôn Đại MA Tử vốn xưa nay không sợ quỷ thần nhưng hết sức kính trọng các bậc anh liệt thời xưa, bây giờ đang chuẩn bị ác chiến với lũ Việt khấu, không hiểu vì sao Trương Tiểu Biện đột nhiên muốn làm một chuyện kì quái như vậy. Nghe thế, gã vội khuyên ngăn:” Cha mẹ ơi, chuyện này không phải chuyện đùa đâu. Xét ra thì vị tướng quân kia cũng alf bậc thủy thần oanh liệt, tam đệ sao lại mạo muội làm kinh động đến ông ta?”
Trương Tiểu Biện nói:” Nếu quả thực ông ta ở dưới nước có linh thiêng thì đáng ra phải giúp đỡ Nhạn doạn chúng ta dẹp yên giặc”. Nói đoạn, hắn sai Nhạn Linh Nhi chống bè tới sát chân đê. Trên thân đề đầy những miệng hang to chừng nắm đấm, đám chuột nước đào hang dày đặc, thông với nhau. Chuột nước là loài gần giống hải ly, cũng có răng nanh sắc nhọn, có thể gặm đổ thân cây cổ thụ nghìn năm,giỏi việc đắp đập, xây đê. Nhưng, chuột nước ở Hoàng Thiên Đăng được dân gian truyền nhau gọi là Chuột cống nước hoặc là Âm Thử Tinh, không phải đồng loại với họ hàng nhà hải ly. Chúng thích những nơi lạnh lẽo, ẩm thấp, tính tình tàn nhẫn, giảo hoạt, có thể bơi dưới nước lôi cá lớn lên bờ, lại có thể cắn chết, ăn thịt những con chim nước hoặc nhạn hoang đang đậu trên lau lách, những con chuột lớn thậm chí có thể bắt giết cả mèo già. Ở trong đầm lầy, chúng lợi dụng khí âm tụ tập mỗi lúc một đông, nhiều không kể xiết, chỉ riêng có mèo khoang Linh Châu mới khắc chế được chúng.
Trương Tiểu Biện chiểu theo thuật xem tướng mèo do Lâm Trung Lão Quỷ truyền thụ, đêm Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu đảy tới gần hang chuột nước. Loài mèo hễ ngửi thấy mùi hôi tanh là lập twucs phát tá, tuy mèo khoang Linh Châu xưa nay không bắt chuột nhưng trời phú là thiên ddihcj của loài chuột, con mèo khoang vừa ngửi thấy mùi tanh nồng xông lên từ hang chuột nước liền không thể nhịn được, kêu “gàoo…o” lên một tiếng.
Có thể bạn đọc sẽ muốn hỏi, thế nào là “gàoo…o” lên? Vốn là, tiếng kêu của mèo từ xưa tới nay chia thành một số mức độ. Phần những con mèo nào kêu được tiếng “gàoo…o” thì quý nhất, còn những con mèo lười nhác chỉ chuyên nằm gác bếp sưởi ấm thì tiếng kêu là “meo”. Tiếng kêu uy mãnh nhất của loài mèo được gọi là”mèo gào”. Con mèo đen gào lên một tiếng thật khác thường, đúng là:” Vọng chín tầng trời, mây phải dạt; Vang vào khe suối, cá đều kinh”
Trong “Miêu kinh”, có câu rằng:” Con mèo trong mắt có đường kim tuyến thì tiếng như hùm hổ. sư tử,trông nhà nằm ngoài sảnh, dẫu ngủ thì chuột cũng chết”. Những con Âm Thư Tinh dưới nước rất sợ tiếng mèo gào, chỉ cần nghe hơi là đã chốn ráo. Nỗi sợ của chúng nhanh chóng lan ra khắp nơi, một đồn mười, mười đồn trăm, cả bầy chuột nước đang ẩn nấp trong các hang hốc trên thân đê thảy như có tai họa lớn sắp ập xuống, thế là già bám trẻ, mẹ ngậm con, nhao nhao lao ra khỏi các miệng hang, chạy tràn ra bờ đê như một cơn thủy triều.
Cả bọn Trương Tiểu Biện không ai ngwof mấy tiếng mèo kêu mà có thể gây ra cơ sự đến thế, chiê thấy vô số con chuột cống nước da bóng lông mượt, răng nhọn nanh sắc đang tranh nhau cướp đường chạy trốn, lũ lượt tựa như những luống nước đục đang vọt ra tứ phía, khiến người ta cảm thấy như trời sắp long, đất sắp lở, ngày tận thế đã tới vậy. Cả ba người đều thấy hết sức kinh dị, toàn thân nổi gai ốc. Nhạn Linh Nhi vội chống bè ra giữa vùng nước, chỉ mong chạy càng xa càng tốt.
Số lượng chuột cống nhiều tới mức kinh người. Con đê “chuột” chật hẹp, vốn không thể đủ chỗ cho chúng tháo chạy, có rất nhiều con chuột bị đẩy xuống nước. Loài Âm Thử Tinh đó bẩm sinh đã rất giỏi bơi lăn, đám chuột bị rơi xuống nước tranh nhau bơi đi, lập tức khiến mặt nước vốn đang yên tĩnh bỗng nổi lên sùng sục như thể người ra mở nắp vung nồi nước sôi vậy.
Đột nhiên trên mặt nước nhấp nhô, xuất hiện một xoáy nước cực lớn khiến những con chuột ở gần bị hút xuống dưới, sự việc càng khiến bầy chuột trỏ nên hoảng loạn. Nhạn Linh Nhi kêu lên:” Không xong rồi! Chắc hẳn đó là con My Độn Lăng Ngư vốn tiềm phục dưới đày nước Hoàng Thien Đăng” Cô biết con casnayf rất lợi hại, cả bọn lại ở trên mặt nước, khó mà chống đỡ, liền nhanh chóng đẩy bè nhạn cập vào một chỗ đất cao gần đó. Vốn đây là một thân cây cổ thụ đã bị chặt còn trơ gốc, miễn cưỡng có thể đặt chân được.
Ba người vừa đặt chân trước lên gốc cây thì bè đã lật nhào. Chỉ thấy sóng nước rẽ làm đôi, từ trong vọt ra một con cá to như bầy thủy quái, thấy đầu không thấy đuôi. Đầu cá còn lớn hơn cả cái cối xay cỡ đại những ba lần, mặt cá giống hệt mặt người, màu da như màu đá, cái mồm rộng đến khiếp hãi đang mở rộng hút nước, liên tục nuốt sống những đám Âm Thử Tinh đang tập trung bên cạnh,
Vạn vật trên thế gian tuân theo vòng luân hồi của vòm trời, có câu rằng dùng muối chế đậu hũ, vật này trừ vật khác. Đàn chuột nước tập trung trong đầm rất nhiều, tự sinh sẽ sinh ra loài cá My Động Lăng Ngư chuyên ăn thịt chuột nước. Cái gọi là “My Động” có nghĩa là hút nước. Loài cá này xù xì như tảng đá, cả năm trời cứ nằm phục dưới đáy nước không động đậy nhưng lúc nào đàn chuột nước tập trung làm mặt nước động mạnh thì con cá này mới xuất hiện, lôi theo bùn cát dưới đáy nước vọt lên, khiến cho mặt nước như bị lật nhào.
Tôn Đại Ma tử không biết loại My Động Lăng Ngư này, tưởng là thủy thần hóa thành. Gã trông đến đờ người ra, nhưng Nhạn Linh Nhi thì biết con Lăng Ngư hút nước, sức có thể nuốt cả trâu, ngựa. Cô không hiểu việc làm vừa rồi của Trương Tiểu Biện rốt cuộc nhằm mục đích gì, đành hỏi:’ tam ca, đại quân Việt khấu sắp sửa đến nơi rồi. giờ huynh còn đi bắt cá là sao?”
Trương Tiểu Biện vốn là một kẻ du đãng. Lưu manh, tuy lâm vào cnahr nguy hiểm nhưng cũng không quên chu môi thò mỏ liens thoắng nói:’ Muội tử không biết đấy thôi, trong nhà Tam ca ta còn có mẹ già tám mươi tuổi, chỉ mong bắt con My Động Lăng Ngư về để bán kiếm tiền nuôi mẹ thôi…”
Nhạn Linh Nhi nghe thấy thế rất cảm động. nghĩ bụng:’ Doanh quan Trương Tam ca của Nhạn doanh chúng ta chẳng những đa mưu túc trí, cử chỉ khẳng khái, nghĩa khí hơn người mà còn là một người con hiếu thảo hiếm có, đến lúc chuẩn bị đánh trận mà cũng còn không quên việc phụng dưỡng bà mẹ tám mươi tuổi ở quê. Tục ngữ có câu:” Vạn điều ác, tội dâm lớn nhất; Trăm việc lành, lấy hiếu làm đầu” Thời nay đã không còn như xưa, có được người như thế mới thật là đáng quý” Từ đấy cô càng thêm kính phục Trương Tiểu Biện.
Nhưng, Trương Tiểu Biện chưa kịp nói hết câu, con Lăng Ngu đọt nhiên quẫy đuôi, giương vây, từ trong miệng hộc ra bộ xương người. Bộ xương ấy rất to lớn, tuy da thịt toàn thân đã tiêu tan hết chỉ còn lại xương cốt trắng nhởn, nhưng hình dáng khôi vĩ đó vẫn còn lớn hơn Tôn Đại Ma Tử nửa cái đầu. Bên ngoài bộ xương, toàn thân nhân dưới đều mũ mão, nai nịt tề chỉnh. Mũ kim khôi là loại Nhật nguyệt phi hổi khôi, áp giáp là loại giáp liên hoàn trăm vòng sắt, bịt vai hình mặt thú, hộ tâm dắt bằng đồng, dây buộc bằng sợi gân bò, chiến bào thêu chim Anh vũ, chẳng biết vì nguyên cớ gì mà bộ nhung giáp đó còn nguyên như mới
Trương Tiểu Biện nấp ở gốc cây nhìn thấy rõ ràng, nghĩ bụng:” Dúng là Miêu Tiên gia hiển linh, rốt cuộc cũng mời được vị’ lão gia” từ dưới nước lên. Bộ xương này đã vùi dưới đáy nước nghìn năm, quả nhiên vì lâu lăm nên đã tích tụ nên yêu khí. Không rõ sau khi hiện hình thì nó sẽ tác yêu tác quái thế nào? Đúng là:” Mây xanh nào có ý gì; Chẳng qua ngọn gió đưa về mà thôi”. Muốn biết bộ xương của tướng quân này làm thế nào giúp Nhạn doanh giết giặc lập công, xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:05 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:17 pm
Hồi thứ 7:Huyết chiến

Lại nói, vùng Hoàng Thiên Đăng, đường thủy đan xen chằng chịt, lau lách trải rộng hàng vạn khoảng, đất rộng, dân thưa. Xưa nay là sào huyệt ẩn náu cảu đám hảo hán lục lâm chuyên chặn đường cướp của, mai phục giết người. Không biết khách qua lại đã bị giết oan vì vậy âm khí trong đầm rất nặng.
Lời tác giả: Năm xưa, khi ngôi mộ tướng quân ở Mộ Nhạn bị chìm xuống đáy nước, miếu thờ đổ nát thi thể của vị tướng quân nọ bị My Động Lăng Ngư nuốt vào bụng. Nhưng đó là di cốt của bậc anh hùng thời xưa, trên người lại mặc bộ áo giáp hộ thân quý báu, có thể tránh được lửa nên đã tạo thành một vầng khí sáng vô hình, vô chất dày đặc, bao xung quanh. Vì vậy, dẫu nằm trong bụng cá, xương thịt đã rữa nát hết nhung bộ xương mặc giáp trụ vẫn không hề bị tiêu hóa.
Con My Độn Lăng Ngư hết sức tham ăn, lúc ấy chỉ mong nuốt đầy bầy Âm Thử Tinh dang bơi dưới nước, nhưng bộ xương nọ choáng hết chỗ trong khoang bụng nên nó khó lòng ăn cho sung sướng, đành phải hộc ra khỏi dạ dày. Chỉ thấy nước đne vọt ra cuồn cuộn trong miệng con My Động Lăng Ngư, một bộ xương còn mặc nguyên khôi giáp được phun ra, trắng nhơn nhởn, ướt đầm đìa. Trên cái đầu lâu, hai hốc mắt sâu thẳm như cái lỗ đen vô thần nhìn thẳng lên không trung. Bộ xương được bộ giáp báu nâng đỡ, cứ thế dập dềnh trôi nổi trên mặt nước.
Trong Miêu Tiên từ, Lâm Trung Lão Quỷ đã từng mách bảo Trương Tiểu Biện rằng:” Chỉ cần ngươi trông thấy Bạch Cốt tướng quân trên mặt nước thì Nhạn doanh nhất định đại phá đưuọc Việt khấu”, các tình tiết cụ thể hơn thì chẳng nói một chút nào.
Trương Tiểu Biện nghĩ đến vỡ óc cũng không đóan được chỗ ảo diệu bên trong. Tuy hắn rất tin tưởng vào chuyện đó nhưng khi chuẩn bị đánh trận tới nơi thì lòng lại thấp thỏm không yên, thầm chửi đổng rằng:” Con bà thối tha nhà nó chứ, trông cái bộ xương to trong Mộ Nhạn này tuy hồi còn sống chắc oai phong lắm nhưng bây giờ chẳng qua chỉ là một đống xương vô tri vô giác mà thôi, làm sao chỉ nhờ vào nó mà thắng trận được? Thằng cha Lâm Trung Lão Quỷ không biết uống nhầm thuốc gì nữa? Nhỡ lão ta nhất thời hồ đồ tính nhầm, bày kế cho ta, chẳng hóa ra liên lụy đến cái mạng nhỏ Trương Tam gia này phải chịu chết ở đây hay sao?”
Đang lúc nghĩ ngợi lung tung, bỗng một trận gió âm thấu xương thẩu đối. trận gió này không phải tầm thường. thật là: cuốn dậy đất bằng nơi Địa ngục, thổi tung bụi núi Phong Đô, trong phút chốc, đất trời biến sắc, mây mù đều tan. Trương Tiểu Biện toàn thân rét run lên, nhìn vào mặt nước thấy cả con My Động Lăng Ngư lẫn bộ xương trắng của vị tướng quân đều đã chìm xuống đấy nước, chỉ còn lại đàn chuột cống đang nhào nhào cướp đường bộ chạy trên dưới chân đê.
Nhạn Linh Nhi thấy mây mù tan hết, không dám chậm trễ, vội vã lật lại cái bè vừa bị úp trên mặt nước, kéo Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử lẩn vào trong đám lau sậy để hội hợp với cánh lính dõng Nhạn doanh đang mai phục gần đó.
Trương Tiểu Biện rạp trên bè, trong lòng chợt thấy hồ nghi không thôi, không hiểu bộ xướng của vị tướng quân vùi thân dưới đáy nước có tác dụng gì. Hắn đâu có biết rằng, bộ giáp báu mặc trên bộ xương vốn là một cổ vật đã từng trải qua nhiều chinh chiến, sát khí tích tụ trên đó rất nặng, thêm vào đó, nghìn năm nay không phơi ra trước ánh sáng mặt trời, lần này xuất hiện khiến trong khoảng khắc, gió âm nổi dậy, thổi cho hàng vận bông lau lay động, lại khiến cho đám mây mù mỏng manh đang che phủ Hoàng Thiên Đăng bị cuốn sạch đi, làm tiêu tan hết sát khí. Bộ bảo giáp sau đó tàn thành từng mảnh vụn rồi cùng bộ xương chìm xuống đáy nước Mộ Nhạn.
Trận gió đến đi quá nhanh nhưng đó là then chốt thành bại của việc quân, ảnh hưởng vô cùng lớn lao. Thơ cổ có lời rằng:” Gió đông chẳng mến Chu Lang; Thi dài Đồng Tước đã giam hai Kiều” Đó là thời Tam Quốc giai đoạn Hậu Hán, trước khi nổ ra trận Xích Bích, nếu không có hiện tượng cá trạch đào hang báo hiệu có gió đông thì những khổ nhục kế, liên hoàn kế, phân gián kế dẫu tinh vi đến mấy cũng vứt đi. Nhược bằng Vũ hầu Gia Cát Lượng không mượn được gió Đong thì làm gì có trận hỏa thiêu liên hoàn của quân Tào? CHính vì vậy, có một bài tán, tán tụng riêng về cái hay của gió trời rằng:”
Bay. Bay, bay;
Gió Nam Bắc Đông Tây;
Bóng hình đâu chẳng thấy;
Cuốn sạch bụi trần ai;
Giúp trời vén hết mây;
Bắt hoa dương, thổi liễu gầy;
Lòng sông đưa đẩy thuyền này lênh đênh;
Đỡ mây trắng, rời núi xanh;
Nhẹ vờn lá cây cành một phen.
Xuyên song cửa, lọt qua rèm;
Rung rinh bóng lửa, ánh đèn lúc khuya.
Bộ giáp báu dưới đáy Mộ Nhạn lmaf dậy lên một trận gió âm thì có liên quan gì đến việc Nhạn doanh mai phục trong Hoàng Thiên Đăng? Số là, Việt khấu khởi binh đánh thành Linh CHâu, dụng quân lâu ngày mà chẳng nên công cán gì, lại thêm bốn phía nước lụt dâng cao, lương thảo cnaj kiệt khiến lòng quân hoảng loạn, đành phải nhân lúc mưa ngừng để vội vã rút lui.
Nhưng đường cái quan phần lớn đã bị lũ lụt làm sạt lở, nhiều nơi hoàn toàn không cso đường để đi, chổ duy nhất đủ để cho đâị quân vyowtj qua là Hoàng Thiên Đăng. Đại đội người ngựa quân Thái Bình cuốn cờ im tiếng, rút lui trong đêm, vòng vèo quanh co đi theo đường núi, lục tục đến bờ đầm thì đội ngũ đã không được chỉnh tề, người nào nguwofi nấy lê bước uể oải. trời tảng sáng, trong đầm chỉ thấy toàn là mây mù mỏng che phủ, im lặng đến lạ lùng.
Thủ lĩnh quân Thái Bình là người từng trải sa trường, hiểu rõ binh cơ, lại cực kỳ đa nghi, nhìn động tĩnh mà đoán được tình hình. Hắn tuy biết xung quanh Linh Châu không có đội quan binh nào lớn nhưng khi tới đây, thấy đám mây mù trong Hoàng Thiên Đăng có ẩn náu sát cơ, liệu chừng nơi đây rất nguy hiểm, nhất thời không dám khinh suất đi vào, định phái thám tử dò la tìm đường khác.
Ngay lúc ấy, bỗng thấy trong đầm xuất hiện rất nhiều chuột chạy vọt qua bên cạnh, trốn vào vùng đất hoang, đồng thời , giữa khoảng trời đất lại xuất hiện gió mạnh cuốn tới, quét sạch mây mù, viên thủ lĩnh quân Thái Bình thấy thế liền lập tức trấn tĩnh trở lại. Hắn hiểu rõ, loài chuột nước vốn sợ người, thấy người ắt sẽ chui vào hang, chúng chạy lung tung khắp nơi thế này, nhất định trong Hoàng Thiên Đăng không có phục binh, chắc chỉ là trái gió trở trời nên mới như thế mà thôi. Hơn nữa, bụi bặm, mây mù đã hơi tan, hắn sợ chậm trễ sẽ bị lạc đường, thầm tính toán rằng, nếu bên trong có vài tên thảo khấu, cướp cạn đang ẩn nấp thì cũng chẳng dám xông vào đại đội người ngựa của ta, trừ phi chúng chán sống.
Thêm vào đó, vất vả hành quân đã trọn một đêm, sĩ tốt đều mệt mỏi, vì vậy, quân Thái Bình trở nên sơ suất, chẳng thèm phái thám tử đi trước dò đường, từng đợt cứ thế chen nhau tiến lên, men theo các bờ đê chuột để đi vào vùng lau lách rậm rạp. Đoàn quân dày đặc, nối đuôi nhau như một con rắn dài, thấy đầu không thấy đuôi, đi xuyên qua Hoàng Thiên Đăng, chầm chậm đi xuôi về phía Nam.
Trung quân đã trảy vào vùng giữa đầm, đang hớt hải đi vỗng nghe thấy một tiếng còi nhạn thê lương vút lên lanh lảnh như xé toạc cả không gian mờ mịt. tiếng còi chưa dứt, đã thấy có vô số bè nhạn xuất hiên ở trong đám lau sậy ở bốn phương tám hướng. Các bè nhạn phía trên có đặt thổ pháo, lại có nhiều lính dõng giơ súng nhất tề bắ thẳng vào đám quân Thái Bình vốn không chút phòng bị trên thân đê.
Trong phút chốc,tiếng pháo, tiếng súng nổ vang trời nhức óc. Trong đầm, khói súng mù mịt, máu thịt tung tóe. Tướng sĩ quân Thía Bình không kịp đề phòng, đến nằm mơ cũng không tưởng tượng nổi trong đầm lại có quân Thanh, vả lại trông tình hình thì không phải là một cánh quân nhỏ. Các bè nhạn thoắt ẩn thoắt hiện trong đám lau sậy um tùm, không rõ có bao nhiêu quan quân nữa.
Hơn nữa, khí quân Thái Bình trảy qua lại bày thành trận trường xà hình chữ nhất, khi đột ngột bị đánh vào khúc giữa thì người ngựa ở đầu đuổi không kịp tiếp ứng lẫn nhau, thêm vào đó, trong lúc lòng quân đang không yên lại đột ngột bị tấn công trên bờ đê chuột chật hẹp, binh lính chen chúc, người chạm người dẫm đạp lên nhau, ngựa đụng ngựa thảy nằm đầy đất. Cả đại đội người ngựa hỗn loạn, súng giương lên mà không bắn được một phát nào.
Trong khi đó, nhạn doanh đã chuẩn bị mai phục từ lâu, đúng là một bên ở ngoài sáng, một bên trong bóng tối, cứ một loạt súng nổ lên là quân Thái Bình đổ rạp một mảng người, số lính bị giết quá nhiều, các thi thể rơi xuống nước nhuốm đỏ cả mặt hồ.
Cánh quân Thái Bình vây công thành Linh Châu, phần lớn là tù binh và dân chạy loạn, mười phần thì có đến bảy phần là quân ô hipwj, vừa bị tấn công là lập tức hoảng loạn tan vỡ. Quân lính không biết đầm lầy nông sâu thế nào, hàng vạn người cứ nhè vào chỗ vũng nước không có quan quân bắn giết mà lao tới, cũng không có ít người đua nhau nhảy xuống nước chạy trốn, tướng lĩnh cầm đầu hô hoán cũng không ngăn cấm được, đành phải rút dao chém ngã mấy tên lính bỏ trốn. Thế nhưng, quân thua như núi lở, hò hết thế nào cũng không cản nổi.
Nhạn doanh đã chuẩn bị rất nhiều tầm vông vừa dài vừa nhọn, khiến đối phương muốn cận chiến cũng không được, bầy giờ, từng đàn, từng đàn tầm võng đâm ra khiến quân Thái Bình không thể chống đỡ. Trông thấy thế trận cảu việt khấu đã đại loạn, lính dõng liền đuổi theo truy sát, thi nhau đâm nhầu khắp nơi, quân Thái Bình rơi xuống nước đầu bị đâm chết, số còn lại chết đuối trong đầm nước không biết bao nhiêu mà kể, tử thi trôi nổi khắp nơi.
Chỉ duy nhất có cánh trung quân ở gần vùng Mộ Nhạn vốn là quân tinh nhuệ từ các doanh cũ ở Việt Tây là chưa tan vỡ. Các tướng lĩnh quân Thái Bình hiểu rằng nếu không thể mở một đường máu phá vây ra khỏi đầm thì toàn quân sẽ bị tiêu diệt, vì vậy mặc cho binh sĩ tử thương nghiêm trọng, các tướng vẫn chỉ huy những quân sĩ còn sống sót chất thi thể đồng bọn bị thương vong thành đống để ngăn làn đạn đang oanh kích liên tục, đồng thời đem súng ống, tên nỏ bắn trả, liều chết chống giữ không lui.
Lính dõng, nhạn dân và dám mãi lộ mai phục xung quanh đánh đuổi toàn quân Việt khấu tan tác xong mới phát hiện ra, cả vùng Hoàng Thiên Đăng, chỉ còn một dải Mộ Nhạn còn đang ác chiến kịch liệt, liền huýt còi nhạn liên tục, tụ tập người ngựa từ bốn phương tám hướng đồng loạt đánh tới. Nhạn doanh tuy kiêu dũng thiện chiến nhưng gặp phải đội quân tinh nhuệ của Việt khấu thì cũng khó lòng chiếm được thế thắng. Bấy giờ, quân đổi quân, tướng chạm tướng, mở ra một trường huyết chiến sống còn. Chỉ thấy đao thương vung lên, kiếm kích ngang dọc, hễ một đao, xả vai đứt lưng, trúng một thương, đầu vỡ thân rời, đón phải kiếm, yết hầu đoạn khí, xuyên vào kích, bụng rách máu rơi. Chém giết đến nỗi thây chất như nuism màu chảy thành sông, thật đúng là:” Gặp đối thủ khó phân cao thấp; Chạm kẻ tài khó định được thua”
Lúc ở thành Linh Châu, Trương Tiểu Biện nhiều lần thấy cảnh chém giết trên chiến trường nhưng chưa từng thấy trận nào thảm khốc như trận này. Trông thấy huynh đệ Nhạn doanh tử thương vô số, hắn cũng không khỏi nghiến răng mắm lợi, mắt vằn đỏ tia máu. Chính lúc hai bên chưa phân định thắng thua, mọi người thấy xa xa trong trận của Việt khấu có một người cao lớn, râu tóc dài thượt, tuổi chừng trên dưới bốn mươi, cưỡi một con ngựa cao, mặc hoàng bào gấm thêu, dắt bảo kiếm và súng tây, ung dung chỉ huy sĩ tốt, vây xung quanh là mấy chục quân sĩ giơ thuẫn bài hộ vệ xung quanh, xem phục sức và khí phách của hắn đều rất phi phàm, liệu chừng là ngụy vương đầu sỏ của quân giặc.
Nhạn Linh Nhi đánh Việt khấu đã lâu, biết rõ lối phục sức của ngụy vương, liền trỏ tay nói:” Tên giặc đó nhất định là Chiếm Thiên hầu cầm quân của Việt khấu”. Nói đoạn, cô giương loan cung đầu nhạn, lắp tên đuôi nhạn, rồi cung giương như trăng ngày rằm, tên bay như ánh sao băng, miệng hô:” Trúng này!” một mũi tên bay vụt ra, xuyên qua đúng khe thuẫn bài, bắn Chiếm Thiên hầu ngã ngay xuống đất. thấy chủ tướng trận vong, thế quân của Thái Bình lập tức đại loạn, binh lính không còn lòng ham đánh nữa.
Nhạn Bái Lý Tứ thấy thủ lĩnh Việt khấu ngã ngựa, biết thời cơ đã đến liền rúc còi nhạn u u. Lính dõng Nhạn doanh nghe thấy hồi lệnh đều rút phắt Nhạn linh đao cầm trên tay, ồ ạt xông lên, đẩy đổ đám thi thể chất như núi, xả thân thâm nhập vào quân địch, vung đao chém giết.
Thanh Nhạn linh đao có thân dài, cán ngắn, sống dày, lưỡi mỏng, rất thích hợp trong lúc xông trận chém giết, phát huy được sở trường đặc biệt khi cận chiến. Chỉ thấy trường đao vung lên đến đâu thì đầu người lăn lông lốc, màu từ cổ họng phun vọt lên, không thể chống đỡ được. Tôn Đại MA Tử mưu đồ sát khí, đứng trong đám người liếc thấy Chiếm Thiên hầu trúng tên, bị thương đang lồm cồm trên mặt đất định đứng dậy. Gã vội vã vung đao tiến lên, đánh tan quân Thái Bình hộ vệ, toan một đao cắt đầu Chiếm Thiên hầu.
Nào ngờ, Chiếm Thiên hầu thường dẫn theo một tên thị đồng có dung mạo tuyệt đẹp. Trong đám hỗn loạn, hắn ngã ra đất giả vờ chết, nhân lúc Tôn Đại Ma Tử không phòng bị, vọt lên đâm một kiếm. Tôn Đại Ma Tử tuy giỏi võ nghệ nhưng không có nhiều kinh nghiệm trong chiến trận, lần này vì thamc ông, chỉ mong giết được Chiếm Thiên hầu mà không đề phòng gì cả, đột nhiên thấy sau lưng lạnh buốt, một mũi kiếm đã đâm xuyên qua ngực, lập tức máu vọt ra như suối, bị tên thị đồng giết chết. thương thay, “Chum vó phải vỡ nơi thành giếng; Làm tướng vong thân trước trận tiền”
Nhạn Bài Lý Tứ đúng lúc đó đang ở bên cạnh, tuy trông thấy rõ ràng, nhưng đang ở trong đám loạn quân, không thể cứu kịp. gã và Tôn Đại Ma Tử mới kết nghĩa anh em, tình như thủ túc, thấy thế nổi giận, trước mắt như phủ vầng mây đên, hét to một tiếng, vung tay lao tới. Nhạn Linh đao chém một nhát, tên thị đồng của Chiếm Thiên hầu gục xuống. Gã đá văng cái thây ra rồi tiếp tục xả đao vào Chiếm Thiên hầu.
Nào ngờ, Chiếm Thiên hầu cảu quân Thái Bình tuy bị thương nhưng vẫn hung hăng hơn người, chẳng khác nào một con thú đã bị dồn vào đường cùng. Lúc hắn ngã xuống đống xác người, trong tay vẫn nắm chặt một khẩu súng nhưng chưa vội bắn. bấy giờ, thấy có người lao đến, hắn liền nổ súng, trúng ngay đầu của Nhạn Bài Lý Tứ, lập tức máu tươi vọt ra, thân người ngã xuống, đúng thực là:” Cửa Âm phủ thêm hồn oan uổng; Chốn Dương gian vắng một thiếu niên”. Muốn biết chuyện sẽ thế nào, xem hồi sau sẽ rõ




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:08 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:18 pm
Hồi thứ 8: Thưởng cô lệnh

Lại nói về trận ác chiến giữa Nhạn doanh và quân Thái Bình trong Hoàng Thiên Đăng, chém giết tới mức “Đầu lăn lông lốc như dưa rụng; Thây chất tầng tầng tựa núi cao”. Trong đám hỗn loạn, Nhạn Bài Lý Tứ đinh xông thẳng tới lấy đầu Chiếm Thiên hầu, chẳng ngờ bị trúng một viên đạn, may mà gã nhanh nhẹn hơn người, tránh qua cực nhanh, nhưng cự ly quá gần nên cũng bị viên đạn chì bắn trúng một con mắt, lệch một chút nữa thì chỉ e đã bắn suốt óc rồi.
Nhạn Bài Lý Tứ hết sức dũng mãnh, không để ý đến một bên mắt bầy nhầy máu thịt, chồm dậy như phát cuồng, cả người lẫn đao chồm xuống, một tay chộp cứng mớ tóc rối bời của Chiếm Thiên hầu, giật hắn từ dưới đất lên, kẹp vào bụng, nắm cứng cần cổ, bắt sống giữa trận tiền.
Quân Thái Bình thấy đại thế đã mất, lập tức tan vỡ tứ tung, quẳng mũ bỏ giáp, tranh nhau chạy trốn, những tên không chạy kịp thì vứt vũ khí đầu hàng. Lính dõng Nhạn doanh chém giết hăng máu không thiết đến việc bắt tù binh, cứ thế vung đao đuổi giết, thấy kẻ sống là chém, thấy còn chạy trốn là giết. Trận ác chiến kéo dàì tới gần tối mới kết dừng, mặt nước trong đầm đều nhuộm đỏ máu tươi.
Nhạn doanh sai người về gấp Linh Châu báo tiệp, còn đại đội người ngựa đều ở lại để chạy chữa người bị thương, chôn cất người chết. từ xưa tới nay, chuyện binh đao hung hiểm, thường có câu rằng:” Giết địch một nghìn, mình cũng tổn thất tám trăm’, tuy một trận phá tan đạo quân lớn của Việt khấu, bắt sống thủ lĩnh Chiếm Thiên hầu nhưng khi điểm lại số quân thì lính dõng, thợ săn nhạn và cánh mãi lộ cũng tử thương hơn hai nghìn người.
Nhạn Bài Lý Tứ hỏng một mắt, mặt đầm đìa máu tươi, may mà viên đạn không xuyên vào não. Viên lang trung trong quân đội vội chạy đến phải dùng thủy ngân làm tiêu tan viên đạn chì đang khảm trong hốc mắt mới giữ được tính mạng của gã.
Trương Tiểu Biện đứng bên canh, trông thấy Nhạn Bài Lý Tứ bị thương bặng và thi thể sõng soài của Tôn Đại Ma tử, hắn muốn khóc rống lên nhưng không thể nào rơi được nước mắt, trái lại trong lòng hắn ớn lạnh, hối hận khôn nguôi:” Nếu sớm biết trường vinh hoa phú quý mà Lâm Trung Lão Quỷ mách bảo được đáp bằng tính mạng của an hem thủ túc thì Tam gia ta thà rằng không cần đến nó cho xong. Tôn Đại Ma Tử và ta đã kết nghĩa sống chết, hồi trước hai người cùng chạy nạn khỏi làng Kim Quan, trước nay luôn đỡ đần bên nhau, gắn bó keo sơn, sau này, cả bọn kết bái thành huynh đệ sống chết có nhau, chỉ mong có một ngày được cùng hưởng vinh hoa phú quý, thế mà ngờ đâu tới hôm nay thì âm dương cách biệt rồi.
Trước nay, Trương Tiểu Biện thấy chuyện chết chóc không ít lần nhưng đều không liên can gì tới mình, nhìn nhiều thì tronmg lòng cảm thấy cũng bình thường, nhưng tới giờ phút này, mất đi một huynh đệ thủ túc mới hiểu rõ thế nào là nỗi đau khổ của cảnh sinh li tử biệt. Sau trận đánh, kẻ hảo hán đường đường nọ đã không còn nữa rồi, reong lòng Trương Tiểu Biện làm sao vui cho được? Hắn định từ bỏ chức doanh quan của Nhạn doanh, tính các cao chạy xa bay là thượng sách, nhưng nghĩ ở một góc độ khác, lúc này thiên hạ đang đại loạn, trên đời làm gì còn nơi trú ngụ bình an? Tới giờ thì đã không còn đường nào quay lại nữa, nếu trước đây không cắm đầu cám cổ đi theo đường này, thì Tôn Đại Ma Tử sao phải chết oan uổng? Trong đầu hắn nghĩ ngợi miên man, một lúc lâu cũng không định đoạt được chủ ý nào.
Nhạn Linh NHi đắp xong vết thương cho huynh trưởng rồi cả hai cùng khuyên giải Trương Tiểu Biện, đánh trận thì sao tránh khỏi chết người, hơn nữa chúng ta không làm lễ dâng tù báo công nữa mà đem tên đầu sỏ của giặc ra, mổ bụng moi tim để tế vong hồn các anh em đã chết trận. Trương Tiểu Biện trong lòng bấn loạn, gật đầu nói:” Mọi việc xin Tứ ca cứ làm chủ cho”
Lúc ấy trời đã sụp tối hẳn, trong Hoàng Thiên Đăng lạnh lẽo, thê lương đang bao phủ một bầu mây đen thảm đạm, lính dõng của Nhạn doanh đã thu niệm, chôn cát các tử thi đâu đấy thiết lập một cái bài vị và bàn thờ sơ sài trước phần mộ. Nhạn Bài Lý Tứ sai thủ hạ trói giật cánh khuỷu của Chiếm Thiên hầu giải ra trước linh vị.
Chiếm Thiên hầu nọ bị trúng một mũi tên vào cai còn chưa được nhổ ra. Từ miệng vết thương, máu tươi nhỏ thành từng giọt, quỳ sụp xuống trước mặt Nhạn Bài Lý Tứ, va vi rằng:” Xin tráng sĩ tha mạng cho tôi…”
Nhạn Bái Lý Tứ rút phắt cương đao ra tay, lạnh lão chỉ vào từng hàng linh vị mà rằng:” Tha cho tính mạng của nhà ngươi không khó, choir cần các anh em đang nằm đây gật đầu đồng ý thì tat ha”. Nói đoạn, vung tay chém xuống, một làn gió mát thổi qua, cái đầu của Chiếm Thiên hầu lăn xuống, máu tươi từ cổ họng phun lên trời. Nhạn Bài Lý Tứ lại sai hai tên đao phủ đứng chờ lệnh ở bên cạnh, tiến lên moi tim của hắn ra, đặt trước bàn thờ tế lễ.
Những người chết trận cảu Nhạn doanh phần lớn là con em của cánh nhạn dân trong Hoàng Thiên Đăng. KHi bàn thờ vừa lập thì tiếng khóc than đã nổi lên ầm ĩ, nào là vợ khóc chồng, nào là mẹ khóc con, cũng có nhiều người khóc thương cho anh em thủ túc tử nạn. Theo lệ của cánh lục lâm, một viên tiêu quan vừa tung tiền giấy, vàng mã, vừa tụng bài “ Thưởng cô lệnh”. Bài lệnh rằng:

“Non xa nước xa xa;
Hai bầu trời dắp một tòa cầu ngang.
Bày rõ ràng cơm phần cúng tế;
Thắp hương lên thêm lễ tiền vàng.
Gọi hòn hào kiệt hãy khoan;
Trên đường về tới suối vàng dừng chân.
Nghe lời ngâm Thưởng cô một lát,
Ngày trước từng đối awmtj kết giao;
Ân tình nhật nguyệt khác nào;
Đã sâu tựa bể lại cao tột cùng.
Đồng một lòng làm quân ứng mộ.
Liễu sa trường amsu đỏ chiến bào.
Nay anh em, đã về đâu;
Âm dương cách trở khi nào thấy đây.
Tiền giấy này tuy rằng chẳng mấy;
Mông linh hồn nhận lấy làm vui.
Cầu cho hồn sớm lên trời;
Phù hộ may mắn cho người còn đây.
Ở kiếp này thôi đành chia cắt;
Nguyện kiếp sau gặp mặt anh em”
Lời chú lệnh niệm xong, mội người cùng rúc còi nhạn mộ tràng dài rồi đốt vàng mã trước linh vị. Đêm ấy, Nhạn doanh ở lại trong đầm, tới tờ mờ sáng nhận được quân lệnh trở về Linh Châu. Những lộ săn nhạn và các lộ cướp cạn tới trợ chiến đều cướp đoạt được các chiến lợi phẩm từ xác chết, có người lấy được tiền bạc thì từ biệt trở về con đường làm ăn cũ, nhưng cũng có không ít tên thảo khấ, mãi lộ có dã tâm, không quản sinh tửu để kiếm của cải trong thời loạn thì gia nhập đoàn lính dõng của Nhạn doanh.
Cứ như thế, khi Nhạn doanh rời khỏi thành thì chưa đầy nghìn người, sau trận chiến ở Hoàng Thiên Đăng lại tổn thất rất nhiều anh em, nhưng khi thu quân trở về lại tăng quân số lên hơn gấp hai lần. CHính vì vậy, ở giữa đường, Nhạn doanh lại tổ chức chỉnh đốn, yêu cầu những người mới kết nạp phải thắp hương ăn thề. Đó là tục lệ rất phổ biến trong các cánh dân quân. Chỉ khi nào kết thành huynh đệ thì mọi người mới đem tính mệnh giao phó cho nhau. Muốn như thế phải lập bàn thờ, bày Khai sơn lệnh ra.
Lần lượt, doanh quan Trương Tiểu Biện và Nhạn Bài Lý Tứ đứng đầu, phía dưới là các viên tiêu quan và lính dõng, thứ tự xếp hàng, đọc lời lệnh như sau:

“Hảo hán núi Đông đến núi Tây.
Đều vì của cải mới về đây.
Bươm bướm tham hoa nên mất mạng,
Tiếc tiền lão Triệu chết không sai.
Huynh đệ có duyên đã đến núi,
Dẫu cho ở dưới hay trên đài.
Trước đặt ba mươi sáu ghế lớn,
Sau là ghế bạc bảy mươi hai.
Rồng hổ chỗ nào ra chỗ ấy,
Lính trơn thì đứng xếp hàng dài”
Cánh cướp cạn, mãi lộ trong thiên hạ, tuy phân bố khắp nơi nhưng từ thời quân lục lâm Xích Mỹ đời Hán tạp phản đến nay thì đã kết thành bè đảng, liên lạc, hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương. Trải qua các triều đại, cánh đạo tặc đều có một đầu lĩnh được gọi là :Tổng biều bà tử” chiếm cứ vùng hồ Động Đình tám trăm dặm. hồ Động Đình có muôn ngọn búi bao quanh, liền với ba sông, là nơi có hình thế hiểm yếu trong thiên hạ, xưa này vẫn là sào huyệt của đạo tặc. Đám thợ săn nhạn mãi lọ trong Hoàng Thiên Đăng cũng chỉ là một phái tỏng đó mà thôi.
Cũng bởi những kẻ mới gia nhập Nhạn doanh phần lớn là người ngoài nên Nhạn Bái Lý Tứ phải đích thân đọc bài vè chất vấn những tân binh rằng:

Sơn môn giờ ngọ mở rồi,
Huynh đệ đâu đấy nghe lời truyền đây,
Chín đường sống chết đã bày,
Đâu nào những kẻ núi này dám lên?
Người tài hèn chớ nên bén mảng,
Kẻ mạnh tâm đừng lảng vảng vào.
Nhân thân mờ ám đi mau;
Tính toán chưa chín thôi nào bề nhanh,
Mạo xưng danh cũng chuồn luoonc ho lẹ;
Kẻo tra ra là sẽ mất đâu.
Những phường abcj nghãi lau nhua;
Hôm nay la flcus lạc sâu hang hùm.
Kẻ trùm sỏ mà vi phạm lệnh;
Cũng cầm bằng tính mệnh vứt đi.
Anh em cấp dưới không nghe,
Ba đao khoét mắt chẳng nề hà đâu”
Mọi người đã nghe rõ quy củ, liền tự động khai báo thân phận lai lịch, đồng thời cũng làm bài vè để đáp lại, ví dụ như:

Nghe lời huynh trưởng bảo ban;
Chúng tôi chỉnh đốn y quan vào hầu.
Hôm nay may gặp được nhau,
Đúng alf duyên tự thuở nào đến nay.
Chúng tôi đây có tài cso dũng,
Ai nấy danh cũng nổi như cồn.
Xin trên tỏ chút đoái thương;
Nếu có sơ suất trăm đường xá cho.
Tôi đến từ kia kia đó nọ;
Thôn làng nào là chỗ gia cư.
Vào hồi năm, tháng, ngày giờ;
Mẹ tôi trở dạ sinh cho làm người.
Từng wor núi này trại ấ,
Hôm nay xin bái nhập Nhạn doanh.
Lệnh ban ắt phải thi hành;
Ăn thề uống amus lòng thành dâng lên.
Không kính trên nguyện dâng thủ cấp;
Dưới chẳng nhường cứ mặc moi tim.
Nếu không nhường dưới kính trên;
Tôi xin nộp mạng để đền nợ thân.
Doanh quan còn phải hỏi:”Có gì làm bằng chứng?” Kẻ được hỏi sẽ dáp:” Bẻ hương làm bằng” Người đó sẽ bẻ đôi cây hương trong tay, biểu thị ý là nếu cò gì gian dối thì sẽ giống như cây hương này, sẽ bị chém chết dưới lưỡi đao.
Nhạn Bài Lý Tứ giữ lại những người có thể đi theo, còn những kẻ thân phận không rõ ràng đều trả về, đó kiểm điểm lại lính dõng trong doanh được hai nghìn hai trăm người, khiến cho thực lực của Nhạn doanh tăng hơn gấp bội. Gã rất mừng, chỉ riêng Trương Tiểu Biện thì hết sức lo âu. Thấy binh mà càng tăng nhiều thì báo hiệu các trận đánh càng lúc càng ác liệt và người chết chắc chắn sẽ càng nhiều hơn. Cứ như trận vừa rồi mà xét thì còn phải hi sinh tính mạng không biết bao nhiêu huynh đệ tay chân nữa. Con đường mà Trương Tam gia này đi, không biết đến bao giờ mới kết thúc đây? Liệu chừng, cứ suy nghĩ mãi cũng chẳng giải quyết được gì, hắn đành chỉ biết vâng theo mệnh lệnh trời xui khiến, đoạn liền cho chỉnh đốn đội ngũ về thành nghe lệnh.
Chuyện Nhạn doanh đại phá Việt khấu tại Hoàng Thiên Đăng quả nhiên làm chấn động thiên hạ, đến Hoàng thượng ở trong kinh thành cũng nhận được báo tiệp. Long nhan vui mừng, bảo rằng cơ hội trung hưng của triều ta đã sáng sủa, lập tức chính tay ban cho ngự bút bốn chữ” Trung dũng Nhạn doanh”, đồng thời sai bộ Binh phá lệ phong Trương Tiểu Biện Trương Tiểu Biện làm chức tham tướng, hàm võ quan chánh tam phẩm, nhận bổng lộc của triều đình. Kỳ thực ra đó cũng chỉ là một chức quan hư hàm, hữu danh vô thực, rốt cuộc hắn vẫn chỉ là một doanh quan. Ngoài ra triều đình cũng phong thưởng gấp đôi tiền lương cho lính dõng Nhạn doanh cả cũ lẫn mới.
Đề đốc Đồ Hải vốn định mượn dao của quân Thái Bình để xóa sổ Nhạn doanh, nhưng ai ngờ nổi lại có kết cục như vậy, thành ra nối giáo cho giặc. Lão càng cảm thấy tài nghệ cao cường của Trương Tiểu Biện và Nhạn Bài Lý Tứ, lại thêm bè đảng trong thành của họ quá nhiều sẽ trở thành mối uy hiếp, chỉ e về sau phát sinh ra đại loạn. Song, tạm thời lão nuốt giận nín nhịn, vả lại việc điều động Nhạn doanh phục kích Việt khấu lần này lại đúng là chủ ý của lão nên đường nhiên lão cũng lập tức tấu báo công lao với triều đình để nhận thưởng. Những chuyện đó không bàn tiếp nữa.
Chỉ nói về thời gian thấm thoát qua mau, đông qua hạ tới, chẳng mấy chốc mùa thu, mùa đông qua đi, đã đến cuối xuân đầu hè, Trương Tiểu Biện được Tuần phủ đại nhân tin tưởng, làm doanh quan của Nhạn doanh, tuy không hiểu phép hành quân, bày trận, chém giết, nhưng thủ hạ của hắn có bọn Nhạn Bái Lý Tứ đều là những tướng tài kiêu dũng thiện chiến, hơn nữa, họ đều nghe theo mệnh lệnh của hắn. Dưới sự thống lĩnh đó, Nhạn doanh liên tiếp giao chiến với Việt khấu. công thành bạt trịa khắp nơi, thu phục được mấy chỗ trọng trấn xung quanh thành Linh Châu.
Một hôm nọ, Nhạn doanh được trở về thành dưỡng sức quân, Trương Tiểu Biện nhân lúc nhàn rỗi, một mình đi đến Miêu Tiên từ. Lũ mèo hoang gặp lại người quen, liền nhao vào trong đền quấn quít lấy hắn.
Trương Tiểu Biện cho mèo hoang ăn vài thứ thức ăn rồi vắt chân chữ ngũ, dựa ngả ngốn lên bệ thờ. Hơn nửa năm nay, hắn phải trải qua vô số chuyện chém giết, trong lúc này chợt dấy lên niềm cảm khái, hồi trước đến nằm mơ cũng mơ đến cảnh vinh hoa, phú quý, nhưng dưới gầm trời khắp nơi đều nổi lên đao binh, chẳng biết Trương Tam gia này ngày nào tháng nào mới được ăn bữa yên ổn đây? Nếu sớm biết làm người khổ cực như vậy thì hồi đầu thai đã khẩn cầu Luân hồi Diêm vương cho Tam gia ta làm một con mèo hoang Linh CHâu có khi còn được sung sướng rong chơi, chứ cứ vào sinh ra tử thế nào thì biết bao giờ mới ngừng được.
Chính đương lúc phiền não, bỗng nghe có tiếng nói lạnh lẽo như củi khô vang lên:” Hay đây! Cố nhân lâu nay vẫn khỏe chứ?” Trương Tiểu Biện giật mình, vội vã bật dậy khỏi bệ thờ, đưa mắt nhìn thì thấy trong Miêu Tiên từu đã xuất hiện thêm một người nữa. Người này mình mặc áo bào màu tro lam lũ, tựa như xác chết mặc đồ thời cổ vừa sống dậy từ trong mộ, trên mặt bịt kín, chỉ lộ ra đôi mắt vô hồn, không sức sống. Kẻ đó không phải ai khác, chính là Lâm Trung Lão Quỷ hay mách bảo họa phúc, lành dữ cho Trương Tiểu Biện.
Nửa nam nay, Trương Tiểu Biện không thấy người này, chẳng ngờ hôm nay lão lại tự tìm đến. hắn đang có mấy điều quan trọng muốn hỏi, liền vội vã chào to. Nào ngờ chưa kịp nói năng gì nhiều, Lâm Trung Lão Quỷ đã đột nhiên cất tiếng:” Truong Tam gia, đại họa của nhà người sắp đến rồi, đến tính mạng cũng không thể giữ được, thế mà nhà ngươi vẫn còn thời gian để đùa giỡ nữa ư?” Thật đúng là:” Ở nhà chơi suốt cả ngày; Biêt đâu họa lớn đổ ngay lên đầu”
Quyển thứ năm của Tặc Miêu đã hết, muốn biết về sau thế nào, xem quyển “Tiệt Yêu tự” cuối cùng sẽ rõ




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:09 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:19 pm


Quyển thứ 6: Tiệt Yêu Tự
HỒI THỨ NHẤT:
TRƯỜNG DIỆN LA HÁN

Trên đời, ngươi ta thường bảo nhau câu: ”Quá tam ba bận”. Lần thứ ba, trong Miêu Tiên tử, Trương Tiểu Biện gặp lại Lâm Trung Lão Quỷ, cảnh ngộ lần này khác hẳn hai lần trước. Lão Quỷ nọ nói thẳng rằng: “Trương Tam gia sắp gặp phải họa sát thân, lúc ấy thì tính mệnh khó mà giữ được.”
Hơn một năm nay, Trương Tiểu Biện theo quân chinh chiến, cùng Nhạn doanh tiễu trừ Tháp giáo, đánh với quân Thái Bình nên kiến thức rộng rãi, gặp sự biến thì không hoảng hốt, run rẩy như trước nữa. Nhưng để có được ngày hôm nay, hắn toàn dựa vào lời mách bảo của Lâm Trung Lão Quỷ. Tự nhiên hắn cũng biết người này thấu hiểu lẽ quỷ thần, không nói thì thôi, chứ hễ nói là đúng, hôm nay, thấy lão nói như thế, hắn nào dám không tin.
Trương Tiểu Biện thầm tính toán trong đầu: “Hồi trước, lão già nhà ngươi chẳng phải chính mồm hứa hẹn, nếu Trương Tam gia ta gặp phải chuyện khó khăn gì thì người ắt sẽ đến giúp đỡ, nay sao lại nuốt lời?” Hắn vội vã nói với Lâm Trung Lão Quỷ rằng: “Hồi trước tiểu tử nghèo khổ, đường sinh nhai khó khăn, may được lão tiên sinh không chê, năm lần bảy lượt chỉ điểm bến mè, nếu không đã thành mồi cho chó hoang, đến xương cốt cũng chẳng còn rồi. Chỉ mong lão gia đã thương thì thương cho chót, đưa Phật thì đưa đến Tây phương, một lần nữa mách bảo cho tiểu tử này một con đường sống. Đại ân đại đức này xin nguyện ghi nhớ cả đời.”
Lâm Trung Lão Quỷ tựa như một xác chết, im lặng một lúc lâu rồi mới chầm chặm mở miệng nói: “Lão phu đã nói từ trước, xem ra khí sắc của Trương Tam gia rất tốt, chủ về việc đại phú đại quý, nên mới có ý ngầm giúp đỡ nhà ngươi. Nhưng cũng cần phải biết, trời có đức hiếu sinh. Nhạn doanh của nhà ngươi giết người quá nhiều, đã bị sao dữ chiếu vào, vì vậy số phận đã định một phen kiếp nạn, nhưng chỉ cần tránh được tai kiếp này thì con đường tiến thân của nhà ngươi sẽ không còn trở ngại gì nữa, công danh lợi lộc không cần cầu mà tự đến, quét đất cũng ra vàng. Tuy nhiên, kiếp nạn trời đất giăng sẵn này thì đến thần tiên cũng không cứu được, chỉ e khó tránh, cho dù có đến nghìn mạng thì nhà ngươi cũng phải chết.”
Trương Tiểu Biện cả kinh thất sắc, ú ớ quỳ xuống, nước mắt lưng tròng, khẩn cầu Lâm Trung Lão Quỷ thần thông cứu mạng. Trương Tam gia mười mấy năm nay nghèo khổ khốn khó, một ngày dài như một năm, phải trải qua bao nhiêu nước lửa, khó khăn lắm mới được vẻ vang mặt mày một chút, nhưng vẫn còn chưa được hưởng thụ yên ổn, nay nếu ông trời cướp đi tính mạng thì thật là: “Sớm biết vinh hoa đã định sẵn; Cần gì lúc trước uổng tâm cơ.”
Lâm Trung Lão Quỷ nói: “Tạm thời người chớ kinh hãi, lão phu hồi trước đã hứa sẽ chu toàn cho nhà ngươi một đời vinh hoa phú quý. Nay nhà ngươi gặp phải đại họa sắp giáng xuống, đương nhiên lão phu không thể khoanh tay đứng nhìn được. Cổ nhân nói, vật thì biến hóa một lần, người thì biến hóa nghìn lần, nếu không có biến thì trừ phi là người chết. Chỉ cần Trương Tam gia nhà người làm theo lời của lão phu thì dẫu cho trời tru hay đất diệt thì đều có thể yên ổn như thường, đảm bảo không sơ sẩy chút gì.”
Lâm Trung Lão Quỷ nói xong liền chọn trong đám mèo hoang đông đảo ra một con mèo khoang to, đồng thời, lấy từ trong bọc ra một ống tre sơn đen bịt kín, giao lại cho Trương Tiểu Biện rồi hỏi: “Ngươi có biết con mèo này không?”
Trương Tiểu Biện cũng không rõ Lâm Trung Lão Quỷ có dụng ý gì, nhưng vẫn nhìn vào con mèo khoang to nọ. Chỉ thấy, toàn thân nó vằn vện như gấm thêu, đầu óc đờ đẫn, trông rất ngu si, hơn nữa, long dài, vuốt ngắn, mặt mèo rất lạ; trên trán có nếp nhăn như chữ “phong”. Trương Tiểu Biện đã học qua Miêu phổ, Miêu kinh trong “Vân vật thông tải”, làm sao không biết, liền đáp rằng: “Theo thuật xem tướng mèo, đây là con Trường diện La Hán, hình như là một con mèo câm xưa nay không biết mở mồm kêu.”
Lâm Trung Lão Quỷ gật đầu bảo: “Con mèo này quả đúng là Trường diện La Hán, sinh ra đã có tính Phật, tai của Kim Đồng, eo của Ngọc nữ, có lưng của người tiên, tuy thuần phác như khúc gỗ nhưng không phải là một con mèo câm không biết kêu. Chỉ do bọn dân đen không biết gì, cho rằng loại mèo này hay hại chủ, là sao dữ giáng họa, hung thần gieo ác, đi tới đâu là tai ương xuất hiện, kỳ thực ra, nó có thể báo trước điềm dữ, hễ mở miệng là chủ về việc bất thường, vì vậy không bao giờ tùy tiện mở mồm. Từ hôm nay trở đi, lúc nào ngươi cũng phải mang nó theo người như hình với bóng, nửa bước cũng không được rời, hễ nghe thấy con Trường diện La Hán mở mồm tức là báo hiệu số kiếp của nguời đã đến, lúc đó, ngươi phải lập tức mở ống tre này ra. Trong ống tre có phép thuật vãn hồi số trời, nhất thiết phải làm theo chỉ dẫn trong đó, không được chậm trễ chút nào, nếu không Trương Tam gia ngươi ắt phải chết không sai.”
Lâm Trung Lão Quỷ lại bảo Trương Tiểu Biện rằng “Nhật nguyệt có lúc đầy, vơi; tinh tú có lúc lu mờ, con người ta sao chẳng có khí hung, khi suy? Lão phu tuy hiểu rõ lý lẽ đó, thấy được điềm dữ đã hiện trước mắt nhưng cơ trời vi diệu, ý trời khó lường, không thể nói cho rõ kiếp nạn của nhà ngươi rốt cuộc khi nào mới tới và tới bằng cách nào. Chính vì vậy, mới lưu lại một kế sách cứu vãn trong ống tre. Tất cả những gì lão phu có thể giúp ngươi chỉ có thế mà thôi, còn việc có giữ được tính mạng hay không thì còn phải trông chờ vào vận mệnh của Trương Tam gia nhà ngươi nữa. Duyên phận giữa hai ta đến đây đã hết, chúng ta vĩnh biệt từ hôm nay, sẽ không bao giờ gặp lại nữa. Cái gọi là gặp gỡ quá muộn, chia tay quá sớm là thế. Tam gia ngươi khá giữ lấy thân” Nói đoạn, lão phơi phới ra đi, trong chớp mắt đã khuất khỏi ngõ Miêu Nhi rồi không biết đi đâu nữa.
Trương Tiểu Biện nghe không sót một lời, chuyện này thực khiến người ta phải rùng mình kinh hãi, hắn tự biết kiếp nạn lần này vô cùng ghê gớm, chỉ e không tránh nổi. Hắn lo lắng không yên, một lúc lâu sau mới sực tỉnh lại, cúi đầu nhìn con Trường diện La Hán đang nằm phục trước mặt, trong tay vẫn còn nắm chặt ống tre niêm phong kín, bên ngoài đen kịt, lắc bên trong có tiếng như tiếng đồng, tựa hồ đang đựng mấy thứ gì nhỏ nhỏ bằng kim loại. Đến lúc ấy, hắn mới biết những chuyện vừa rồi là sự thật chứ không phải mộng Nam Kha. Hắn vội vã vái theo phương hướng Lâm Trung Lão Quỷ vừa bỏ đi, trong lòng trống rỗng như thể mất mát gì đó.
Trương Tiểu Biện nhớ lại những chuyện hiểm nguy, ly kỳ từng trải qua: gặp tiên trong mộ Kim quan, đào cương thi ở Ứng Trúng sơn, đổi mèo trong hiệu thuốc Tùng Hạc đường, đào của trong Hòe viên, gặp hòa thượng Chuột trong thành Đũa, giết con thái tử khuyển ở Hoang Táng lĩnh, mò Phong Vũ chung bằng đồng dưới đấy giếng cổ, bắt Bạch Tháp chân nhân trong phủ Đề đốc, đại phá Việt khấu ở Hoàng Thiên Đàng, tính ra thì tất cả không chuyên nào là không có can hệ với Lâm Trung Lão Quỷ.
Tục ngữ có câu rằng: “Cười người đau khổ bao nhiêu kẻ; Chia sẽ đau buồn được mấy ai.” Những kẻ lạnh lùng trước tai họa của người khác, trên thế gian này muốn bao nhiêu cũng có nhưng hễ anh có gì khó khăn, muốn tìm một người giúp đỡ trong thời khắc quan trọng, thì không tìm đâu ra được một người. Số Trương Tam gia hắn gặp được Lâm Trung Lão Quỷ tương trợ, đã là phúc phận lắm rồi, có câu là: “Thần long, thấy đầu không thấy đuôi”, hành tung của những bậc kỳ nhân dị sĩ cũng giống như thế.
Trương Tiểu Biện nghĩ ngợi lung tung một hồi, cẩn thận nhẩm lại mấy lượt những lời cuối cùng của Lâm Trung Lão Quỷ, tuy không nắm được chỗ yếu lỉnh bên trong nhưng cũng biết rằng, đã là phúc thì không phải họa, đã là họa thì trốn không được. Hắn mặc lòng gác qua một bên, lúc lắc cái ống tre, ôm con mèo La Hán rồi về thẳng trong doanh.
Suốt mấy ngày sau đó, Trương Tiểu Biện chỉ quanh quẩn trong doanh, canh con mèo Trường diện La Hán. Một người một mèo, hết sáng đến tối, nửa bước không rời. Hắn không biết rốt cuộc tai họa sẽ đến từ đâu, cả ngày đề phòng, cảnh giác, chỉ sợ con mèo này đột nhiên mở miệng khiến hắn trở tay không kịp. Mặc dù vậy, con mèo vẫn như ngày thường, trước sau chẳng thấy có biểu hiện nào quái dị.
Một đêm nọ, Trương Tiểu Biện đang ngồi dựa trên một cái kỷ trong doanh, con mèo Trường diện La Hán nằm phục trên cái ản ở trước mặt, lim dim ngủ, đột nhiên có hịch truyền tới gấp rút như nước sôi lửa bỏng. Thì ra quan quân và Việt khẩu đang kịch chiến ở Lôi Châu, trên phái người điều động quân Linh Châu tới cứu viện, tiếp được lệnh thì canh một phải đánh trống tụ quân, canh hai phải điểm tướng xuất thành, nửa khắc cũng không được chậm trễ.
Quân lệnh như sơn, Trương Tiểu Biện đương nhiên không dám chống, hơn nữa hắn cũng thầm tính rằng, cứ khổ sở chờ đợi kiếp nạn ập đến thì nóng ruột vô cùng, nếu số phận Tam gia đúng là có hạn lớn thì tránh được một lần chứ không thể tránh mãi được, nấp được sấm sét chứ sao nấp được Thiên lôi, có điều, người đi thì sống, cây dời thì chết, chẳng bằng theo quân mà đi, tùy cơ ứng biến. Hắn lập tức cùng bọn Nhạn Bài Lý Tứ tụ tập lính dõng toàn doanh, thu thập đồ đạc, nai nịt gọn gang, bày thứ tự đâu đấy rồi xuất quân, canh hai rời khỏi thành Linh Châu, men theo đường cái quan đi về phía Tây.
Lính dõng Nhạn doanh vừa đủ hai nghìn người, có nòng cốt là thợ săn nhạn, ngoài ra cũng có rất nhiều kẻ lục lâm, mãi lộ gia nhập. Nếu luận về việc xung trận chém giết thì Nhạn doanh đứng đầu trong các doanh ở Linh Châu, nhưng càng lập nhiều công lao đáng ra càng đưỡc phong thưởng thì đều bị lão Đồ Hải, tên tham quan khi quân phạm thượng, ngồi mát ăn bát vàng chiếm hết. Thật đúng là ngao cò tranh đấu, rốt cuộc chỉ có ngư ông đắc lợi.
Bọn Trương Tiểu Biện và Nhạn Bài Lý Tứ thấy chiến sự phải tham dự càng lúc càng lớn, hiểu rằng các huynh đệ đều phải vào sinh ra tử trước trận tiền, nhưng đến khi luận công phong thưởng thì chẳng có gì, trong lòng đều có ý phẩn nộ khôn nguôi. Thậm chí, cả bọn đã từng tính sẽ tiếp tục lên núi hành nghề lạc thảo, song trong thời buổi điêu linh này, đến cánh mãi lộ giết người cướp của cũng chẳng còn chỗ nào để mà lấy của nhà giàu chia cho người nghèo nữa, đám sơn tặc nhiều ngày không làm ăn được gì, rốt cuộc cũng có người phải chết đói, chẳng ứng mộ làm lính ăn lương thì chẳng còn đường sinh nhai nào nữa.
Lúc ấy, Nhạn doanh vừa mới được về thành dưỡng sức thì lại phải phụng mệnh đến thẳng Lôi Châu chi viện, người vào căn nhà thấp sao tránh khỏi cúi đầu? Quân lệnh đến như nước sôi lửa bỏng, cả doanh đành vội vội vàng vàng đi ngay, chẳng cần biết đã là canh bốn hay canh năm, tới khi trời sáng hẳn, Nhạn doanh đã đến một vùng núi chắn trước mặt, nhìn kỹ thì đó là một dãy núi nhấp nhô kéo dài, quả là:
Núi non nghìn trượng chọc lưng trời;
Ngọn thác buông rèm trăm thước rơi.
Vách dựng lô nhô trưng lắm vẻ;
Đá bày lổn nhổn lối thưa người ;
Bóng râm rậm rạp hùm beo nấp;
Khe vực cheo leo mặt rụng rời;
Đầy đất cỏ hoang, hoa dại nở;
Chắn đường gai góc, bụi mây vùi.
Nhạn Bài Lý Tứ cưỡi trên lưng ngựa, khum tay che, ngước mắt nhìn một lúc lâu rồi giơ roi chỉ vào định núi phía trước mặt, nói với Trương Tiểu Biện rằng: “Xem thế núi này quả nhiên là hùng vĩ, không biết chúng ta đã đi đến đâu rồi?”
Trương Tiểu Biện trong lòng đang rối bời, đột nhiên bị người khác hỏi, sực tỉnh, vội ngẩng lên nhìn, phát hiện ra nơi đây cách mộ Kim quan không xa lắm. Hắn biết rõ vùng núi non này liền đáp: “Nơi đây gọi là Thanh Loa lĩnh, hiểm trở khác thường, chỉ cần đi qua vùng núi này là ra khỏi địa phận Linh Châu. Muốn đi Lôi Châu, chỉ còn cách men theo đường núi mà đi qua, bằng không huynh đệ chúng ta sẽ phải đi vòng, tốn thêm một ngày đường nữa.” Nhạn Bài Lý Tứ nói: “Các anh em đã đi trọn một đêm, tội gì phải đi vòng vèo. Nếu đã như thế, chúng ta đi xuyên qua là được.” Đoạn, gã dẫn cả đội quân tiến vào trong núi.
Các dãy núi trong Thanh Loa lĩnh quanh co, khuất khúc, ở giữa ôm lấy một vùng thung lũng, từ xưa đã có một thị trấn nhỏ ở đấy, gọi là “Thanh Loa trấn”. Binh lính Nhạn doanh theo đường đèo, vượt qua một đỉnh núi, nhìn xa xa thấy sâu trong hõm núi là cả một vùng tùng bách xanh rì, cổ thụ uốn lượn, trong tán cây che phủ có thấp thoáng màu gạch xanh, ngói biếc, nhà cửa san sát, đúng là dáng dấp của một thị trấn cổ.
Nhạn doanh vốn định tránh Thanh Loa trấn để trực tiếp băng qua Thanh Loa lĩnh, nhưng thời tiết trong núi biến đổi nhanh như gương mặt con trẻ, bảo biến là biến ngay. Chỉ thấy gió mát nổi lên, trong chớp mắt mây đen kéo đến, đất trời mù mụt, trong tầng mây, sấm sét ngoằn ngoèo báo hiệu một cơn mưa to sắp ập xuống. Nhạn Linh Nhi nói với Trương Tiểu Biện rằng: “Nghe tiếng sấm động có vẻ dữ dội, xem ra trận mưa sắp tới không nhỏ, đường núi gặp cơn mưa sẽ rất trơn, khó đi, chỉ e xảy ra chuyện ngoài ý muốn. Toàn doanh chúng ta đã đi trọn một đêm, đều đã thấm mệt cả rồi, chi bằng cứ vào Thanh Loa trấn nghỉ ngơi chút đã, đợi cơn mưa ngừng thì hành quân tiếp cũng không muộn.”
Trương Tiểu Biện cũng đang có ý đó. Hắn trước nay quen thói du đãng, lười nhác, thấy quân tình tuy khẩn cấp nhưng bản tâm vẫn chỉ muốn quay về bẩm báo rằng: “Trên đường gặp mưa lớn khó tiến quân” là được, nay nhân lời của Nhạn Linh Nhi, hắn nói: “Lời muội tử rất đúng, thật là một trang nữ nhân mưu trí hơn cả nam giới.” Đoạn, hắn bảo tả hữu rằng: “Các anh em bây giờ hãy theo Tam gia ta vào trong trấn nghỉ chân đã.” Nói xong, hắn bảo các viên tiêu quan, chỉ huy Nhạn doanh chuyển hướng hành quân đến thẳng Thanh Loa trấn trong núi. Chẳng ngờ chuyến đi này lại là: “Lợn dê đã đến nhà đồ tể; Từng bước gieo thân tới miệng hùm.” Rốt cuộc trong Thanh Loa trấn đang ẩn giấu nguy hiểm cổ quái thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:11 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:19 pm

Hồi thứ hai: Xem tướng trâu bò.

Lại nói, mưa gió trong núi chuẩn bị ập xuống, Trương Tiểu Biện lệnh cho hơn hai nghìn lính dõng Nhạn doanh vào Thanh Loa trấn tránh mưa. Nhưng Nhạn Bài Lý Tứ là người thường săn bắt, len lỏi đi đường rừng núi lên hết sức mẫn cảm, cảnh giác, gã đứng trên cao nhìn xuống thị trấn cổ nọ, thấy yên ắng khác thường, chẳng có bóng dáng người nào. Cứ cho rằng, cư dân ở đây vì thiên tai địch họa mà đã chạy trốn hết nhưng thị trấn cổ này vừa tối đen, vùa lạnh lẽo, khí âm nặng nề, xem ra là chỗ chẳng lành.
Nhạn Bài Lý Tứ động lòng, bảo với Trương Tiểu Biện :” Thanh Loa trấn này núi non bao bọc bốn phía, địa hình rất hiểm yếu, nếu toàn doanh chúng ta đều vào đó nghỉ ngơi, trễ nải phòng bị, nhỡ xung quanh đây có Việt khấu xuất hiện, nhân mưa gió đánh úp, lấp thế từ cao đánh xuống thì Nhạn doanh không tránh khỏi tổn thất lớn, Chi bằng để lại đại đội người lưu lại trên đỉnh núi, chỉ đưa một toán lính dõng vào trong trấn thăm dò tình hình. Chia quân trên dưới như thế là hình thành nên thế ỷ dốc, hỗ trợ lẫn nhau”
Trương Tiểu Biện không muốn đội mưa gió ngủ lại trong trướng cùng đạị quân trên đỉnh núi, liền phải quân dò đường, đồng thời đưa anh em Nhạn Bài Lý Tứ và một toán lính dõng đến thẳng Thanh Loa trấn, càng đến gần càng thấy trong thị trấn quả nhiên không có một bóng người, trên trời mây đen kéo đen kịt, bốn phía càng thêm u ám. Ngoài tiếng sấm động ầm ù ra, cả thị trấn lớn như vậy không hề co một tiếng gà kêu chó sủa.
Hồi ấy, thiên hạ đại loạn, quan lại vương pháp chỉ là hữu danh vô thực, dẫ là đạo tặc tạo phản hay là quan binh, lính dõng của triều đình cũng chẳng khác bọn thổ phỉ, trong doanh trại thì ăn thịt uống rượu, ra ngoài đường thì làm những chuyện cướp của, giết người, phóng hỏa, đốt nhà. Đó là những chuyện thường như cơm bữa, nên địa phương nào cũng thế, người dân hễ nghe phong thanh là bỏ chạy, mười nhà thì đến chín nhà bỏ hoang.
Chính vì vậy, bọn Nhạn Linh Nhi tuy thấy trong trấn yên ắng, nơi đâu cũng nặng nề tử khí nhưng cũng không thấy làm lạ lắm. Họ biết rằng, giả sử có người già, phụ nữ, trẻ con không chạy kịp, nếu thấy quân Thanh thì cũng đã sớm đóng chặt cửa nẻo, ẩn nấp đi từ lâu. Vì vậy, bọn họ sai bọn lính dõng thân tùy ai nấy cầm dao, giơ thương, phòng hộ cẩn mật, chặt chẽ ở hai bên doanh quan.
Trương Tiểu Biện đi theo quân, vốn không thèm để ý đến động tĩnh trong Thanh Loa trấn, chỉ mải nhìn chằm chằm con mèo Trường Diện LA Hán. Hắn chỉ mong rằng hễ nó chưa mở miệng thì dẫu cho trời sập Trương Tam gia cũng chẳng hề hấn gì, nhưng hễ con mèo mở miệng kiêu, báo hiệu điềm dữ thì tính mạng của Tam gia sắp nguy tới nơi, không rõ có trốn thoát được không nữa
Trương Tiểu Biện ngoài khoác nhung trang khôi giáp, bên trong mặc bộ giáp nhẹ Hắc Thiền có thể tránh được nước lửa, ngầm giắt thêm đao nhọn và súng ống. Tuy hắn bên ngoài trông thư thái nhưng bên trong rất nóng ruột, không tránh khỏi lộ ra sắc mặt thoắt vui sướng thoắt lo âu. Nhạn Bài Lý tứ ở cạnh thấy thế liền cất tiếng hỏi:” Huynh đệ Nhạn Doanh chúng ta phần lớn đều xuất thân từ đạo tặc, mãi lộ, lúc nào cũng bị quan phủ nghi ngờ, đề phòng, hơn nữa đám Việt khấu cũng hận chúng ta đến xương tủy. Có điều, Tam ca chớ lo ngại, chỉ cần còn một hơi thở thì dẫu bọn chúng có giở trò trong tối hay ngoài sáng thì anh em sẽ bảo vệ tam ca đến cùng.
Trương Tiểu Biện biết Nhạn Bài Lý Tứ có nghĩa khí hơn người, nhưng chuyện của Lâm Trung Lão Quỷ quái lạ, chẳng có cách nào nói cho rõ ràng chân tướng, đành đánh lảng sang rằng, không phải do an nguy của bản thân mà bước đến Thanh Loa trấn, chợt nhớ một chuyện cũ hồi trước, tuy đã xảy ra cách đây mấy năm, nhưng khi nghĩ lại vẫn phải nghiến răng căm hận.
Nhạn Bái Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi nghe thấy thế càng ngạc nhiên, không rõ là chuyện cũ thế nào? Kỳ thực, câu chuyện dó không phải do Trương Tiểu Biện bịa đặt ra. Vốn vùng Linh Châu có một nơi phồn hoa nghìn năm, cá rồng vùng vẫy, từ xưa tới nay có tên là “ Thất tuyệt”. Cái tuyệt nổi tiếng đầu tiên, đó là hiện tượng bóng tháp trong mây. Ngôi Tháp Vương hồi trước cao chọc mây trời, mỗi khi mây mù tụ lại trên những ngọn núi xa xa ngoài thành thì ánh sáng mặt trời khúc xạ làm xuất hiện hình ảnh kì lạ của các bóng tháp tới triều kiến, nên dân gian còn gọi là “thành Tháp”, nổi tiếng ngang với “Thành phố Biển” Đăng Châu. Có điều, sau khi Tháp Vương bị lửa chiến tranh phá hủy thì hiện tượng lạ của thành phố Tháp không còn thấy nữa.
Cái “tuyệt” thứ hai là tòa Miêu tiên từ trong thành. Trong phạm vi cả nước trên dưới, đại giang nam bắc, Quan Nội hay Quan Ngoại, tuy đất rộng vật nhiều nhưng chẳng nơi đâu có phong tục kỳ lạ thờ cúng mèo làm tiên. Điều này chỉ duy nhất Linh Châu mới có, vì vậy được coi là một trong những cái “tuyệt”
Trong Thất tuyệt của thành Linh Châu thì có cái chỉ vào danh lam cổ tích, có cái chỉ vào phong tục, không cái nào giống cái nào, cái “tuyệt” cuối cùng chỉ vào món bánh nướng Thanh Loa. Thanh Loa trấn nằm ở bên rìa địa phận Linh Châu, có thịt bò Ngũ hương hảo hạng và váng sữa bò để nướng bánh. Kẹp bánh nướ với thịt bò để ăn thì rất ngon, dư vị còn mãi. Chính vì vậy, trong thị trấn có rất nhiều cửa hàng bánh nướng, nhà nào cũng có ngón nghề riêng và bí quyết gia truyền độc đáo.
Hai năm trước, Trương Tiểu Biện còn chưa mở mày mở mặt, hắn từng đến Thanh Loa trấn trộm gà bắt chó, thèm thuồng quá định lấy trộm mấy cái bánh nướng trong cửa hàng của người ta ăn, kết quả là bị họ chộp được bím tóc, bắt sống cùng tang chứng, vật chứng ngay tại chỗ. Hắn bị một trận đòn no mà chưa được ném miếng bánh nào, tới giờ nghĩ lại, vẫn căm tức trong lòng. Nhưng không thể như thế với Nhạn Bài Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi được. Tam gia làm sao để mất mặt được, chỉ nói rằng, hồi trước phải khi anh hùng mạt lộ, nghèo khổ khó, trên đường gặp được hàng bánh nướng, xem tay nghề của ông chủ đúng là được truyền dậy đàng hoàng, vì vậy mới xin một cái bánh nướng về để nuôi mẹ già tám mươi tuổi trong nhà. Nào ngờ đâu, tên chủ tiệm bánh nướng keo kiệt bủn xỉn, cặp mắt chó coi khinh người nghèo khổ, nhất quyết không chịu bố thí, ngược lại còn giơ nắm đấm lên đánh. Mấy cái gân của tam gia ta bị hắn làm đứt, tới giờ mỗi khi trời mù sắp mưa thì đầu xương khớp vẫm còn thấy đau đớn, khó chịu.
Nhạn Bài Lý Tứ nghe thấy thế phẫn nộ:” Thằng cha đó khinh người quá lắm, phải biết rằng quân tử báo thù mười năm chưa muộn, tam ca còn nhơ tiệm bánh nướng đó không? Để huynh đệ tìm đến đó giết sạch nhà hắn rồi cho một nắm lửa, nước sạch sẽ, gạch vỡ ngói vụn cũng không chừa thì mới hả được cơn giận này”
Trương Tiểu Biện tỏ ra độ lượng nói:” Thời gian trôi đi, cảnh vật thay đổi, còn tính toán gì những chuyện cũ đó nữa? chẳng qua ta tức cảnh sinh tình, nhớ lại khi lưu lạc khắp nơ, ăn đói mặc rét, nhưng lúc nào cũng cho rằng sẽ có ngày mở mày mở mặt, có lúc được ăn no mặc ấm, suốt ngày rong chơi sung sướng. Tới ngày nay, tuy thân này được vào chốn công môn, làm đến chức chánh tam phẩm, có hao linh cài mũ, không phải lo lắng đến miếng cơm manh áo nữa nhưng có ai biết rằng trước kia ra từng phải trải qua rất nhiều khổ cực không tưởng tượng được. Xem ra con người ta sống trên đời thật giống như hoa dại chẳng trồng đâu cũng có, ưu phiền không cấy biết bao người”
Mọi người vừa nghe chuyện vừa đi. Đã vào đến con phố giữa Thanh Loa trấn. Trong trấn này có mọt ngôi chùa cổ nghìn năm tuổi. Lúc nơi đây còn thịnh vượng, chùa này cũng là một nơi thờ cúng có tiếng, tên gọi là “Ngõa Quán tự”, bên trong thờ Thành Hoàng lão gia. Tới nay, chùa đã bị bỏ hoang nhiều năm, chỉ thấy cửa chùa xiêu vẹo, tượng đất của lũ Tiểu quỷ, Phán quan, Ngưu đầu, Mã điện đổ lăn lóc, cái thì mất đầu mất cổ, cài thì thiếu thân thiếu tay.
Chính vào lúc ấy, giữa lưng chừng trời, mọt tiếng sấm sét nổ vang khiến mái ngói của ngôi chàu cổ ung lên bần bật, mây đen kịt trời, sét đán thêm sấm nổ, gió giật nổi ồ ồ, mưa ta sắp ập xuống đến nơi. Lúc đầu, mưa nhỏ giăng mắc, kế đến thì ào ạt xối xả như dốc sông đổ bể, không trung đầy mây mưa mờ mịt. Chái nhà như thác đổ, đất bằng hóa lòng sông, ohas xa dâng sóng vỗ, phòng ốc cuốn theo dòng. Dòng nước chảy ngoằn ngoèo, khe cống đầy ngập ngụa, chốc lát mưa to như trút, khoảnh khắc nước tuôn lênh láng.
Nhạn Bái Lý Tứ vội vã dẫn mọi người vào trú trong Ngõa Quán tự. Cả đấm đều là lính hành quân đánh trận nên chẳng úy kị gì, vào đến bên trong sảnh thì ngồi bêt cả xuống đất, xem ra cơn mưa trong một giờ nửa khắc cũng khó ngừng được, liền lệnh cho một toán lính thổi lửa nấu cơm.
Trương Tiểu Biện trong lòng có chuyện lo lắng, đứng ngồi không yên. Đồng thời, thấy đằng sau còn có một tòa hậu điện, hắn tính tìm một nơi yên tĩnh liền rảo bước đi ra. Huynh đệ Nhạn Bài Lý Tứ sợ hắn gặp thích khách liền vội vàng bám sát hai bên như hình với bóng, Ba người dẫn vài tên thân tùy, đi xuống hành lang, vòng vào trước cửa hậu điện, chợt nghe bên trong vọng ra tiếng bò rống:” bò…ò…o…”. Cả bọn không khỏi kinh ngạc, chẳng ngờ người dân trong thị trận đã chạy trốn từ sớm mà vẫn còn một con bò? Huống chi, con bò đó lại ở bên trong ngôi chùa cổ hoang phế này?
Trương Tiểu Biện nói:” Con bò này quá nửa là do thằng sư hổ mang nào đó nuôi dưỡng. Việc sát sinh, đánh chén thịt thà trong chùa nát, đúng là việc làm của bọn hòa thượng đi ngang. ĐÃ bị Tam gia ta bắt gặp thì đúng vừa khéo cho huynh đệ trong doanh được một bữa thịt bò hầm, khỏi phải nuốt đống lương khô cứng ngắc”, nói đoạn hắn giơ chân đạp toang cửa điện, đi vào trong xem xét. Chỉ thấy trong điện thắp một đĩa đèn dầu lờ mờ, bụi phủ đầy mặt đất, mạng nhện chăng khắp nơi, tượng đát Ngũ đạo thần quân trên bệ thờ đã bị sứt mặt mũi từ lâu, một con bò mộng bị xỏ mũi, buộc vào chân cột gần cửa, góc nhà có một cái nồi đang đun, bên trong toàn là thịt bò, sọt tre đặt bên cạnh chất đầy bánh nướng, xem cách bày biện tựa như một nhà người dân đang giết bò để mở tiệm bánh nướng vậy.
Cửa tiệm như thế này trước kia hết sức phổ biến trong Thanh Loa trấn, nhưng không rõ tại sao lại ở trong chùa, kỳ quái hơn nữa, trong sảnh còn có một cỗ quan tài sơn then bóng loáng. Bọn Trương Tiểu Biện đều kinh hãi, chẳng nhẽ cương thi trong quan tài thành tinh, đâng định mở của hàng giết bò, nấu thịt nướng bánh hay sao?
Nhạn Bài Lý tứ xuất thân từ đám lục lâm, đảm lược trí tuệ đều vào hạng siêu quần, trong khi đánh trận thì giết người như ngóe, vào sinh ra tử vẫn coi như chuyện bình thường, chẳng coi mấy việc quái lạ này vào đâu. Gã hừ lạnh một tiếng, goi tả hữu tiến lên dắt con bò mộng ra ngoài định giết lấy thịt ăn,
Trương Tiểu Biện học qua thuật “Văn vật thông tải” do lâm Trung Lão Quỷ truyền thụ, không chỉ xem được mèo, biện được chó mà còn biết được các laoij trâu bò, ngựa nghẽo.Nếu luận về những loài ngựa hay, giá trị ức vạn thì không ngoài những loài như Ô Nha mã, Yên Chi mã, Ngải Diệp Thanh, Can Thảo Hoàng, Hỏa Diệm câu, Thanh Tông Thú, Bạch Long câu, Ngọc Đỉnh ký… Chúng có thể đi vào ban ngày một nghìn dặm, ban đêm tám trăm đặm, thời cổ có BÁ Nhạc giỏi xem tướng ngựa, những việc đó chúng ta không bàn tiếp nữa.
Nhưng nói về thuật xme tướng trâu bò, thiết tường cũng chẳng qua phân biệt thành bò mộng, bò vàng, trâu nước mà thôi. Tuy chúng có hình thể lớn nhưng cũng chỉ dùng vào việc kéo bừa,cày ruộng. Chẳng nhẽ thuật xem tướng trâu bò là hữu danh vô thực ư? Kỳ thực ra, trong các loài trâu, bò thì có chia thành các loài lành dữ, hung ác, Trương Tiểu Biện thấy con bò mộng bị xỏ mũi trong sảnh hết sức kì quái. Nếu là những con bò hiền lành, khỏe manh thì sẽ có lông dài vai rộng, đồng thời cũng cần trán lớn, sừng dài, nhưng con bò mộng vô chủ này thì lông ít, xương nhiều, lưỡi lạnh, chân cao, chân thấp có khoáy lông, sừng vặn veo, xem ra đúng à một loài “quỷ tướng”.
Con bò mộng thấy có người bước vào liền ngẩng đầu, mắt lộ tia hung ác, mũi thở ra tiếng phì phò. Nhạn Bài Lý trâu bò đã nhiều rồi, nhưng xưa nay chưa từng thấy con nghiệt xúc nào to gan như thế này, đáng giết không tha”
Trương Tiểu Biện cũng ngạc nhiên nói:” Nghe nói, bò già thường rống, chắc hẳn trong bụng có báu vật” Nói đoạn, liền tiến lên, giơ tay sờ thử vào lưng bò xem thử nó đã già yếu hay còn đang khỏe mạnh. Phàm là bò mộng, ba tuổi có hai răng, bốn tuổi có bốn răng, năm tuổi có 6 răng, sau đó mỗi năm thì nối liền một đốt xương sống. nò ngờ, vừa thò tay đặt lên lưng thì sờ thấy từng mảng từng mảng vảy thịt. Trương Tiểu Biện giật thót mình, biết rằng con bò mộng trước mặt vốn không phải là bò. Hắn vỗi vã cúi đầu nhìn con mèo Trường Diện La Hán đang ngồi trên đất, thấy nó mở miệng định kêu, thật là:”Trăm nghìn sợ hãi tìm run rẩy; Hồn phách rụng rời mặt cũng tan”. Muốn biết chuyện sau ra sao, xem hồi sau sẽ rõ





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:12 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 31
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

on Thu Dec 01, 2011 2:21 pm


QUYỂN 6

Hồi thứ ba: QUẢ PHỤ NƯỚNG BÁNH



Trong truyền thuyết dân gian thời xưa, trâu bò là một loài vật thông linh với trời đất. Dưới Âm ty có hung thần đầu trâu chuyên ăn ma quỷ có tên là “Phương lương”, trên dương gian cũng có loại quái ngưu mọc vảy thịt chuyên ăn thịt người. Loài bò này có thể đuổi quỷ, dựng xác chết dậy,, sai khiến xác chết tự cởi quần áo, sau khi cái thây đã trần truồng ra thì con bò đó mới ăn thịt. Chuyện đuổi quỷ dựng thây tuy chưa chắc có thật nhưng con bò quỷ tướng “ Phương Lương Ngưu” này có tính tình bất tắc, hết sức hung ác, không ăn cỏ mà ăn thịt thối, từ thời Hán đã sớm tuyệt tung tuyệt tích.
Trương Tiểu Biện nhận ra con bò này, nghĩ đây là vật của dư nghiệt Tháp giáo cũng không chừng, trong lòng chợt dâng lên cảm giác ghét cay ghét đắng, đúng lúc đấy, đột nhiên con mèo Trường Diện La Hán mở to mồm khiến hắn ba hồn lên mây, bảy vía độn thổ, hoảng hốt tới tức trong đầu chỉ có một suy nghĩ là vội vã mở ống tre ra, chiếu theo chước vãn hồi thiên cơ ở trong đó để cứu lấy cái mạng nhỏ của mình.
Nhưng, mới vừa bóp vỡ lớp xi niêm phong ống tre thì thấy con mèo La Hán nọ hóa ra vừa mới ngáp chứ chưa cất tiếng. Trương Tiểu Biện bị một phen sợ hút chết, thấy hai chân đều mềm nhũn ra . Hắn gắn lại ống tre, đưa tay cốc đầu con mèo một cái, sau đó mới sai tả hữu đêm con bò mộng ở hậu điện chùa Ngõa Quán ra bên ngoài giết chết nhưng không được ăn thịt mà phải rút gân lột da, rồi xẻ thịt nó ra làm tám mảnh, đem gói trong bộ da rồi chôn xuống đất.
Mấy tên thân tùy dạ ran rồi xúm lại, ra tay trói nghiến con bò. Bỗng nhiên, cái nắp quan tài trong sảnh vang lên tiếng ken két, bên ngoài trời vẫn mưa như trút, sấm nổ ì ùng, mọi người thất kinh, những tưởng cái thây tác quái, liền nhao nhao rút phắt yêu đao hộ vệ phía trước Trương Tiểu Biện.
Nhạn Bài Lý Tức chửi một tiếng, giơ chân đạp tung nắp quan tài, vung đao định chém. Nào ngờ, bên trong quan tài có một cô ả mặc đồ tang đang ẩn nấp, kêu lên: “ Quân gia xin nương tay, tiện thiếp là người sống.” Vừa nói, ả vừa lồm cồm bò từ trong quan tài ra ngoài, vái chào kiểu Vạn Phước trước đám quân quan Nhạn doanh, tự xưng là dân nữ ở vùng này, xuất thân từ nhà gia giáo nền nếp, ngặt nỗi số phận đen đủi. SAu khi được gả làm vợ của chủ tiệm bánh nướng Triệu Lục trong Thanh Loa trấn, hai vợ chống thức khuya dậy sớm, vất vả làm nghề bán bánh nướng nhưng cũng chỉ đủ sống lay lắt qua ngày, tạm cho là yên ổn. Nào ngờ, Trời kia mưa gió bất thường, làm người họa phúc biết đường nào lo, Triệu Lục bị giặc cướp giết chết, hàng bánh cũng bị phá, vì vậy, ả ta không còn chỗ nào trú thân, đành phải chuyển vào ở tạm trong hậu điện của chùa Ngõa Quán đổ nát làm bánh váng sữa nhờ người ta mang vào trong thị trấn bán hộ, kiếm chút tiền bạc, lương thực sống qua ngày. Cho tới nay, ả vẫn chỉ ở một mình với cỗ quan tài không khâm liệm, tượng trưng vài đồ vật của người chồng đã mất.
Ả ta lại nói: “ Phần lớn mọi người trong Thanh Loa trấn đã chạy trốn hết rồi, thị trấn chỉ còn lại một ít cô nhi, quả phụ và người già bệnh tật. Trong thời buổi chiến loạn này, ai nấy đều như chịm sợ cành cong, hễ nhác thấy bóng người ngựa trên đỉnh núi là vội vã gói ghém đồ đạc trốn đi. Tiện thiếp thân gái chịu tang, hoảng sợ không biết trốn đâu, đảnh phải ẩn nấp trong quan tài. Tới nay, cả nhà cả cửa chỉ còn lại mỗi con bò mộng đó thôi, thấy quân gia định đem nó giết nên mới sợ hãi bật ra tiếng kêu như thế.”
Nhạn Bài Lý Tứ thấy ả cũng khá yêu kiều nhưng thần thái rất khác lại, liền cật vấn rằng: “Nhạn doanh chúng ta đều là quan quân, không phải là sơn tặc, thảo khấu, mũ giáp, cờ hiệu đề rất rõ ràng, bọn tiện dân các ngươi không có mắt phỏng? Thấy quan quân sao lại bỏ trốn, chẳng lẽ chúng bay đã ngấm ngầm câu kết với giặc hay sao?”
Ả ta cúi đầu thẽ thọt van vỉ lí nhí: “Xin quân gia đừng trách, chúng tôi đều là người dân lương thiện, an phận thủ thường, gặp phải thời buổi loạn lạc, cho dù cướp núi hay cướp song thì chúng tôi cũng chẳng biết làm thế nào chống đỡ. Hôm nay đột nhiện thấy có bao nhiêu lính dõng cầm đao cắp thương từ trên núi xuống, ai mà chẳng sợ hãi? “
Nhạn Bài Lý Tứ thấy ả đối đáp trôi chảy kín đáo, không có sơ hở gì, không sao vặn hỏi được, nhưng cái kiểu ráo hoảnh như không ấy chẳng hề giống một ả góa phụ đang chịu tang chút nào, những lời ma mị của ả chỉ che được mắt người ngoài chứ làm sao giấu nổi Tứ gia của Nhạn doanh này. Gã nghĩ bụng: “Nếu ta một đao chém chết nhà ngươi chẳng hóa làm ô danh của Nhạn doanh hay sao. Tứ gia ta còn muốn xem xem ngươi định giở trò quái quỷ gì.” Chính vì vậy. gã giả vờ không để ý, cắm ngọn Thu thủy Nhạn linh đao trở vào bao, lạnh lùng nhìn soi mói nhất cử nhất động của ả nọ.
Nhạn Linh Nhi và những người tùy tùng khác đều là những người khôn ngoan tinh mắt, biết rằng ả góa phụ này có điều lắt léo, ai nấy đều ngầm đề phòng. Lúc ấy, bỗng thấy ả góa phụ nhà họ Triệu hai tay bưng một bát bánh nướng, chầm chậm dâng lên chư vị quân gia của Nhạn doanh dùng tạm
Toán người Nhạn doanh đang căng thẳng như cung giương kiếm tuốt. chỉ cần ả góa phụ nào dám mạo muội vọng động là lập tức loạn đao băm nát ngay tại chỗ, nhưng Trương Tiểu Biện thấy con mèo La Hán chưa mở miệng, biết rằng hạn lớn chưa đến, tạm thời chưa có nguy hiểm gì, lòng can đảm cũng theo đó mà tăng lên, liền hỏi: “Bánh nướng của tiểu nương tử có phải dùng thịt bò Thanh Loa không?”
Ả góa phụ nọ đáp: ”Đây là ngón nghề do người chồng quá cố của tiện thiếp truyền dạy, nhân bánh đều dùng thịt bò rút xương hảo hạng để làm cả.” Nói đoạn, ả dâng bánh nướng Thanh Loa đến trước mặt mọi người.
Trương Tiểu Biện thấy thịt làm nhân bánh có màu tím đen, từ da đến xương đều được băm vụn, hoàn toàn không giống màu thịt bò, tuy mùi nước sốt rất đậm nhưng không giấu được mùi xác thối luẩn quẩn bên trong. Hắn nhìn trộm con mèo La Hán dưới chân, chỉ thấy con mèo khoang to, lông lốm đốm như tranh, đang cuộn tròn trên mặt đất, giương mày trợn mắt, tỏ ra rất kinh tởm. Phàm là những con mèo có linh tính, rất ghét ăn phải thịt thối, Trương Tiểu Biện thấy thần thái của con mèo La Hán như vậy, biết ngay nhân bánh nướng làm bằng thịt người.
Trương Tiểu Biện đoán định ả nọ chắc chắn là dư nghiệt Tháp giáo lọt lưới, định lệnh cho thủ hạ ra tay. Nào ngờ, ả góa phụ từ đầu đến giờ luôn cúi đầu, bỗng đột nhiên ngẩng lên, để lộ ra một bộ mặt trắng bệch trát đầy phấn, cặp mắt oán hận đỏ lên như ứa máu, mở miệng thè ra một cái lưỡi dài, đầu lưỡi chẻ hai, phát ra tiếng xè xè như một con rắn độc phóng lưỡi, bắn thẳng vào Trương Tiểu Biện.
May mà mọi người ở Nhạn doanh đã sớm đề phòng, Nhạn Bài Lý Tức là người cực kì nhanh tay nhanh mắt, đời nào để ả ám sát doanh quan. Gã quát lên một tiếng: “Con yêu phụ”, rồi vung đao chém tới. Nói ra thì chậm chứ diễn biến cực nhanh, Nhạn linh đao đã xả xuống vai của ả, chém ngã lăn ra đất. Gã nhấc chân đạp cứng ả góa phụ, đám lính dõng còn lại nhao tới trói nghiến ả ngay tại chỗ.
Tháp giáo chẳng qua chỉ là một đám yêu nghiệt biết chút tà thuật Tạo Súc, chuyên ăn trộm thi hài người chết, bắt cóc đồng nam, đồng nữ, làm những việc đen tối, chứ gặp phải Nhạn doanh thì chúng căn bản không chịu nổi một đòn, Ả góa phụ nọ tuy thủ đoạn có quái dị nhưng trời xui đất khiến thế nào mà lại chạm phải Nhạn Bài Lý Tứ chứ chẳng phải ai khác, gã này đâu phải hạng tay mơ? Ả thất thủ bị bắt, đầu vai lại bị xả vào tận xương, đau đớn không chịu nổi, tự biết mình sẽ bị hành hạ như đám đồng đảng trước kia nên không ngớt van xin tha mạng.
Trương Tiểu Biện không sai người trị thương, chỉ sai quân đem dao cắt phăng cái nang độc trên lưỡi của ả, sau đó tra hỏi ngay tại chỗ: “Nay ngươi đã lọt vào tay của Nhạn doanh rồi, chẳng còn đường nào sống sót đâu, đáng ra phải đem dao ra lóc từng miếng thịt của nhà ngươi mới phải, nhưng, tiểu nương tử xinh xắn trẻ trung thế này, Tam gia ta sao nỡ gia hại, chỉ cần ngươi cũng khai sự thực thì ta sẽ suy nghĩ lại.”
Ả nọ thấy chuyện đã hỏng, đành phải cung khai hết. Vốn ả là “ Xà mẫu” trong Tháp giáo, từ khi giáo chủ Bạch Tháp chân nhân bị quan phủ hành quyết, toàn bộ giáo đồ đều bị tiễu rừ sạch, Xà mẫu trốn trong chùa Ngõa Quán của Thanh Loa trấn, lóc thịt tử thi làm nhân bánh để đem bán, lại đặt một cỗ quan tài không làm linh vị cho giáo chủ, ngầm thề nguyền sẽ báo thù rửa hận. Nhưng, sau nhiều lần trà trộn vào Linh Châu để hành thích, ả đều không thành công vì trong thành phòng bị rất nghiêm ngặt.
Sáng sớm nay, ả thấy quan quân tiến vào trong trấn, định cao chạy xa bay nhưng xưa nay phàm là kẻ thù đụng mặt, tai mắt đều vô cùng bén nhạy, nên từ xa ả đã nom thấy cờ hiệu của Nhạn doanh, bèn tự nhủ đúng là oan gia ngõ hẹp, xem ra không phải oan gia thì không thể chạm trán được, nghĩ đoạn liền quyết ý nấp vào quan tài chờ cơ hội…Nhưng, do việc chuẩn bị không được chu đáo, làm mất đi tiên cơ, đành phải mạo hiểm động thủ, định liều mạng cùng chết với đối phương, rốt cuộc vẫn không thành. Ả biết mình không tránh khỏi cái chết, chỉ cầu xin được chết cho toàn thây.
Nhạn Bài Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi đều bảo, nếu cho tướng sĩ áp giải Xà mẫu về nộp cho quan phủ, chỉ e nó giở tà thuật giữa đường thì không ổn. Yêu nhân Tháp giáo làm nhiều việc ác, trừ được đứa nào thì hay đứa ấy, thế mới gọi là: “diệt cỏ diệt tận gốc, mầm cỏ mới không mọc, diệt cỏ không diệt tận gốc, xuân đến lên xanh mấy chốc.” Tới nay, nó đã rơi vào tay chúng ta thì còn giữ lại làm gì? Giết ngay tại chỗ là hơn.
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng: “Xem ra, đám dư nghiệt Tháp giáo coi Tam gia ta như cái đinh trong mắt, không tiêu diệt tận gốc bọn chúng thì sau này ta khó mà ngủ yên được. Con quả phụ bán bánh nướng này trông yêu mị như thế chắc chắn đã từng dan díu với Bạch Tháp chân nhân nên mới để bụng báo thù rửa hận cho chồng. Nay đã bắt sống được ả thì phải sớm giết đi, tránh đêm dài lắm mộng, lưu lại hậu hoạn sau này.” Vì vậy, hắn sai lính dõng mang đến một miếng vải, bịt mặt Xà mẫu lại, dùng dây gai treo cổ ả dưới hành lang, sau đó nổi lửa hỏa thiêu thi thể.
Nhạn doanh đã từng phụng mệnh giết sạch giáo đồ của Tháp giáo tại thành Linh Châu, phàm là bắt được kẻ tình nghi thì không cần hỏi han lằng nhằng, cứ nhất loạt hành quyếtgiết chết không biết bao nhiêu, hôm nay chỉ phải giết một ả góa phụ thì chẳng khác nào giết chết con sâu, cái kiến.
Trương Tiểu Biện liền dẫn người tra xét hậu điện của chùa Ngõa Quán, chỉ thấy dưới đáy quan tài đầy những tay chân thối rữa của người chết, còn ở trong nồi nấu thì có cả gan người, đầu người.
Đám người Nhạn doanh bịt mũi, đem xương thịt người chết ra nhà dưới thiêu hủy, lại sai mấy tên quân khỏe mạnh, lực lưỡng, cầm dao tai trâu, trói gô con bò mộng đang xỏ mũi trong nội điện, mang ra ngoài trời mưa giết chết.
Con Phương Lương ngưu thường được cho ăn thịt xác chết, tính tình hung tợn, nhưng mũi đang bị xỏ vòng, nên không thể trốn thoát được, bị đám lính dõng Nhạn doanh đạp ngã ra, dùng dao tai trâu cắt đứt cổ họng, máu tươi ồng ộc chảy ra như nước vỡ đê. Trước khi chết, con bò giãy giụa muốn đứng dậy, trợn tròn hai mắt, nhìn trời rống lên. Tiếng rống cuối cùng uất nghẹn kịch liệt, xuyên thấu qua màn mưa dày đặc, hòa cùng với tiếng sấm động ì ùng thành một tiếng rền, vang dậy khắp rừng núi Thanh Loa.
Lúc ấy, cũng không biết do tiếng sấm dậy đất hay tiếng bò rống động trời mà nền đất của ngồi chùa cổ đột nhiên cũng rung chuyển ầm ầm như hưởng ứng theo. Gạch ngói trên mái điện rung lên bần bật, tường đá, cột gỗ lắc lư răng rắc không thôi, cảnh tượng thật khác thường. Cả đám Trương Tiểu Biện đều kinh hãi, dường như phía dưới của ngôi chùa Ngõa Quán đang đè lên một con vật to lớn nào đó, bị tiếng bò rống làm kinh động, muốn đội đất chui lên. Trương Tiểu Biện dự cảm thấy chuyện chẳng lành, tuy chưa thấy con mèo La Hán mở miệng nhưng cũng đã cuống cả chân tay. Hắn đưa mắt nhìn con Phương Lương Ngưu đang nằm trong vũng máu, chợt thót tim nghĩ ra một việc rất nguy hiểm, kêu lên một tiếng :” Không xong rồi”, lần này chỉ sợ đã trúng phải quỷ kế của Tháp giáo rồi.
Xem ra năm nay đen đủi, số xui đều tìm đến Tam gia, con người đã gặp vận hạn thì đúng là đến uống ngụm nước mát cũng bị cứng hàm, đến một ngày gặp phải sự cùng quẫn thì có khác nào: “ Mưa vùi hoa rụng tháng Ba; Dương liễu tháng chín sương sa gẫy cành.” Rốt cuộc trong chùa Ngõa Quán phát sinh ra quái sự kinh thiên động địa nào xem hôi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 6:12 pm; sửa lần 1.
Sponsored content

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu - Page 2 Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Về Đầu Trang
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết