Truyện và phim Nam yêu Nam
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Go down
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:47 pm
Truyện Ma :Tặc Miêu
Tác Giả: Thiên Hạ Bá Xướng


Tác phẩm:

Cuối triều nhà Thanh, quân Thái Bình Thiên Quốc nổi dậy.
Trương Tiểu Biện, gã du thủ du thực làng Kim Quang, tình cờ lạc bước vào ngôi mộ hoang của Quý phi triều trước, gặp được bậc kỳ nhân, lại được truyền cho pho kỳ thư dạy môn xem tướng mèo, tướng chó đã thất truyền từ nhiều đời trước. Cũng từ đó, hắn bị cuốn vào dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử. Từ một kẻ khố rách áo ôm, Trương Tiểu Biện bỗng dưng trở thành bậc anh hùng của thành Linh Châu, giúp quan trên phá các vụ án lớn, trừ bọn yêu đạo gây hoạ trong thành, thống lĩnh “Nhạn Doanh” chiến đấu với quân Thái Bình Thiên Quốc… mỗi lần ngộ hiểm đều có linh miêu tương trợ vượt qua nguy khốn.
Nhưng, lũ “Tặc Miêu” thần bí ấy, liệu có thực sự mang vinh hoa phú quý đến cho Trương Tiểu Biện như vị kỳ nhân kia đã nói?

“Cuốn này của Thiên Hạ Bá Xướng viết rất tuyệt, phong cách hoàn toàn khác với Ma Thổi Đèn, đọc sách mà như được nghe tiên sinh kể chuyện, khiến người ta thán phục không thôi.”

Thiên Hạ Bá Xướng, tên thật là Trương Mục Dã, sinh năm 1978, quê ở Thiên Tân, Trung Quốc. Trương Mục Dã học hết lớp 11, rồi bỏ học, xuống phương Nam làm tạp vụ, học thêm ngành Trang trí, vào làm đài truyền hình, sau đó lại chuyển nghề, đi buôn quần áo, mở thẩm mỹ viện… cuối cùng thì cùng bạn bè mở một công ty Tài chính ở Thiên Tân, sáng tác chỉ là thú vui lúc rảnh rỗi.

Nguồn: phoebe_venus(ETV)






Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:10 pm; sửa lần 4.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:49 pm


Quyển thứ nhất: Lâm chung lão quỷ.
Hồi thứ nhất:Chó húc.
Chuyện kể rằng hồi nọ có một ngôi làng tên là Kim Quan, vì sao lại có tên như vậy? Vốn là từ xưa tới nay, quan quách của Hoàng đế gọi là “Tử cung”, quan quách của Quý phi thì gọi là “Kim Quan”. Tương truyền ngày xửa ngày xưa, có một bà quý phi thưở sinh tiền rất được sủng ái, nhưng vì đắc tội với Thái hậu, phải nhận “tam ban triều điển”, tức là bị thắt cổ cho đến chết. Cũng bởi quý phi chết oan, nên đêm đến, hể chợp mắt, Hoàng thượng và Thái hậu lại mơ thấy bà ta mặc váy đỏ tới đòi mạng. Nhằm an ủi vong linh của bà phi, họ liền cho xây một ngôi mộ ở ngoài cõi xa để mai táng thi hài.

Trước khi mai táng, cỗ Kim quan của bà phi được quàn tạm trong ngôi chùa cổ của cái làng này, nên từ đấy về sau, từ tên làng đến tên chùa cũng bị đổi thành làng Kim quan, chùa Kim quan. Tuy nhiên câu chuyện này thật giả thế nào, đến các bậc cổ lão trong làng cũng không biết rõ. Bà phi nọ ngậm hờn dưới suối vàng cũng đã hàng trăm hàng nghìn năm, phần mộ đã hóa đất bằng, chẳng cỏn ai biết đích xác ngôi mộ cổ giờ ở chỗ nào nữa, chỉ còn lại cái tên làng Kim quan và ngôi miếu cũ hoang tàn chừng như muốn sập xuống bất cứ lúc nào làm chứng cho điều đó. Những ngói nát, gạch vụn dường như vẫn đang âm thầm thuật lại câu chuyện xác thực của những năm tháng xa xưa.

Cho đến những năm cuối đời Thanh, khỏi ngãi Thái Bình Thiên Quốc nổ ra trên quá nửa mảnh giang sơn. Lãnh tụ của Thái Bình Thiên Quốc là Hồng Tú Toàn, người Quảng Đông, cuộc khởi nghĩa lại dấy lên ở vùng Quế Tây, Việt Đông, cũng thuộc đất lưỡng quảng, nên thời đó người ta gọi là loạn “Việt khấu”.

Trăm họ quanh làng Kim Quan phải gánh chịu nỗi khổ chiến loạn kéo dài gần hai mươi năm, quan quân và nghĩa quân công phạt chém giết liên miên. Mỗi lần chiến sự qua đi, thây người lại trải khắp nội, hầu như không ai xử lý. Người dân quanh vùng có muốn cũng không thể mang đi chôn cất vì người chết quá nhiều, vô số thân xác máu thịt đành cứ thế phơi ngoài đồng hoang, mặc cho chó tha quạ rỉa.

Chẳng những thế, cả bọn chó làng, lợn nuôi cũng tới ăn thịt người chết. Những con lợn hay ăn xác người trông khác hẳn những con lợn thường, người tinh mắt liếc qua là phân biệt được ngay. Bọn lợn ăn xác ấy béo ú đến phát sợ, da bóng lông mượt, cả đôi mắt nhìn người ta cũng lộ vẻ hung tợn. Tuy lợn béo thật, nhưng những người nào biết nguyên do thì cả đời cũng không dám xơi thịt lợn nữa, mà đến nhìn người khác ăn vào cũng còn thấy buồn nôn.

Trong làng Kim Quan có một đứa trẻ mồ côi , họ Trương con thứ ba, hai người chị đã chết yểu từ lâu nên hắn tự xưng là Trương Tam. Cũng chẳng hiểu tên thật của hắn là gì, chỉ biết bẩn sinh tóc hắn vừa thưa vừa vàng, tới mười lăm, mười sáu tuổi cũng không tết nổi cái bím, đành phải dùng cỏ bện lại gắn bừa vào thành một cái bím nho nhỏ trông như đuôi chó, phàm là người quen đều gọi hắn là “Trương Tiểu Biện”( Trương bím nhỏ).

Trương Tiểu Biện nghèo xơ xác, không có lấy một túp lều trú thân nên thường quanh quẩn trong ngôi chùa Kim Quan đổ nát. Hắn hẩy đổ tượng đất, trải ít rơm cỏ nên trên bệ tượng để ngủ, ban ngày thường đến các nhà giúp gánh nước và làm việc vặt để kiếm chút rau cháo qua ngày. Hắn từng có lúc theo học vị sư phó của tiệm quan tài, lại cũng từng nhận vị đạo sĩ bói toán làm thầy. Song cái thời loạn lạc này, mấy ông thầy lo thân còn chẳng nối nói gì đến chuyện nuôi thêm đồ đệ, thế là mấy cái nghề đó hắn cũng chẳng học được cho ra ngô ra khoai. Có những đọan khó khăn, mấy ngày trời chẳng có gì ăn, Trương Tiểu Biện đánh quanh sang bắt gà trộm chó hàng đêm cho qua cơn đói khát. Hắn biết rằng nhà mình trước khi suy vi có ông tổ làm quan to trong Kinh thành, trong thâm tâm vẫn thường tự hào lắm, phải đi trộm cắp thế này kể cũng lấy làm nhục. Nhưng trong thời buổi binh đao loạn lạc ấy kiếm được miếng ăn đâu phải chuyện dễ dàng, bụng đói thì khó nói mạnh, bàn gì đến xuất thân này nọ nữa.

Mấy năm rồi thiên tai địch họa liên miên, cái ăn trong làng cũng không còn xung túc như trước, đến rau cháo qua bữa cũng khá vất vả. Đêm hôm đó, Trương Tiểu Biện đói đến mức trằn trọc mãi không ngủ được. Hắn nằm ngang trên bệ tượng thần, chân vắt chữ ngũ, ngửa mặt nhìn ánh trăng xuyên lốm đốm qua mái chùa nát, trong lòng tính cách kiếm gì ăn cho đỡ đói, chứ không thì thực sự không chịu nổi nữa. Vài năm nay. Hắn vẫn quen thói trộm gà bởi trong làng có nhiều nhà nuôi, cách ba bữa lại bắt vài con, trước nay chưa từng trộm trượt bao giờ. Chưa từng trộm trượt không phải vì may mắn mà bởi hắn đã tự nghĩ ra một ngón trộm gà hết sức độc đáo.

Quyết ý như vậy, Trương Tiểu Biện liền nhân lúc trăng lu gió lớn, mò vào sân ngoài của mẹ con bà Vương quả phụ trong làng. Nhà này không có đàn ông lại không nuôi chó, cửa nẻo thấp nhỏ., Trương Tiểu Biện lại thuộc vị trí các ổ gà trong làng như lòng bàn tay, hắn chẳng tốn chút sức nào đã vượt qua bờ tường và phát hiện ngay con gà mái đang thiêm thiếp trong chuồng.

Nhìn đã rõ song Trương Tiểu Biện không bắt ngay mà nhẹ nhàng thò tay vào trong ổ, thi triển tuyệt chiêu độc đáo của mình, gãi nhè nhẹ vào bụng của con gà mái. Phàm mỗi khi có kẻ trộm gà hay chồn khoét ổ, bọn gà chắc chắn sẽ vỗ cánh kêu toáng lên khiến nhà chủ thức dậy. Nhưng Trương Tiểu Biện có cách riêng của gà, chỉ gãi nhẹ mấy lượt, con gà mái trong chuồng chẳng những không vỗ cánh và kêu toáng lên mà còn tỏ vẻ dễ chịu sung sướng, tựa hồ rất thích thú vì được người ta gãi ngứa hộ.

Trương Tiểu Biện mừng thầm, chỉ cần bước đầu tiên này không thất bại, con gà này kể như đã vào tay hắn rồi. Nhìn bộ dạng con gà, hắn thầm cáu tiết:’ Ông chẳng chiều chuộng mày suông đâu, đợi khi về đến miếu hoang vặt lông, mày sẽ chẳng được dễ chịu như này nữa!” Trong lòng vui vẻ, một tay hắn vẫn không ngừng gãi cho con gà, tay kia dỡ mái chuồng gà ra, định bụng ôm con gà lên theo lối phía trên. Nhưng có lẽ vì lâu không trộm, ngón nghề có hơi chệch choạng, cũng có khả năng vì đã mấy bữa đói ăn, tựu trung là tay chân hắn có phần luống cuống, đúng lúc nhấc được con gà khỏi chuồng, chưa kịp ôm cho chắc đã làm rớt xuống đất.

Còn gà mái nửa tỉnh nửa mê, đang lúc sung sướng mơ màng bỗng ngã oạch xuống, lập tức tỉnh cơn mộng đẹp. Đại khái nó cũng hiểu ra đây là kẻ trộm gà, nào chịu buông tha, nó liền lập tức dang cánh vỗ phành phạch, kêu loạn lên, quả nhiên khiến chủ nhà thức giấc. Chỉ nghe tiếng Vương quả phụ trong cửa sổ chửi vọng ra:” Thằng ranh nào dám vào trộm gà nhà bà! Chắc lại thằng ranh chết bầm Trương Tiểu Biện ở miếu Quan Tài phải không? Bà còn mỗi con gà đẻ trứng mà mày cũng không tha hả…” Chửi chưa dứt lời, đã thấy cửa sổ nhấc lên, một thùng nước tiểu vụt bay ra.

Trưởng Tiểu Biển thấy một vật không rõ hình thù bay ra, vội rụt cổ tránh. Thúng nước tiểu vốn nhắm không chuẩn, va vào tường đánh chát một cái, thứ nước khai thối vãi tóe ra tứ phía. Hắn biết chuyện đã chẳng xong, thầm nhủ, không ngờ tiếng tăm của Tam gia ta lừng lẫy đến thế, đến mụ Vương quả phụ nghe tiếng gà động mà cũng biết Tam gia ở đây, lại còn tương ra một thùng nước tiểu vừa khai vừa thối, rơi vào tay mụ này chắc ốm đòn, tránh voi chẳng xấu mặt nào, giờ mà không chạy mà còn đợi lúc nào nữa!

Nghĩ tới đây, Trương Tiểu Biện không dám chậm trễ, vội tung mình nhảy ra ngoài, bên tai còn tiếng Vương quả phụ chửi bới liên thanh trong nhà, dường như đang bảo đứa con gái Tiểu Phượng sang nhà hàng xóm mượn chó đuổi trộm. Trương Tiểu Biện chửi thầm:” Mụ Vương được lắm! Chả trách người ta vẫn bảo, nhà quả phụ lắm điều nhiều tiếng, lời này chẳng sai chút nào. Ông trộm có mỗi một con gà mà nào đã vào tay ông, cớ sao mụ phải đuổi tận giết tuyệt chớ? Đợi Tam gia ta phát quan, ông đền cho mụ một thùng nước tiểu bằng vàng…”

Miệng nói cứng như vậy nhưng dẫu sao hắn vẫn có tật giật mình. Các nhà láng giềng xung quanh nhà nào cũng nuôi chó, khi ấy đều bị thùng nước tiểu của Vương quả phụ đánh động, thế là bốn phía chó sủa gà kêu, cả làng loạn hết cả lên, người ta còn tưởng là sơn tặc tới cướp làng nữa. Quả này thì vạ to rồi, Trương Tiểu Biện biết phải trốn đi mấy ngày mới xong, nếu không cả làng ai chẳng biết hắn trú ngụ ở miếu Kim Quan, nếu bị chặn bắt ở ngôi miếu nát đó thì chắp cánh cũng không thoát nổi, vậy là hắn liền nhân đêm tối, vội vã bỏ chạy khỏi làng.
Chạy một mảnh tưởng đứt hơi mới dám dừng chân, tiếng người kêu chó sủa trong làng đã bặt hẳn, Trương Tiểu Biện thở phào như cất được gánh nặng trong lòng, vừa thở hổn hển vừa đưa mát nhìn xung quanh để xem mình đã chạy tới chỗ nào. Chỉ thấy trăng lạnh sao mờ, cây khô cỏ dại, trong lùm cỏ rậm gò mộ nhấp nhô, đá bia lởm chởm, hóa ra lúc nãy hoảng quá chẳng chọn đường chạy lạc vào bãi tha ma phía sau làng.

Bãi tha ma này nghe nói phong thủy tốt lắm mà lại là đất vô chủ, ngừơi chết ở làng xa thôn gần đều mang đến đây chôn, vì thế vô số mộ phần chen vai thích cánh, màu đất còn tươi mới là những mộ mới đắp, còn những mộ lâu lắm đầy cỏ dại thì nhiều không đếm xuể. Cách đây không lâu có mấy cánh quân Việt khẩu xuất hiện ở địa bàn này, giao tranh áo liệt với quan binh mấy trận, cũng mới vừa rút đi, bỏ lại chiến trường hàng nghìn xác chết. Xác người không kịp chôn cất, rữa nát bốc mùi gây ra một đợt ôn dịch nhỏ, vì vậy dân cư vùng lân cận chết nhiều hơn trước, bãi tha mà này cũng bởi thế mà có thêm nhiều mộ mới. Những nhà khá giả một chút thì mộ có quan tài, bia đá, còn đám người cùng khổ thì đâu máy mắn như vậy, khi chết có được cỗ áo quan mỏng là may mắn lắm rồi, có khi còn phải lấy manh chiếu gai bó lại rồi vùi xuống huyệt, nắm mồ cũng nhỏ bé đến tội, còn bia đá bỏ được thì bỏ, lấy miếng gỗ, cành cây cắm xuống cũng xong. Những ngôi mộ mới không được đánh dấu như thế sẽ nhanh chóng biến thành những nấm mồ vô chủ.

Đêm đến, những lúc mây đen mù mịt, bãi tha ma lại thấp thoáng những đốm lửa ma chơi, thỉnh thoảng một hai con mèo hoang lao vụt ra từ đám có, thêm vào đó là những âm thanh quái dị chẳng biết là ma kêu hay sói gào vọng ra tít tắp bên trong khiến người nghe dựng cả tóc gáy.

Trương Tiểu Biện vốn là kẻ gan to bằng trời, đằng nào cũng có mỗi cái mạng quèn, lại nghèo khổ mạt vận, ở đâu cũng thế cả, vì thế xưa nay đều chẳng đếm xỉa ma cũng chẳng dợ quỷ thần, giả như không lớn mặt thế, thì làm sao đêm đêm hắn dám một mình ở tròn cái miếng hoang nhập nhoạng kia chứ. Chỉ có điều tự dưng chạy lạc vào bãi tham ma như thế, hắn cũng tháy hơi sợ, vội vã nhìn tứ phía vái như sảy gạo:” Cái vị đại ca, đại tỉ! Tiểu nhân là Trương Tam không dám mạo phạm, chỉ vô tình làm kinh động, xin đừng trách mắng, xin đừng trách mắng…”
Nói xong, hắn định quay người rời đi. Chính lúc đó, đột nhiên nghe thấy bên trong nấm mồ sau lưng nổi lên một tràng:”Thùng! Thùng! Thùng!”, tựa như có người nào đang dùng hết sức đập vào cánh cửa gỗ. Nhưng, trong bãi tha ma lổn nhổn này, lấy đâu ra nhà cửa âm thanh ấy nhất định là tiếng đập nắp quan tài rồi.

Đương lúc đêm khuya, bốn bề vắng lặng lạ thường khiến cho tiếng đập nắp quan tài này càng nghe thêm kinh hồn táng đởm. Trương Tiểu Biện thấy cái bím nhỏ sau gáy dựng đứng lên, nhưng hắn không lập tức bỏ chạy ngay. Cuộc đào thoát bở hơi tai vừa rồi cộng thêm cái bụng đói meo khiến hắn không thể nhấc nổi chân lên nữa, chỉ lấy ống tay áo quệt nước mũi, quan sát các nấm mồ xung quanh, lòng thầm nghĩ không biết con mả chết toi nào đang đừa giỡn với Tam gia ta? Tam gia chẳng vừa khấn vái chúng bay rồi còn gì, sao vẫn còn lằng nhằng không tha, định dọa để Tam gia phải rập đầu xin chắc?

Tiếng đập quan tài trong nấm mồ kia càng lúc càng to, Trương Tiểu Biện hồ nghi hay là bọn trộm mộ đang cạy nắm quan tài? Phải lại đó xem thứ gì tác quái mới được. Nếu đúng là phường trộm mộ, Tam gia ta dọa hắn một phen, vừa ăn cướp vừa la làng, phỗng tay trên của nó ít tang vật, thế gọi là cá lớn nuốt cá bé, càng nuốt càng béo.
Hắn đi vài bước ra phía sau ngôi mộ ấy. Đó là một nấm mộ vô chủ còn mới, gò đất bị ai đó đào lên một lỗ lớn, âm thanh quái di ”Thùng!”, “Thùng!”, ”Thùng!” kia đang từ phía dưới vọng lên. Hắn vừa bước tới gần đã nghe thấy tiếng gầm gừ rất lớn vọng lên từ cái hố bên cạnh nấm mộ, một cái mặt đầy lông lem luốc màu máu thò ra. Trên trán nó mọc một cái u lớn hình bầu dục, lưỡi thè ra đỏ lòm, ranh nanh bên mép còn dính vết máu, hai mắt lóe lên vẻ hung ác, hằn học nhìn vào Trương Tiểu Biện.

Trương Tiểu Biện thầm kêu khổ, sao hắn không nghĩ đến cái của nợ này cơ chứ! Bây giờ hiểu ra thì cũng muộn rồi, chỉ còn cách lẩn vào bụi rậm mà thoát thôi.

Thì ra chó hoang xưa kia và ngày nay không giống nhau, sau Giải phóng, xã hội ổn định rồi thì một số loài chó hoang đã dần tuyệt tích. Còn giữa thời loạn lạc, mạng người như cỏ rác, bởi người chết quá nhiều nên chuyện thi thể phơi giữa đồng ở đâu cũng có, thế nên những động vật ăn xác chết cũng rất nhiều. Ở vùng nông thôn hoang dã có loại chó hoang chuyên ăn xác chết, đánh hơi thấy mùi người chết là bới lỗ trên mộ, đào xuống đến quan tài thì dùng đầu húc vỡ áo quan để lôi người chết ra mà ăn ruột gan. Loại chó hoang này vóc dáng cao lớn, tính tình hung tàn, ăn nhiều phủ ngũ tang của người chết đâm ra không muốn ăn bất cứ thứ gì khác, có những lúc gặp người sống đi đơn độc, chúng cũng bổ nhào đến cắn chết ăn thịt. Những con chó hoang có bướu máu là do ăn nhiều người chết, tử khí ám nặng nề trên cơ thể, răng có độc của xác chết, bị nó cắn thì coi như rồi đời. Đặc trưng của nó là trên trán có một cái bướu đỏ màu máu, cứng hơn cả búa sắt. Quan tài của người nghèo vừa mỏng vừa rẻ, cùng lắm dày không quá “ ba phân gỗ bách”, ván quan tài bị loài chó này húc đầu vào vài lượt là vỡ. Những quan tài đơn sơ như thế còn có tên là quan tài “chó húc”, ý nghĩ hết sức dễ hiểu. Tang gia mua một quan tài “chó húc” về tẩm liệm mai táng người chết là đã tận tâm lắm rồi, sau đó thì cái vị trong quan kia cứ ở đấy mà đợi chó hoang đến xơi vậy. Song thời đó đến quan tài “chó húc” ba phân gỗ này cũng không đủ mà bán.

Đúng là:” Người không có lòng hại chó; Chó lại có ý giết người.” Muốn biết diễn biến thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:11 pm; sửa lần 2.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:50 pm


Hồi thứ hai: Mộ mèo khóc.
Tiếp theo hồi trước, đang kể đến đoạn Trương Tiểu Biện nửa đêm trộm gà không thành, chạy nhầm vào bãi tha mà hoang vắng, làm kinh động con chó hoang đang húc mả ăn xác. Con chó đào được một ngôi mộ mới, vùa húc thủng ván áo quan, cắn toét cả ngực lẫn bụng tử thi, đang định lôi bộ ruột ra thì nghe thấy phía sau có tiếng động, liền lập tức chui ra bên ngoài. Đúng lúc đang đói mờ mắt lại vừa liếm ít máu thịt của tử thi, thấy một gã xớ rớ ngoài nấm mộ, hia con mắt vằn tia máu của nó liền long lên sòng sọc, đầy vẻ hung tợn. “Oắc!” một tiếng, con chó lao khỏi nấm mộ, xộc thẳng vào kẻ mới đến cắn xé.
Trương Tiểu Biện thấy nguy, vội la lên:” Có giỏi thì đứng yên đấy…” Lời chưa dứt đã quay đầu bỏ chạy, rõ ràng còn cất chân không nổi, nhưng trong cơn kinh hoàng, chẳng hiểu hắn lấy sức lực ở đâu ra, sải bước chạy như bay trong bãi tha ma. Hắn thừa hiểu rằng, nếu cứ thế mà chạy, chưa được mười bước ắt sẽ bị con cho hoang vồ được mà móc ruột ra, vậy là liền nảy ra một ý, dùng phắt lại, tránh khỏi một cái vồ của con chó đang đuổi sau lưng, rồi chạy chéo vào sâu trong bãi tha ma, mượn đám bia mộ để ẩn nấp tránh né.
Con chó hoang vồ hụt một phát, càng điên tiết , lập tức quay ngoắt đầu lại, gục oặc cái bướu thịt to đỏ như máu, cắm đầu đuổi sát Trương Tiểu Biện chực cắn. Trương Tiểu Biện chạy quanh co quanh rừng bia mộ và các nấm mồ, địa thế bãi tha ma cao thấp lô nhô, ngăn bước truy đuổi điên cuồng cảu con chó hoang. Một người một chó cứ thế đuổi bắt quanh mấy ngôi mộ thành một vòng tròn. Con chó hoang hung hăng tàn bạo tuy mắt thấy miếng mồi sống đã đến tận miệng rồi mà nhất thời cũng khó vồ lấy ngay được.
Rốt cuộc con chó hoang cũng hiểu ra, nó không lòng vòng đuổi theo Trương Tiểu Biện giữa đám mồ hoang nữa, mà nhảy chồm lên một ngôi mộ cao, định bụng lấy cái cách ở cao đánh thấp, từ trên ấy vồ thẳng xuống mà thị người, chiêu này gọi là “chó cùng rứt giậu”. Kỳ thực ra, dẫu cho nó không làm như thế, Vị Trương Tam gia kia cũng sắp chạy không nổi nữa rồi, lúc này hắn đang thở hổn hển, lồng ngực như muốn nổ tung ra.
Nhưng chó cùng thì dứt giậu, người ta khó thì ló cái khôn, Trương Tiểu Biện thấy mình lâm vào đường cùng, tự dưng cái mật lại to hẳn ra, liền bỏ qua chuyện sống chết, khom lưng ngồi xổm xuống đất không chạy nữa. Xưa nay, việc quân chẳng ngại dối trá, chiêu này của Tam gia cũng tuyệt không phải cái dũng của kẻ thất phu.
Đi đêm ở đường làng thường gặp phải lúc chó hoang lang sói. Sau nhiều bài học sương máu, dân gian đã đúc kết ra một số cách phòng thân, có câu tục ngữ rất hay rằng:” Chó sợ khom lưng, soi kinh thúc trống”
Lang sói, chó hoang dẫu hung hăng đến mấy đều có nhược điểm. Tính đa nghi của loài sói nặng nhất, một người đi đêm một mình gặp sói, thì khó mà khống táng đởm kinh hồn cho được, nhưng nếu bỏ chạy thì mười phần chắc chin phần là bị sói đuổi kịp mà sơi tái. Thảng như lúc ấy có thể bình tĩnh, giả tảng lờ con ác thú đi, thò tay vào túi mò bên này, sờ bên nọ, làm những việc mà chính anh cũng không biết mình đang làm gì nữa, con sói sẽ không dám mạo hiểm xôg tới cắn, nó nghi ngờ anh đang bày mưu bắt nó. Còn bọn chó hoang lại sợ người ta khom người, bởi cho rằng anh đang cúi xuống lượm gậy để đánh nó; dẫu cho con chó hung hăng bao nhiêu mặc lòng, bẩm sinh loài chó đã hết sức sợ những thứ côn bổng ấy rồi. Vậy nên đám hành khất đều đem theo “đả cầu bổng” là thế.
Nhưng Trương Tiểu Biện cũng that là đen đủi, đại khái là hắn làm nhiều việc bắt gà trộm chó, lúc nào cũng mặt la mày lét, chính khí không đủ, lúc này đã khom lưng, giả tảng nhặt gậy đánh chó mà con chó hoang không bị mắc lừa, nó thuận thế nhảy vọt từ trên nấm mồ xuống, hùng hổ vồ vào Trương Tiểu Biện.
Trương Tiểu Biện kêu trời một tiếng, nghĩ mình chắc phải bỏ mạng ở đây. Chẳng ngờ gò mộ phía sau lưng hắn có một khe hở, ở chỗ phình ra hình thành một cái hang thiên nhiên, bên ngoài cửa hag bị cỏ lác che khuất, có đi đến gần cũng không trông rõ, lúc ấy, hắn bị con chó dữ vồ ngã lăn, cả người lẫn chó cùng rơi xuống hang mộ.
Khe nứt chỗ gờ mộ tuy sâu, song chỗ cuống khe lại khá chật hẹp. Trương Tiểu Biện người gầy nhỏ, cứ thế théo đường dốc của khe nứt lăn thẳng xuống dưới, còn con chó hoang kia thường nhật hay ăn ruột gan người chết, thân thể to lớn như con nghé, bị kẹt cứng ở chỗ đường hẹp, giãy giụa một hồi, tiến lui đều chẳng được.
Trương Tiểu Biện giữ được cái mạng, cũng chẳng thiết đến người đang đau như dần, lúc này đã rơi xuống bên dưới khe nứt, bốn phía tối đen như mực, xòe bàn tay không trông thấy ngón, chửng rõ rốt cuộc mình đang ở đâu. Hắn cố căng mắt nhìn, thấy phía xa xa chợt mờ chợt tỏ tựa như có ánh đèn, liền xốc lại tinh thần mò mẫm đi đến.
Một loáng sau, đi hết bờ đất, hắn sờ phải một bức tường đá lạnh ghê người, rờ rẫm thấy phiến đá to lớn lạ thường, hơi buốt thấu xương. Bức tường đá nứt ra một khe hở, qua khe hở thấy đằng sau là một gian điện đá, trên tường gắn đãi đèn chiêu hồn nhỏ như hạt đậu, cháy leo lét. Trương Tiểu Biện chẳng cần biết hay dở thế nào, cứ thấy có ánh đèn là chui tọt qua khe nứt vào bên trong, đến khi nhìn rõ quanh cảnh bên trong minh điện, hắn càng kinh ngạc khôn xiết.
Dưới ngọn đèn chiêu hồn đặt loại bệ quan tài bằng đá xanh, bên trên là thi hài của một thiếu phụ trẻ, chừng mười tám mười chín, áo liệm trên người rộng thùng thình, đính nhiều vàng bạc, trông đến xa hoa lộng lẫy. Xem lối phục sức rõ là không phải người thời nay, song người thiếu phụ trẻ này tóc mây da trắng, mặt mày thanh tú thoát tục, chẳng giống tử thi đã chết hàng trăm năm gì cả. Trương Tiểu Biện sợ thì vẫn sợ, nhưng đang lúc đường sinh nhai bế tắc, nghèo khổ đói rách chẳng có cái ăn, trước đống châu báu vàng bạc lấp lánh trong ánh đèn chiêu hồn, sao có thể không động lòng cho được.
Trong điện còn bày rất nhiều người ngựa bằng giấy hình thù quái dị, bên cạnh xác chết còn có một vũng nước xanh biếc trong vắt. Sau một phen chạy trốn vừa rồi, Trương Tiểu Biện thấy miệng khô lưỡi đắng, bèn lất tay vực nước uống vài ngụm cho sướng, cảm thấy mùi vị nước còn ngọt ngào hơn cả nước Cam Lộ, chỉ có điều nước Cam Lộruốt cuộc ra sao thì hắn chưa từng được nếm thử bao giờ. Uống nước xong, đầu óc đã tỉnh táo phần nào, hắn tự nhủ thói đời thằng gan chết no, thằng nhất chết đói, đã là kẻ cùng khổ thì một liều ba bảy cũng liều, vậy là hắn nổi tà niệm, tiến lại gần cái xác, rút tram vàng, tháo vòng ngọc, lột hài thêu…lấy hết những thứ đáng giá, rồi cởi cả tấm áo niệm của thiếu phụ làm thành cái tay nải, vừa làm vừa khấn với cái xác để trấn an:” Xem tiểu nương tử vàng bạc đầy người, hồi còn sống hẳn là một quý nhân sung sướng, tiểu nhân sinh ra số khổ, ba tháng nay chưa được nếm thử mùi thịt rồi. giờ không còn kế sinh nha, bất đắc dĩ đành mượn tạm vài thứ linh tinh đổi gạo dầu mắm muối qua ngày, xin cô đừng trách, về sau nhược bằng tiểu nhân được mở mày mở mặt, nhất định sẽ đốt vàng, thắp hương tạ cô…”
Đương khi lấy vàng ngọc, Trương Tiểu Biện chợt nghe có tiếng mèo kêu ở phía góc gian điện đá, hắn vội vã quay lại nhìn, chỉ thấy trong một góc tối om có một con mèo khoang to tướng bò ra. Nhưng việc ngoài sứ tưởng tượng là con mèo đó lại phát ra tiếng người khóc, ai oán như mưa sầu gió thảm. Trương Tiểu Biện đã từng thấy cảnh đám khóc trước linh cữu khi đưa ma, con mèo khoang này sao lại như đang khóc điều người chết như thế, chẳng lẽ mèo già dã hóa thành yêu tinh?
Con mèo khoang to như thể không trông thấy Trương Tiểu Biện, có thế trong hai con mắt như hai ngọn đèn đỏ, cất tiếng khóc thống thiết. Trong không gian yên ắng dưới lòng đất, tiếng mèo khóc the thé chói tai khiến tự sâu trong lòng Trương Tiểu Biện cảm thấy hết sức bực mình. Con mèo gia này mà cũng dọa ma dọa quỷ, tự dưng trogn lòng liền nảy sinh ác ý.
Nghĩ đến đây, nhân lúc con mèo khoang không đề phòng, hắn bất ngờ cầm cả cái tay nải chứa đầy vàng bạc châu báu đè nghiến nó xuống. Chỉ thấy con mèo khoang giãy giụa một hồi rồi bị đè chết luôn tại chỗ. Trương Tiểu Biện nghĩ thầm, bây giờ đang đói đến nỗi không nhấc chân nổi về làng Kim Quan nữa, tam gia ta đã làm thì làm cho trot, cứ thịt con mèo già thành tinh này để tế cái dạ dày đã, xem rốt cuộc đọa hành của con mèo già hay của Tam gia thâm hậu hơn.
Trương Tiểu Biện to gan lớn mật, ỷ mình hồi trước cũng từng theo học lão đạo sĩ học về bùa bắt quỷ, chẳng them để ý đến mấy chuyện Âm y Địa phủ gì. Hắn mổ bụng lột da con mèo khoang, sơ chế một hồi rồi nhổ ngọn đèn chiếu mệnh trên tường ra, gom mấy con ngựa giấy vàng hương lại nhóm lửa, đem thịt mèo quay quay nướng nướng. Không ngờ tay nghề chẳng tới nơi tới chốn, nướng cháy hết thịt mèo, phần bên ngoài xém thành một lớp than đen. Nhưng Trương Tiểu Biện đã đói cuống cả lên, thằng đói chẳng kén thức ăn, àm ngửi cũng thấy thơm nức, chẳng cần biết có cháy hay không, há miệng định đớp một miếng mèo nướng. Bỗng một đôi tay lạnh ngắt như băng bấm vào cổ hắn từ phía sau và giọng âm u cất lên:” Thằng kia, ngươi có thấy con mèo hoang trong cung của ta không? Này…thằng ranh chết yểu nhà mày đang nướng cái gì đấy?”
Trương Tiểu Biện sợ hãi rụng rời, gan có to mấy cũng không chịu nổi nữa, định vẽ bùa niệm chú nhưng trong đầu trống trơn chẳng nghĩ ra cái gì, đành buột miệng trả lời luôn:” KHông…không thấy, đang nướng đang…đang nướng gà”. Chỉ thấy phía sau có một luồng hơi lạnh phả vào, toàn thân hắn run lên càm cập, mồ hôi ở lỗ chân lông tưởng như đông lại thành băng, giộng nữ ở phía sau lại tiếp tục cất vấn:” Nướng gà sao lại có bốn chân?” Trương Tiểu Biện vẫn bướng bỉnh vặc lại:” Tam gia nướng hai con gà, hai con gà nướng thì có bốn chân…”
Có câu rằng:” Diêm La trước điện thêm hảo hán, Âm hồn bám riết biết sao buông?” Muốn biết chuyện sẽ ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:13 pm; sửa lần 2.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:51 pm

Hồi thứ ba : Xác phượng


Lại nói, Trương Tiểu Biện lớ ngớ xông vào một ngôi mộ cổ, thấy có một con mèo già khóc lóc, nghĩ là yêu quái liền hạ thủ giết chết, rồi lột da đem nướng chín, nào ngờ lại làm con ma chết oan trong mộ tới tìm mèo. Trương Tiểu Biện bị nó ở đằng sau bóp cổ, cật vấn nguyên do, liền cãi chày cãi cối rằng thứ mình đang nướng cháy sém là gà chứ không phải là mèo.
Con ma phía sau nào chịu tin lời, đôi tay lớn lạnh lẽo tựa như cái móc sắt, tàn độc khóa chặt yết hầu của Trương Tiểu Biện. Hắn thấy cổ bị thít lại, vội vận sức gỡ đôi tay ma đó ra, nhưung sức yếu, lại thêm bị đói mất ngày, làm sao giằng ra cho nổi,lập tức trợn mắt trắng dã, lưỡi thè ra, quỷ Vô thường đã tới lấy mạng, mặc cho hắn luyến tiếc dương gian. Tưởng chừng như ba hồn bảy vía của Trương Tiểu Biện đã sắp sửa rời xác để trở thành một oan hồn dưới chân thành Uông Tử.
Chính lúc sống chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, bỗng cso tiếng nổ như sấm, đất đá trong điện đổ rào rào, tường đá sau lưng hắn bị địa lôi phá thủng một lỗ lớn từ bên ngoài, Trương Tiểu Biện bị sặc cát bụi, nước mắt nước mũi chảy giàn giụa, hai tai bị tiếng nổ ù cả lên, đôi tay ma tren cổ cũng biến mất không tăm tích. Nhưung vừa loáng thoáng nghe thấy tiếng người sau bức tường bị địa lôi phá vỡ, Trương Tiểu Biện lập tức ngã lăn ra đất giả chết. Hắn phiêu bạt giang hồ đã lâu nên rất nhanh trí, hiểu ngay có người đang tới chộm mộ, nếu để chúng thấy trong gian thạch này có thêm một người sống, chắc chắn cái mạng của hắn sẽ phải toi đời, ngộ biến phỉa tong quyền, chỉ còn cách nằm thẳng cẳng giữa đống ngói nát, gạch vụn àm thôi. Mấy năm nay chiến tranh liên miên, người chết đầy khắp nơi, hắn nhiều lần trông thấy cái xác chết chẳng ai thu nhặ nằm ngổn ngang, vì vậy giả làm xác chết cũng khá giống thật.
Thật rõ khéo, đúng như Trương Tiểu Biện đã đoán, thì ra có hai tên trộm đã nghe ngóng trong bãi tha ma làng Kim Quan có ngôi mộ triều trước, sau khi lần ra dấu vết và ra sức tìm kiếm, chúng đã đào được một cái hang dẫn vào tới nơi. Trộm mộ là công việc lén lút, muốn vội cũng chẳng được, đầu phải chuyện ngày một ngày hai mà xong, lại chỉ thích hợp làm vào đêm khuya, phải mất hơn nửa tháng trời, chúng mới đào được đến tầng gạch mộ .
Canh ba đêm nay, hai tên trộm mộ mang theo đồ nghề, tiếp tục lẻn vào hang, dùng địa lôi pahs tường mộ, thấy ngọn đèn chiêu hồn trong minh điện vẫn sáng, liệu chừng bên trong không cso khí độc, chúng liền thắp đuốc đi vào. Một tên khoác áo tơi bước vào trước tiên. Hắn thấy ở cửa hang có một thiếu niên da bọc xương, mặt mũi lem luốc, nằm ngay đơ rõ là một xác chết, không nén nổi ngạc nhiên, thốt nên:” Ôi!...Quý phi nương nương trong mộ Kim Quan lại cũng có một tên đồng tử bồi táng theo cơ à, có điều thằng này hơi lớn thì phải! Đồng tử tuẫn táng theo phải dưới mười tuổi mới đúng chứ?”
Gã trộm mộ đằng sau vội giục:” Có khi là một tiểu thái giám chưa biết chừng. Hiền đệ chớ hỏi nhiều, chốn minh điện này kị nhát là hai chữ “tò mò” đấy, mau lấy các đồ tùy táng rồi rút cho sớm sửa, may ra kịp về Quan Hoa lâu trong thành tìm mấy em chơi bời cho đã”
Hai tên trộm mộ nóng lòng phát tài nên không xme kĩ Trương Tiểu Biện đang giả chết, trước tiên chúng đi quanh điện một vòng, thấy phía tường hậu bị động đất làm nứt ra một khe hở không đủ cho người lớn lọt qua cũng không thèm để tâm, quay thẳng ra chỗ bệ đá, thấy chẳng có quan quách gì ngoài thi thể của một thiếu phụ trẻ áo trắng, không đồ trang sức nằm trơ bên trên. Hai gã trộm xiết đỗi kinh ngạc vì thi thể được bảo quản quá hoàn hảo, chẳng khác nào người đang nằm ngủ, tưởng chừng chỉ cần sơ ý làm kinh động là có thể đánh thức bà Quý phi. Những xác chết mà không rữa không khô, một là do oán hận không tiêu, hai là đã hóa thành cương thi, ba là bị chết mờ ám, chờ được rửa oan, chẳng hiểu bà Quý phi này ra sao nữa? Lạ lùng ở chỗ, một là không có quan quách, hai là không có đồ bồi táng. Tương truyền năm xưa cũng có người được mai táng đơn sơ bằng áo giấy và quan tài giấy, có lễ bao nhiêu năm qua, quan quách bằng giấy đã mục nát hết cả rồi, song không có đồ đạc chôn theo thì thật khiến người ta bực mình, đã trot uổng phí bao công sức, chẳng lẽ lại về tay không?
Trương Tiểu Biện nằm dưới đất nghe thấy hai tên trộm ngoạc mồm chửi bới, nghĩ thầm:” Hai gã này chẳng biết gì, cả bao tiền vàng trang sức đã bị Tam gia nhà các ngươi gói gém hết rồi, đang giấu dưới mình đây này, các ngươi đã trộm hụt thì đừng nấn ná nữa, mau biến nhanh, biến nhanh đi…” Hắn mong cho hai tên trộm bỏ chạy đi cho nhanh vì giả chết đã khá lâu rồi, cơ thể nằm trên đóng gạch đã bắt đầu thấy ê ẩm, muốn thở mạnh cũng không dám, không thể chịu nổi nữa.
Vẫn có câu, cướp chẳng về không, hai tên trộm sao chịu bỏ qua, thấy trên người Quý phi nương nương còn mấy bộ quần áo, liền hợp sức dùng dây thừng trói xác phượng lại, lột sạch từng cái một. Đáng thương thay Quý phi ngậm hờn mà chết, chiếc thân chín suối còn chưa hóa hết hình hài, tới bây giưof còn bị hai tên trộm lột cho lõa lồ không còn mảnh vải.
Hai tên trộm lấy xong quần áo, còn cạy lấy ngọc ngậm trong mồm và nhét trong hậu môn, những thứ lúc nãy Trương Tiểu BIện chưa lấy, đương định bỏ đi, chợt thấy xác phượng đã lột trần kia đúng là một tấm thân ngọc ngà tuyệt sắc đang nằm thiêm thiếp, chẳng giống người chết chút nào, chúng bỗng thấy người nóng ran lên, dục vọng trỗi dậy, nảy sinh tà niệm định giở trò đồi bại với xác chết. Hai gã thường đào trộm cổ mộ, từ xưa tới nay chưa từng trúng quả nào lớn, những tử thi trong quan tài, không phải rữa thì cũng thối, hoặc giả đã nát bấy, chừa lại mấy khúc xương, còn bà Quý phi này là loại người nào chứ? Là đàn bà mà Hoàng thượng mới có thể ôm ấp đi ngủ, đêm nay thật là cơ hội trời cho, cớ sao không nếm thử qua một chút mùi vị của thằng cha Hoàng đế xem rốt cuộc thế nào?
Càng nghĩ càng thấy toàn thân nóng ran, miệng khô lưỡi đắng, hai gã tiện tay vục uống mấy ngụm nước mát trong ao, hòng mong nước mát sẽ đè nèn lửa dục vòng đang dâng lên trong lòng. Nói gì thì chúng chưa bao giờ giở trò đồi bại với xác chết, có điều đối mặt với tứ khoái thì họa may có thần tiên mới bỏ được, đứng trước xác chết đẹp tuyệtt rần thế này, mấy ngụm nước vừa rồi chửng những không thấm vào đâu mà còn khiến dục vọng trỗi dậy mạnh hơn. Chuyện gì đến sẽ đến, chỉ có trời đất mới biết, mày biết toa biết, còn phải do dự gì nữa.
Tú tài gặp nhau nói chuyện chữ nghĩa, đồ tể gặp nhau nói chuyện giết lợn, hai gã trộm mộ ở cùng với nhau thì bàn cái gì đứng đắn? Chúng xốc tinh thần cho nhau, rồi dùng dây gai treo cái cổ, buộc chập hai tay lại lên đề phòng cái xác có điều gì cổ quái sau đó hai tên nở nụ cười gian hiểm trèo lên bệ đá, định bụng làm một phen sung sướng phong lưu như thằng cha Hoàng đế…
Trương Tiểu Biện nằm ở góc điện không chịu nổi nữa, nghe thấy hai tên trộm cười hỉ hả chuẩn bị gian dâm với xác Quý phi, trong bụng hắn cũng có chút tò mò nhưng lại không dám sơ suất vọng động, chỉ e làm kinh động hai gã kia. Chợt trong phút chốc, gian mộ bỗng nhiên im bặt chẳng có động tĩnh gì, hia tên trộm nọ như đột nhiên biến mất, hắn không khỏi vừa hoảng vừa nghĩ, lại bứt rứt chờ đợi một lúc, thấy trong minh điện vẫn không có động tĩnh gì, mới nhè nhẹ quay đầu lên nhìn. Chỉ thấy hai tên trộm nằm phục trên cái xác lõa lồ của QUý phi, mỗi tên tay nắm một cán dao đâm vào ngực của đối phương, tyển mặt vẫn còn cứng đờ một nụ cười dâm dục, máu chảy lênh láng trên mặt đất,c hửng ngờ đã chết được một lúc lâu.
Lời tác giả:” Kim trì ngọc dịch” (nước ngọc ao vàng) trong minh điện chính là một cái bẫy chí mạng, bọn phàm phu sao có thể biết được sự lợi hại của nó? Nếu uống phải nước này ắt sẽ phát điên tới chết, bị oán hồn bàm riết không thôi.
Trương Tiểu Biện vốn không biết duyên cớ bên trong, nhưng khi ngồi dậy nhìn thì chẳng thấy con mèo già bị nướng đâu nữa thì cũng đoán được một hai phần, thứ nước ma đó không thể uống bừa uống bãi, bằng không sẽ có ác quỷ theo đuổi. Hắn hết sức sợ hãi, vội đứng bật dậy, định nhặt tai nải châu báu kia rồi cướp đường chạy, chẳng ngờ vừa với tay sờ vào thì chẳng còn châu báu mà chạm phải một vật sống đầy lông mềm mềm. Ngọn đèn chiêu hồn trong điện chập chờn chực tắt, tiếng mèo âm u lại vọng về từ phía sau
Đúng là:” Bước vào tới cửa Diêm vương, Cho hay lúc sống mới nhường vui sao” Rốt cuộc trong mộ Kim Quan xảy ra biến cố gì, xin xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:14 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:52 pm


Hồi thứ 4: Lâm Trung Lão Quỷ

Trương Tiểu Biện mò phải một con mèo già mềm mềm, thấy con mèo kêu lên những tiếng thê thảm như phán quan dưới Âm ty đòi mạng, bất giác chửi thầm:” ĐÁ mọc lông, gà trống đẻ, hay là tại kiếp trước ta không nên thân? Sao bao nhiêu quái sự trong gầm trời này cứ nhè đầu Tam gia ta mà đổ xuống vậy. Cha bố cái con mèo chết bầm, đừng có mà ám ông mày mãi nữa…” Mặc dầu trong bụng lầm rầm chửi bới không thôi nhưng thực ra hắn đang sợ hãi tột độ, ba hồn bảy vía lên mây cả, chỉ giận đôi chân không mọc cánh để mau chóng rời khỏi đây. Song vì quá khiếp đảm. cộng thêm cái bụng đã lâu chưa được xơi gì, tuy muốn trốn chạy, chỉ hiềm nỗi lực bất tòng tâm.
Trong lúc tinh thần hoảng hốt, Trương Tam gia hắn tự dưng cảm thấy có một con mèo khoang to đnag trèo lên đỉnh đầu, hắn ngỡ con mèo đó là ma quỷ biến ra nên đâu dám động đến, đành mặc con mèo khoang luồn lên luồn xuống một lúc giũa đỉnh đầu và vai.
Trươnbg Tiểu Biện chửi thầm con mèo chết bằm khinh người quá lắm, song lại không dám làm gì, đúng lúc ấy, trong góc gian mộ bỗng cso một người nhỏm dậy. Ngôi mộ bà phi chết oan này bốn góc đều mờ mịt, âm u, chẳng trông thấy gì, Trương Tiểu Biện nào ngờ ở đó lại có người ẩn nấp, hơn thế nữa người này nhất định là đã có mặt trước khi hắn và hai tên trộm mộ tới đây, có trời mới biết kẻ đó là người hay ma quỷ nữa. hắn vô cùng kinh hãi chẳng biết nên làm thế nào cho phải, đành ngồi lặng một chỗ theo dõi động tĩnh của người kia. ĐÃ đến nước này, hắn chẳng quản gì chuyện sống chết nữa, đành mặc cho số mệnh an bài thôi.
Chi thấy người kia thân thể gầy guộc nhỏ bé, dáng lòng khòng, nhin fbooj dạng hình như là một ông lão già nua, trên người khoác một tấm áo choàng màu tro rách rưới tả tơi, che mặt bằng một miếng vải đen, chẳng thể đoán ra tuổi tác, chỉ để lộ đôi mắt nhoang nhoáng như chớp, nhìn thế nào cũng không giống người sống.
Trương Tiểu Biện nhìn tướng mạo người đó, lòng thấy bất an, chẳng trách Quý phi tiểu nương tử không có quan tài, thi thể để trơ trơ trên bệ, thì ra cỗ quan tài đó đã tu luyện thành tinh rồi, biến thành một lão già gầy guộc. Tốt đã chẳng đến, đến thời chẳng tốt, lão già kia xuất hiện đúng vào lúc này, chỉ e là muốn lấy cái mạng của Tam gia ta rồi.
Nhưng ông lão gày gò từ trong góc tường đi ra kia lại chẳng tehfm để ý đên Trương Tiểu Biện. Lão đến thẳng chiếc giường đá vái cái xác một cái, sao đó thêm chút dầu cho đĩa đèn chiêu hồn trên tường, làm không gian trong mộ thất sáng sủa hơn, rồi mò mẫm một lúc trên xác hai tên trộm mộ xấu số, lấy ra một bao lương khô.
Lão già cầm bọc lương khô, run rẩy đi tới trước mặt rương Tiểu Biện, ném mấy bánh lương khô xuống cho hắn, rồi cũng chẳng thèm nói câu nào, cứ giương đôi mắt nhìn chòng chọc vào Trương Tiểu Biện dò xét. Đôi mắt lấp loáng của lão nhìn chằm chằm, dường như thấu đến tận xương tủy của người ta, đến nỗi Trương Tiểu Biện nổi da gà, toàn thân khó chịu.
Đỉnh đầu Trương Tiểu Biện vẫn vắt vẻo con mèo, hắn hết nhìn lão già trước mặt lại ngó mấy bánh lương không trên mặt đất, tự dưng cơn đói nổi lên. ĐÃ ở bước đường cùng thì chí khí cũng hết, lão yêu tinh quan tài ném lương khô ra đây, chắc hẳn là cho Trương Tam gia ta ăn rồi, ở đời cũng có lúc cũng phải khom lưng uốn gối, hắn vội vã thò tay nhặt mấy cái bánh, tọng cả vào mồm. Tuy mấy cái bánh đều đã khô nứt nẻ nhưung Trương Tiểu Biện hiểu rằng thứ nước suối trong mộ này, người sống không thể tùy tiện uống vào được, đành phải trợn mắt cố nuốt hết vào bụng.
Hắn vừa ăn nhồm nhoàm, vừa tự an ủi mình rằng “ người không thể chống lại mệnh”. Xem ra trước mắt Tam gia còn phải vất vả thêm một thời gian nữa, tục ngữ có câu “chớ khinh thiếu niên nghèo”, người còn ít tuổi, ngày sau ắt sẽ phương trưởng, sông có khúc, người có lúc, biết đâu sau này tới lượt Trương Tam gia ta đổi vận, đến lcus đó, hôm nào chẳng có thịt mà xơi…
Trương Tiểu Biện không để ý đến lão già đang chăm chú nhìn mình, chỉ cốt sao cho đầy cái bụng, nhưngn hắn chợt nghĩ:” Thối chết! Lão quan tài thành tinh này chắc đang thèm ăn gan uống máu ta đây, lão thấy ta gầy guộc nên mới vỗ béo trước rồi ăn thịt?” Nghĩ tới đây, hắn bỗng hốt hoảng ngước nhìn lão già che mặt đứng đằng trước, trong miệng lúng búng mấy miếng bánh khô nhưng không dám tiếp tục nhai nữa.
Lão gài nọ chợt cất tiếng:” Kẻ hậu sinh chớ sợ hãi, ngươi có biết lão phu đây là ai không?’ Tiếng của lão rào rạo như tiếng cưa gỗ, nghe cổ quái lạ thường.
Trương Tiểu Biện thấy yêu quái quan tài mở mồm nói, thầm nghĩ nếu có thể cởi mở với lão, chuyện này mười phần chắc tám là có cơ hội xoay chuyển. hắn thường lưu lạc khắp nơi, thấy được sự đời nên cũng ít nhiều hiểu được lẽ thói đời ấm lạnh, mấy lối a sua bợ đỡ cũng biết cả, đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, vả lại hắn cũng khá là khóe mồm, miệng trơn như bôi mỡ, giờ nghe lão già hỏi thế, vọi cố nuốt ực miếng bánh trong miệng, đáp rằng:” Tiểu nhân là Trương Tam, tuy không biết lão tiền bối là ai nhưng rõ là người nghĩa khí đường đường, chắc hắn là một trng hào kiệt ngày nay…”
Lão gài nghe thấy thế, biết rằng Trương Tiểu Biện không rõ lai lịch của mình, liền gật gật đầu, dẫn Trương Tiểu Biện lại một phía tường mộ, dùng tay áo lau hết bụi bặm tên tường, làm lộ ra một mảng bích họa đầy màu sắc rực rỡ. Trong tranh vẽ vô số mèo: mèo khoang, mèo trắng, mèo đen…có con đang ngủ, cso con nô đùa hoặc vồ chim sẻ, muôn hình vạn trạng tuy rằng thần thái khách nhau nhưng đều sống động như thật, thì ra là một bức bách miêu đồ thật đẹp.
Trương Tiểu Biện ngấm ngầm lè lưỡi, chắc là Quý phi tiểu nương nương này nuôi nhiều mèo trong cung lắm. Chết rồi còn muốn vẽ chúng lên vách mộ làm bầu bạn, nhưng không biết lão già này rốt cuộc có ý đồ gì khi cho Tam gia xem cái Quần miêu đồ này?
Trong bụng đang hồ nghi, hắn chợt nghe lão già phía sau hạ giogj nói:” Nghĩ cách đếm đủ số mèo trong tranh, nếu sai một con thì cả đời nhà ngươi sẽ phải ở lại trong cái mộ Kim Quan này như ta, đừng mong nhìn thấy mặt trời nữa”
Trương Tiểu Biện nghe lời này cảu lão thì thất sắc, trước nay hắn vốn biết chuyện ở chốn u minh không phải trò đùa, huống chi vừa ròi trong mộ có ma quỷ giửo trò, đích thân hắn đã nhìn thấy tận mắt, chuyện đã tới nước này, hắn không muốn tin cũng phải tin, chẳng lẽ lão già này cũng đang bị oán hồn trong mộ nhốt lại mà chẳng thể thoát thân hay sao?
Lão già vẫn trơ ra như tượng gỗ không chút sức sống, trên gương mặt bịt kín chỉ lộ ra cặp mắt vô thần, thấy Trương Tiểu Biện sợ đến ngây người, đành phải cất tiếng nói chuyện, kể cho hắn nghe đầu đuôi câu chuyện.
Thì ra bà Quý phi trong mộ Kim quan này lúc sinh thời nghiện mèo, yêu mèo thành thói, thường nuôi tới hơn một trăm con mèo đap, lại làm cho chúng rất nhiều thứ đồ chơi, tỷ như những chiếc nhỏ tinh xảo, rèm gấm màn thêu… Cậy được Hoàng đế sủng ái, bà phi nghiễm nhiên biến nơi cấm cung đại nội thâm nghiêm thành vườn mèo, nhà mèo. Có điều những con mèo Quý phi nuôi đều là loại quý hiếm, tinh quái lạ thường, khiến cho Thái hậu kinh sợ, liên lụy đến bà phi nọ pahri chịu thắt cổ đến chết.
Quý phi ngậm hơn mà chết, táng vào mộ Kim quan, Thái hậu ác độc lại thắt cổ hơn trăm con mèo Quý phi nuôi dưỡng, bất luận hay dở đều bị tăhts cổ rồi đem chôn vào giếng vàng trong mộ thất. dóng suốt mát trõng giếng vàng ấy là do oán khí của lũ mèo chết háo ra, kẻ nào uống phải ắt sẽ gặp ma quỷ. Vừa mới rồi, coi như Trương Tiểu Biện cao số, nhờ địa lôi của bọn trộm mộ làm cho ngất đi giây lát, bằng không giờ đã sớm chầu Địa phủ rồi.
Trương Tiểu Biện nghe đến đây suýt rơi nước mắt, nghẹn ngào nói với lão già:” Sao cái khố Trương tam tôi lại khổ thế hả trời? Bị cõn chó dữ đuổi lăn xuống đây, lại chưa từng làm tổn thương mảy may đến xác phượng của QUý phi nương nương, chả hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, uống pahri mấy ngụm nước mà rước họa đến nông nỗi này… Lão tiền bối chắc cũng cùng cảnh ngộ. Đến cả lão tiền bối cũng chưa từng đếm rõ số mèo trên tường, tiểu nhân trẻ người non dạ, chỉ e vô vọng mất rồi… Dám hỏi lão tiền bối quý tính đại danh là gì? Quê quán ở đâu? Sao lại có thể hiểu rõ tường tận nguồn cơn trong mộ đến thế:” Hắn tỏ vẻ thân thiết, hy vọng lão già đồng cảnh ngộ sẽ chiếu cố nếu hắn phải ở lại trong mộ suốt đời. Nhưng dầu sao trong lòng vẫn còn chút nghi ngờ, nói xong không khỏi đưa mắt liếc nhìn, dò ý tứ của đối phương.
Lão già kia dường như dã hơi mất kiên nhẫn, lạnh lùng nói:” Lõa phu vân du tứ hải, đâu cũng là nhà, sống đến chừng này tuổi rồi cả tên của mình cũng không nhớ nổi nữa. Ngày nay những kẻ biết lão phu đều gọi là Lâm Trung Lão Quỷ. Ta đã đợi trong mộ Kim Quan này nhiều năm rồi, đêm ngày giữ lăng mộ cho Quý phi, chỉ đợi người số cao phúc dày có thể đếm rõ số mèo trong Bách miêu mê hồn đồ…” Nói đến đây lão già cất tiếng cười khan rào rạo như xẻ gỗ, sừng sộ nhìn Trương Tiểu Biện:” Hà hà..biết đâu người đó chính alf Trương Tam nhà ngươi?”
Trương Tiểu Biện sững sờ, mắt trông ngọn đèn chiêu hồn trong mộ nhòa đi, quỷ khí mờ mịt, càng nhìn càng tháy lão gài che mặt nọ không phải là người sống, huống hồ chính lão cũng tự xưng là “Lâm Trung Lão Quỷ” gì đó, có điều đổi thành “Mộ Trung Lão Quỷ” thì có vẻ hợp hơn. Lão quỷ này không phải là kẻ trộm mộ càng không giống như mình, đâm đầu vào chốn thị phi mà lạc tới đây, nghe ý trong lời của lão, có lẽ đã đợi trong mộ nhiều năm rồi, có trời mới biết rốt cuộc lão đã đang có âm mưu gì? Nghĩ sâu hơn chút nữa, không khỏi khiến cho người ta sởn tóc gáy.
Nghĩ đến đây, Trương Tiểu Biện nảy ra ý định bỏ trốn, liền nói phụ họa:” Thì ra lão tiên sinh đang đợi người, tiểu nhân có chút việc gấp, trong nhà còn mẹ gài tám mưoi tuổi đang chờ bốc thuốc mang về, xin thứ cho tiểu nhân không hầu chuyện được nữa..” Nói xong, hắn vội xoay người ba chân bốn cẳng định bỏ trốn, bỗng thấy vạt áo sau lưng bỗng thít lại, người đã bị lão già tự xưng là Lâm Trung Lão Quỷ nắm chặt, quật thẳng vào vách mộ phía trước như ném một con gà con:” Trước khi trời sáng, nếu không đếm được cho ra. Đừng trách lão phu vô tình”
Trương Tiểu Biện đau đến thấu xương, bây giờ gọi trời, trời không thấu, gọi đất, đất không hay, đành mặc cho người ta sai khiến, bị bắt đi đếm” Bách miêu mê hồn’. Lúc nãy hắn mới chỉ nhìn lướt qua bức tranh như cuoix ngựa xem hoa, tới giờ trấn tính nhìn kỹ, chỉ thấy bọn mèo trên vách mộ phân bố nhất quán, dường như bên trong còn có ẩn ý gì.
Trước đây, nhưunxg con mèo mà Trương Tiểu Biện thấy đa phần đều xấu chẳng ai thèm nhìn. Thời ấy, nuôi mèo làm cảnh là cía thu tiêu khiển khi trà dư tửu hậu cảu các vương công qúy tộc trong Kinh thành. Một con Sư miêu hoặc mèo Ba Tư trắng tuyền là hàng giai phẩm, giá bán tỏng Kinh thành rất cao, còn trong làng ngoài xóm, ở chỗ châu phủ tâm thường, đa phần là nhưunxg con mèo giặc, mèo hoang lem luốc, dẫu là thi thoảng có mèo nhà nuôi thì cũng chỉ là loại mèo mướp chẳng có phẩm cấp gì.
Trở lại bức tranh Bách miêu đồ trong mộ Kim quan, nửa phía trên đều là con mèo có phẩm chất cao, mặt tròn răng sắc, thần hình mâpk mạp, thần thái an nhàn. Những con đen tuyền thì như mây đen phủ tuyết, những con trắng tinh thì như bình ngọc ngân câu, những con có vằn hổ thì chẳng khác nào một quả tú cầu. Ở giữa bức tranh thì phẩm cấp mèo hơi kém hơn, càng gân chân tường thì phẩm cấp càng thấp.
Dưới cùng là bốn mèo con gày gò giống hệt nhau, chỉ có mỗi đôi mắt là sáng lóa, không mất đi thần thái. Chúng dường như cùng một bọc sinh ra. Trương Tiểu Biện nhớ ngày trước ở làng Kim Quan cũng có một con mèo hoang sinh tư, mấy ông già hiểu biết về mèo trong làng bảo rằng, mèo sinh càng ít càng quý, một con thì quý hai con thì đần, ba con thì kém, nếu sinh tư thì gọi là “đài kiệu tử”(phu khênh kiệu), chẳng có giá trị gì mà còn hay chết non.
Trương Tiểu Biện xem đến đây, trong lòng nghĩ ngợi:”Hẳn là thằng cha Hoàng đế thương phi tử xinh đẹp chết thảm, nên tìm tay thợ khéo vẽ đám mèo mà tiểu nương tử vẫn nuôi lên vách mộ để làm bầu bạn. Cứ như trong tranh, Quý phi tiểu nương tử này lúc sinh thời hễ có mèo là nuôi tất, chẳng kể hay dở. Bây giờ, cái mạng nhỏ của Trương tam gia sắp chẳng bằng bốn con mèo con “khênh kiệu” kia rồi, chỉ cần sơ ý một chút là bị lão quỷ tử kia khử ngay. Các vị mèo tổ tiên trên trời nếu có linh thiêng, nhớ phù hộ cho Tam gia không đếm sót,. Nếu giữ được mạng, sau này ta sẽ bỏ tiền mời thầy chùa, thầy cúng tới lập đạo tràng cầu siêu cho các vị sớm siêu thoát”
Hắn vừa lẩm nhẩm cầu khấn vừa đếm kĩ số mèo trên bức bích họa, đếm đi đếm lại, sau, bảy lần, càng đếm thì mắt càng hoa, đầu càng loạn, dường như bọn mèo trogn Bách miêu đồ đều đang sống vậy, trông thì tưởng đứng im thật ra đang trốn đông chốn tây. Hai mắt hơi mất tập trung một chút là bức tranh lập tức biến đổi khác hẳn, cứ mỗi lần đếm lại ra một kết quả khác nhau, đếm đi đếm lại chỉ biết được đại khái trong bức tranh có khoảng một trăm mười mấy con mèo, nhưng rốt cuộc có bao nhiêu con thì không tài nào đếm ra được.
Trương Tiểu Biện càng thêm hoảng loạn, dã đờ đẫn rồi mà vẫn muốn đếm tiếp, bỗng nghe phía sau có âm thanh khác lạ, vội quay đầu lại nhìn, chỉ thấy cái xác vẫn chưa hóa đi của Quý phi không động đậy, nhưng móng ta đột ngột dìa hẳn ra, những đốt tay cương cướng phát ra những tiếng răng rắc.
Lão già từ đầu đến cuối chăm chú theo dõi Trương Tiểu Biện, cũng nghe thấy tiếng động, lạnh lùng liếc sang xác phượng lẩm bẩm:” Hai thằng trộm ngu xuẩn, đã biết đào mộ mà không biết vật ngậm trong mồm cương thi không được lấy ra hay sao? Đã dám cậy lấy ngọc lại còn định giở trò đồi bại, đúng là chán sống…” Rồi lão giơ tay nắm chặt vai Trương Tiểu Biện, gặng hỏi:” Hôm nay ngày xấu, không được làm kinh động chủ nhân nữa. Nói mau! Trên vách có bao nhiêu con mèo?’
Có câu rằng: “Một lời có thể gây nên họa; Chưa nghĩ cho sâu chớ nói càn.” Sống chết trong đường tơ kẽ tóc, ai dám bạo mồm nói bậy. Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:14 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 3:54 pm
Hồi thứ năm: Úng trủng sơn.


Lại nói, một già một trẻ trong mộ ngoảng lại thấy xác phượng của Quý phi, vốn bị hai tên trộm mộ trói lại định giở trò đồi bại, các đốt xương phát ra tiếng kêu khiến người ta kinh hoàng. Lão già liền lấy miếng ngọc đặt lại vào miệng Quý phi rồi thúc Trương Tiểu Biện mau đếm mèo, bởi thời gian chẳng còn lại là bao.
Trương Tiểu Biện bị lão già nọ bức bách, trong lcus khó chợt ló cái khôn. Bọn mèo trong tranh thoạt trông tưởng chừng rối loạn không lề lối, thực ra đều có quy luật, ngầm bày theo thế Cửu cung, làm gì có Bách miêu đồ, rõ rành rành là một đạo phù lục trấn mộ. trước đây, hắn từng theo học một đạo sĩ vân du đoán quẻ, biết được vài ngón vẽ bùa chú lừa tiền của đám thuật sĩ giang hồ, riêng Cửu cung Bát quái thì đã thuộc lòng từ lâu, nhận ra bức bích họa ngầm ẩn dấu một đạo bùa, bèn thầm tính toán một hồi, đoạn mới định thần nhìn lại, phát hiện ra chỗ hiểm hóc trong tranh, có lẽ đạo bùa ẩn trong tranh dùng để trấn yểm tà ma, một khi phá giải huyền cơ, gỡ bùa này ra chẳng biết có gây ra tai họa tày trời gì chăng?
Nhưng Trương Tiểu Biện đang bị thúc ép, chỉ mong giữ được cái mạng nhỏ bé của mình, chỉ vào Bách miêu đồ trên vách mộ nói:” Thực ra, cái Bách miêu đồ này là một câu thần chú để trấn mộ, “thập dương chí hạ nãi dư cô, thất tương bát tráng cửu vi huyền”. Án theo thế Ngũ lôi tổng nhiếp trong Cửu cung đồ mà xếp ra, tiểu nhân to gan đoán thử, trong bức tranh có tổng cộng một trăm hai mưoi bốn con mèo…”. Nói xong vội nhìn phản ứng của lão già, trong lòng chỉ sợ tính nhầm thì mạng này lập tức đi tong.
Chỉ thấy cặp mắt của lão già bịt mặt tự xưng là Lâm Trung Lão Quỷ ấy khô khốc thất thần, chẳng mảy may lộ vẻ vui buồn, nếu lão không mở mồm nói, chắc Trương Tiểu Biện sẽ lầm tưởng là một cái xác khô vừa mới lôi lên từ trong đám bùn. Đợi một lúc, lão già mới chầm chậm gật đầu, nhả tay ra khỏi cổ Trương Tiểu Biện và kể cho hắn một câu chuyện.
Lâm Trung Lão Quỷ tự xưng là người biết đoán quẻ, bói ra rằng trong đám người lạc bước vào ngôi mộ này ắt có kỳ nhân đếm rõ được số mèo trogn Bách miêu đồ. Người này không những mạng lớn mà còn có vận số cực tốt, số trời đã định sẽ trở thành đại gia giàu có, vì vậy, lão mới ẩn nhẫn đợi bấy lâu tỏng mộ để giúp đỡ cho người ấy, hôm nay cuối cùng cũng đã đợi được Trương Tiểu Biện đến, thật là :”Cho hay muôn sự tại trời, nhọc lòng chi mấy kiếp người phù du”
Trương Tiểu Biện nghe đến đó, nghĩ bụng:” CHuyện như vầy mà Tam gia ta cũng gặp phải à? Xem ra đây là lúc vận ra phát, nên mới định sẵn cuộc gặp gỡ này”. Có điều mấy năm nay hắn đều sống trong cảnh cùng khổ, bước được bước nào hay bước ấy, chẳng có nơi nương tựa, tuy vẫn thường tự an ủi mình: muôn sự công danh, phú quý đều do trời định, song cũng không khỏi hồ nghi số mình sau này liệu có lúc được mở mày mở mặt hay chăng, đâm ra chí vươn lên sớm đã nguội lạnh phần nào, huống chi lão già trong mộ này cổ quái lạ lùng, lời của lão làm sao khiến người ta tin nổi?
Lâm Trung Lão Quỷ thấy Trương Tiểu Biện trợn mắt há mồm, liền nói:” Cứ thử xem xưa nay, biết bao nhiêu kẻ đua danh đoạt lợi? Trong ấy có bao nhiêu kẻ có phận mà không có phúc, đáng giàu mà không được giàu, đáng sang mà chẳng được sang. Trương Tam gia nhà ngươi tuy có cốt hoàng kim đấy nhưng chưa từng được cao nhân chỉ rõ đường mê, thực là uổng thay. Nếu tin lời lão phu, lão ohu sẽ giúp người trở thành một kẻ đại phú đại quý trên đời này. Lão phu chẳng có mong mỏi gì khác, chỉ là kẻ có duyên với ngươi, không nỡ để ngươi ôm bát vàng đi ăn xin, thế nên mới điểm háo cho, âu cũng là để lại một khối duyên lành’
Trương Tiểu Biện vốn nóng lòng trở thành kẻ phú quý từu lâu, nghe đến đấy đã tin được bảy tám phần, liền cúi đầu xuống vái liến thoắng nói:” DA tạ lão tiền bối giúp đỡ cho. Nếu sau này tiểu nhân thật có phúc được ở nhà vàng, cưới người ngọc thì cả đời cả kiếp không bao giờ dám quên đại ân đại đức, nhất định sẽ xây mộy ngôi sinh từ cho lão nhân gia, tháng nào cũng thắp hương, năm nào cũng cúng tế”
Lâm Trung Lão Quỷ cười khan mấy tiếng:” Trương Tam gia à! Trương Tam! Lão phu chẳng ham hố gì cái sinh từ nhà ngươi. Ngươi muốn có được nhà vàng người ngọc, hà hà…có gì mà khó? Chớ nên vội vã, người ta ở đời phải có lấy một cái nghề hộ thân mới lập thân xử thế được, bằng không dẫu cho gia sản ức vạn cũng sớm muộn đến lúc miệng ăn núi lở àm thôi. Đêm nay lão phu sẽ truyền cho ngươi một pho bí thuật, tài vận vô cùng vô tận của ngươi đều nằm cả trong đó đấy”
Trương Tiểu Biện sướng đến phát điên, vội vã rập đầu mấy cái trước lão già. Lâm Trung Lão QUỷ liền đem dạy cho hắn một kỹ thuật ngay trong ngôi mộ cổ, đó là kỹ thuật gì? Thảy đều là kỹ thuật “xem mèo đoán chó, hiểu cá biết chim” Muôn vật trong vòng trời đất vốn biến hóa khôn cùng, muôn người là muôn bộ mặt, nghìn người là nghìn tính cách, vì vậy từ thời cổ đã có thuật xem tướng đoán mệnh, trời đất lại chia ra núi non sông suối, có cái lẽ động tĩnh, có cái đạo phong thủy, thế nên mới có việc xem đất, nhìn nước để đặt hướng nhà, hướng mộ, Nhật nguyệt chuyển động, tinh tú biến ảo, thiên tượng cũng có thể biểu hiện lành dữ, vì vậy mới đặt ra tào khâm thiên giám xem tinh tượng để đoán xem việc phúc họa; nhưng từ xưa tới nay chưa từng nghe việc xem mèo, xem chó cũng hợp với đạo lý đó bao giờ.
Các vị độc giả chưa biết đấy thôi, người đời xưa nay vốn không hiểu biết rõ về muôn loài sinh vật, chỉ nắm được đôi nét phiến diện về chúng như thầy bói xem voi mà thôi. Tuy cũng biết rằng “sẻ đưa thư, chó biết chữ, vẹt cất lời, khỉ thích rượu”, nhưng đó đều là những loài vật có kinh tính không hiểu tiếng người, chứ chẳng hề biết rằng cả những loài tầm thường như gà lợn, mèo chuộy cũng thường ẩn giấu những thần vật dị hiếm có trên đời.
Ví như loài ngựa xưa nay cũng có lối phân hạng ưu khuyết, thậm chí trong loài ngựa thiên lý lương câu, cũng còn chia thành Ngọc hoa lưu, Vân yên báo…? Trong loài chuột cũng có loài Táng môn khôi, Quan tài chủy, sóc còn có Bích tiên yêu, tiêu túc hổ… Lâm Trung Lão Quỷ truyền cho Trương Tiểu Biện dị thuật “ Vân vật thông tải” để phân biệt các loại chó mèo, chim cá. Trước tiên lão giảng kỹ một lượt, đoạn đem hết đồ hình và khẩu quyết ra dạy cho hắn.
Trương Tiểu Biện những tưởng được học những thuật giàu sang phú quý như điểm đá hóa vàng, biến chỉ thành bạc, nhưng hóa ra chỉ là những đạo lý về mèo chó thông thường, chẳng đem kiếm ăn kiếm mặc được, không khỏi cảm thấy bực mình, thầm nhủ tám phần là lão yêu quan tài này gạt mình rồi, uổng công ta hoan hỉ mà chẳng được gì, nhưng cũng không dám mở miệng nói ra, chỉ đành ngoan ngoãn học tạm.
Kế đó lão già gầy guộc như khúc củi khô ấy bắt Trương Tiểu Biện lấy những món trang sức trong tay nải ra, đeo lại tề chỉnh lên thi thể của Quý phi nương nương. Lão bảo Trương Tiểu Biện:’ Chẳng phải ta không muốn cho ngươi những thứ vàng ngọc này, nhưng với bộ dnagj rách rưới của nhà ngươi mà mnag theo những đồ của hoàng cung đại nội, chỉ e khi vào đến tỉnh thành, chẳng những không ai dám tiêu thụ chúng mà bọn công sai còn bắt bớ, tra hỏi việc trộm mộ cổ nữa” Nói xong lão móc lương khô và ít bạc vụn trong xác hai tên trộm mộ đưa cho Trương Tiểu Biện làm vật tùy thân.
Trương Tiểu Biện chỉ được con săn sắt mà không bắt được con cá rô, trong lòng ngao ngán, rề rà trả lại đống châu abus về cho nguyên chủ.
Lời tác giả: Mọi việc trên đời đều do cơ duyên nhân quả mà ra, tuyệt không có gì là vô duyên vô cớ cả. Dầu cho anh xoay xở cách nào đi chăng nữa cũng không bao giờ thoát khỏi tiền nhân hậu quả. Lão già tự xưng là Lâm Trung Lão Quỷ không phải thân thích, không phải bằng hữu với Trương Tiểu Biện, lại chẳng nợ nần gì hắn, sao lại đem bí thuật ra truyền thụ? Thì ra đúng là lão có một âm mưu tày trời không thể bày tỏ cùng ai. Chẳng phải lão muốn làm việc thiện mà thực chất là ngấm ngầm gieo vạ, trong mười câu thì có tới tám câu nói láo để bip kẻ tham lam phú quý là Trương Tiểu Biện. Có điều đó là việc về sau này, tạm thời chưa nói ở đây.
Sau khi tar lại đồ trang sức liệm trên xác phượng, Lâm Trung Lõa Quỷ liền dẫn Trương Tiểu BIện tới đường vào mộ, cất giọng khô khan:” Lõa phu biết ngươi đang không còn kế sinh nhai, nhưng chỉ cần nghe lời lão phu, nhẫn nhịn thêm mấy ngày nữa, ngẫm nghĩ kĩ cái lẽ của muôn vật, ngày đổi đời không còn xa nữa. Cách làng Kim Quan không xa có một ngọn núi tên là Ứng Trửng, một hai ngày nữa sẽ có mưa to gió lớn, lúc tạnh mưa, người trong làng sẽ lên núi cả, lúc ấy ngươi phải làm thế này, thế này…phải nhớ kỹ đấy! Thời giờ không còn sớm nữa, không tiện ở lâu trong khu mả này, chúng ta từ biệt ở đây. Về sau, nếu ngươi gặp khó khăn, lão phu nhất định sẽ đến giúp đỡ, đảm bảo ngưoi được vinh hoa phú quý, hoan lộ thênh thang”
Trương Tiểu Biện vẫn còn muốn hỏi thêm, nhưng bị lão già đẩy vào lưng một cái, lảo đảo ra khỏi cái hang mà bọn trộm mộ đã đào, ngoảnh lại phía sau chri thấy mình đang đứng dưới một gốc cổ thụ nghiêng ngả trong đám gò mộ ngổn ngang. Lúc ấy, bên tai văng vẳng tiếng gà làng Kim Quan gáy ở phía xa xa, đằng Đông đã ló sáng.
Trương Tiểu Biện ngơ ngẩn trở về ngôi chùa cổ trong làng, miên man nghĩ về cuộc tao ngộ huyền hoặc đến nằm mơ cũng không thấy trong ngôi mộ cổ vừa rồi. mới thấy rằng, phúc họa chưa biết thế nào, con người không thể lường được. Cả đếm không ngủ nê hắn mệt rũ người ra, lại thêm một phen sợ hãi, tinh thần sức lực đều chẳng còn, liền ngả người lên bệ tường phật, ngủ không biết trời đất trăng sao gì nữa.
Chẳng õ bao lâu sau, bỗng có một tiếng sấm rền, ông trời trút xuống một trận mưa lớn, gió mưa sấm chớp kéo dài trọn một ngày đêm. Trong vòng mấy mươi dặm, nước ngập lai láng song người dân trogn làng Kim Quan lại rất vui mừng. Vốn trong một năm nhà nông chỉ canh tác được một vụ, mùa xuân gieo hạt, mùa thu thu hoạc, dân trong vùng thường có câu ngạn ngữ là, ”tháng Ba ngày tám, thần tiên cũng ngán:. Thời điểm ấy đương là lúc giáp hạt, lại thêm nạ binh hỏa liên miên, quá nửa đồng ruỗng đã hoang hóa, đến những nhà được cho là giàu có khi xưa, tới giờ đều đã hết lương thực dự trữ, người dân thường thì càng được bữa nay no bữa mai đói, nhịn đói đã trở thành chuyện cơm bữa. Tuy vậy ở ngọn Ứng Trủng cách làng không xa,c so mấy khe bùn lầy, sau mỗi lần mưa lớn, có rất nhiều con cóc ngóe tránh nước ngập, nhảy tràn lên sườn núi.
“Cóc ngóe” theo cách gọi của người địa phương chính là loại mà người đời vẫn gọi là con ếch. Những con ếch trong bùn lầy do có nguồn thức ăn phong phú nên vừa to vừa béo. Sau cơn mưa, từng đán ếch lớn nhảy khắp sườn núi, đó chình là thời cơ để dân làng giải quyết việc thiếu thốn lương thực. Ai nấy đều mang mấy chiếc bao gai lên núi thả sức bắt ếch. Đi bắt một ngày có thể bắt đầy mấy bao to, để lại nhà ăn không hết còn bao nhiêu chỗ ếch thừa nhân lúc chúng còn tươi sống, chưa chết ngạt thì mang vào thành đổi lấy chút gạo dầu ămms muối. Các tiệm ăn trong thành có cách chế biến rất cầu kỳ, ninh trong nồ đất với rượu Hoa Điêu, để lửa nhỏ lim rim, thêm nấm đông cô, măng tươi, chân giò gia giảm cho thơm ngon, chuyên phục vụ các nhà quý quyền lắm tiền nhiều của, cũng được coi là món đinh trogn cá thực đơn.
Lần này, sau khi ngừng mưa, trời vừa hửng, các nhà trong hộ làng đã giục trai tráng, rủ nhau từng tốp lên núi bắt ếch, đến cả mụ Vương quả phụ cũng chẳng thèm để ý bắt tên trộm gà nữa, thúc đứa con gái Tiểu Phượng chuẩn bị bao tải gai và lương khô, lên Ứng Trủng bắt ếch. Cùng đi cso một đám nữa, toàn là người quen trong thôn, Lưu Nhị, Lý Tứ, Tôn ĐẠi Ma Tử, Trương Tiểu Biện cũng trà trộn trong đám ấy.
Đi một lát đã đến Ứng Trủng, đó là một ngọn núi hoang lớn, chỉ vì có hình ung ủng như một ngôi mộ vò chôn người chết, nên được đặt tên như vậy. Những người lớn tuổi trong thôn đánh xe lừa đến dưới chân núi đợi, còn lại đều tất tả chống gậy, vác bao tìm lối mòn trèo lên ngọn núi hoang.
Trương Tiểu Biện không bụng dạ nào bắt ếch cùng đám người làng, chỉ mải suy nghĩ về những gì lão già trong mộ cổ đã mách bảo, giờ thì việc mưa xuống và lên núi đều đã ứng nghiệm cả, xem ra chuyến này chẳng mấy chốc mà đại phát, trong lòng mứng thầm hắn bam cây vạch cỏ đi lên núi.
Ứng Trủng là một ngọn núi hoang rất lớn, thế núi thoai thoải không dốc, nhưng cỏ cây um tùm, không có lối đi. Trương Tiểu Biện cậy chân cẳng nhanh nhẹn, băng rất nhanh qua đám cỏ lác, đáng hồ hởi bước đi bỗng thấy tai bị người nào đó véo. Đau quá, hắn mếu máo quay lại nhìn, thì ra là Tiểu Phượng con gái mụ Vương quả phụ.
Tiểu Phượng dựng đứng đôi mày lá liễu, véo tai Trương Tiểu Biện ămngs:”Trương Tiểu Biện, mày hay mò vào nhà tao trộm gà khiến mẹ tao ức đến nỗi trúng gió nằm liệt ra đấy. Phải xúc đầy năm bao ếch cho tao, tao mới tha!”
Trương Tiêu Biện tức lắm, con nhà đầu Tiểu phượng ghê gớm chẳng khác mụ Vương quả phụ mẹ nó chút nào, Trương Tam gia ta trộm gà ở nhà mẹ con bay nhưng đã bao giờ thất thủ bị bắt quả tang đâu, bây giưof lại có chứng cớ gì mà đổ cho ta, thực là vô lý hết mức. Trương Tiêu Biện vừa định phản ứng, thì Tiểu Phượng đột nhiên véo tai hắn mạnh hơn nữa khiến hắn đâu đớn gào thét, định vùng thoát ra nhưng lại sơn tai mình bị đứt, phá hỏng mất tướng đại phú quý của mình. Hảo hán trả thù mười năm chưa muộn, hắn đành hạ giọng nói:”Thương nhà mày chỉ có hai mẹ con, không có đàn ông, hôm nay tao giúp bắt năm bao tải ếch là được chứ gì?”
Tiểu Phượng biết gã Trương Tiểu Biện mồm mép rảo hoạt, để sổng ra ắt sẽ chối bay chối biến, liền gọi người làng tới, bắt Trương Tiểu Biện hứa trước mặt mọi người mới chịu buông tay. Trương Tiểu Biện tính tạm thời còn phải lăn lộn trogn làng Kim Quan một thời gian, tất nhiên không thể để người ta coi mình là loại nói không giữ lấy lời, đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, làm không công cho nhà Tiểu Phượng phen này. Nhưng trong lòng hắn cũng không khỏi uất hận, thầm nhủ đợi sau này phát tài, nhất định sẽ mua con Tiểu Phượng, bán cho thanh lâu tiếp khách, lúc ấy thì bay mới biết sự lợi hại của Tam gia ta.
Hắn mải nghĩ lung tung, liền bị Tiểu Phượng thúc đi lên sườn núi cùng mấy chục người làng. Ở đó cỏ hoang dần thưa thớt, mọi người dùng gậy đập loạn xuống đất làm kinh động đám ếch đang trốn bên trong. Ngay lập tức, cả nghìn con ếch to tướng đồng loạt nhảy toán loạn, cảnh tượng thật hết sức hoành tráng, khiến người ta nhìn hoa cả mắt. Mọi người thất ếch nhiều như vậy, nhiều hơn tất cả những năm trước đây, ai nấy đều vui mừng ra mặt, hò nhau đón đầu chặn bắt.
Ếch là loài ngu xuẩn nhảy nhót lung tung khắp trên mặt đất, bị người ta nhặt cho vào túi như nhặt đá. Đợi khi bao đầy, họ chuyển dần xuống chân núi, đưa cho những người đánh xe lừa buộc lại. Dần dần bọn ếch bị đuổi vào chỗ khe núi, đám bắt ếch đang hứng khởi nhưng vừa đến cửa khe thì đều dừng lại, dẫu không cam lòng nhưng chẳng ai dám đi tiếp vào bên trong.
Kẻ đứng đầu đám người làng là Tôn Đại Ma Tử( Tôn mặt mụn), chỉ vào khe núi bảo:” Cái chỗ phía trong kia là rãnh Mỹ nhân của Ứng Trủng sơn, địa thế hiểm yếu lắm, xưa nay chưa có người nào đi qua cả, trong đó có một con yêu quái, thường hút não tủy của người sống, chúng ta chớ có tiến thêm nữa’
Trong lòng TRương Tiểu Biện sớm đã có toan tính, đang định vào khe Mỹ nhân một phen, nghe Tôn ĐẠi Ma tử đòi quay về thì làm sao chịu? Hăn vội nói khích mọi người:” Chỗ bùn lắng bên trong khe núi là nơi chứa nước, chứa bùn, cũng chính là nơi ếch nhiều nhất. ĐẠi Ma Tử đã không biết thì đừng làm nản lòng mọi người, trong rãnh Mỹ nhân…đương nhiên là phải có mỹ nhân. Giữa lúc trời quang mây tạnh, sáng sủa thế này, chúng ta lại có mấy chục người, sợ gì cơ chứ?
Tiểu Phượng ngạc nhiên nói:” Mày làm sao mà biết bên trong có người đẹp? Tao chỉ nghe mẹ tao nói bên trong chỉ có một mụ cương thi mỹ nhân chuyên ăn tim gan của người ta thôi…”
Trương Tiểu Biện sợ Tiểu Phượng phá hỏng chuyện lớn, không để cô ả nói hết câu, đã vội vàng bịt mồm lại, rồi hô vang với cả đám người:” Mới xúc được hơn trăm bao làm sao mà đủ? Vị hảo hán nào muốn xúc thêm ếch thì đi với ta.” Nói xong hắn vác bao lên lưng, kéo Tiểu Phượng, nhón chân bước vào trong núi hoang.
Thật là: ”Cũng bởi núi non còn mãnh hổ; Mới xui hảo hán giả tiều phu”Muốn biết bọn Trương Tiểu Biện gặp kỳ ngộ gì trong núi, xin xem hồi sau sẽ rõ.







Hồi Thứ 6: Cương Thi Mĩ Nhân.



Trương Tiểu Biện xúi giục đoàn người đi vào núi sâu bắt ếch. Người làng Kim Quang đương lúc thóc cao gạo kém, nhiều nhà mấy ngày không đỏ lửa, bấy giờ thấy ếch trong núi rất nhiều, lòng tham đã nổi lên, thì chẳng gì ngăn được nữa. Họ bỏ ngoài ta truyền thuyết về cương thi trong khe núi, cùng nhau tập hợp lại, chuẩn bị đi theo Trương Tiểu Biện tìm đến đầu nguồn của cái khe bùn lầy.
Người trong làng đều biết Trương Tiểu Biện là “Trương gan lớn”. Thường ngày, hắn vẫn một thân một mình ở trong ngôi miếu nát, vốn chẳng sợ quỷ thần, lại thêm mồm mép nhanh nhảu, những chuyện chơi bời, du hiệp trong làng đều không thiếu mặt hắn, trong lứa đồng niên ở làng, hắn cũng kết giao khá rộng. Đám dân làng đi bắt ếch này phần lớn là cánh sinh cùng năm với Trương Tiểu Biện, nói chung đều là hạng cùng trang lứa cả, trong đám ấy thì Tôn Đại Ma Tử là cao lớn khôi vĩ nhất, lại còn biết một chút quyền cước côn bổng, tính tình trung hậu, ngay thẳng, vì vậy trước giờ mọi người đều coi gã là đàn anh, chẳng ngờ lần này lại bị thằng oắt Trương Tiểu Biện cướp lấy cờ đầu, trong lòng lấy làm bực tức, gương mặt mụn bạnh ra, giơ cây gập lên, cản cả đám lại.
Trương Tiểu Biện xưa nay là kẻ biết lựa theo chiều gió, tự hiểu rằng nếu lấy cứng chọi cứng, ắt mình không bằng gã Tôn Đại Ma Tử to khỏe này, vội vã quay lại nói với mọi người: “Làng chúng ta có anh Đại Ma Tử, xem thân thủ ấy đúng là một bậc anh hùng, cử chỉ lại hết sức đĩnh đạc đường hoàng, có bậc hảo hán chọc trời khuấy nước này cùng chúng ta đi bắt ếch, thật đúng là như hổ thêm cánh, dẫu cho trời sập cũng chẳng sợ gì.”
Tôn Đại Ma Tử nghe Trương Tiểu Biện nịnh mình “thân thủ anh hùng, cử chỉ đĩnh đạc”, trong lòng lấy làm dễ chịu, cũng thấy mình ngời ngời hẳn lên, lập tức toét miệng cười ngờ nghệch, bảo: “Tam đệ nói có lý lắm, trong núi dẫu nguy hiểm bao nhiêu chăng nữa, chỉ cần mỗ có cây côn này trong tay thì chẳng lo gì. Nhưng giờ cũng trưa rồi, bọn ta mải miết cả nữa ngày, chưa ai có gì nhét vào bụng cả, chi bằng xuống núi gầy lò thổi cơm đã, ăn uống no say, rồi ta vào khe Mỹ Nhân bắt ếch, cố gắng ra về trước khi trời tối.”
Cả bọn làm lụng từ sáng nên cũng đói lả, nghe thấy vậy đều đồng thanh khen là phải rồi vội xuống chân núi. Đám người làng giữ xe lừa đã đào bếp bắc chảo từ nãy, đem ít khoai tây, củ cải mang sẵn từ nhà thái thành một đống lớn, đổ thêm nước vào chảo, gia giảm thêm ít rau cỏ dại, đun riu riu một lúc cho nước hơi sôi lên.
Đợi đám bắt ếch đi xuống hết, họ mới thêm củi lửa, đun nước sôi sùng sục, bắt mấy con ếch béo còn đang giãy đành đạch, rồi cũng chẳng lột da làm thịt , cứ thế ném thẳng vào chảo nước sôi, rồi nhanh tay đậy chặt vung lại. Lúc ấy liền nghe tiếng bọn ếch trong chảo lục đà lục đục, một lát sau, nước lại sôi lên sùng sục, trong chảo bộc lên mùi thơm nức mũi, mở nắp chảo thấy bọn ếch đã bị luộc chín, con nào con nấy phùng mang trợn mắt ôm chặt lấy một miếng khoai tây hoặc củ cải. Cũng bởi những con ếch bị luộc sống, trước khi chết đau đớn, khổ sở vô cùng, chỉ còn cách ôm chặt lấy khoai tây, củ cải, đến chết cũng không buông.
Bọn người làng ăn ếch hầm, thường vẫn hay dùng cái cách tàn nhẫn này. Họ vớt con ếch nóng hôi hổi trong chảo ra, cắn miếng ếch cùng với khoai tây và củ cải nó đang ôm chặt, mùi vị thơm ngon còn hơn cả thịt gà tơ. Cả mấy năm nay trời không mưa lớn, lại gặp đúng kỳ giáp hạt, bình thường một ngày hai bữa, đến củ cải, khoai tây cũng không đủ no. Dân làng đã lâu không được ăn tười, ngửi thấy mùi thịt thơm, đều chảy hết cả nước dãi, ăn ngấu ăn nghiến, một lắt đã sạch nhẵn.
Đám ngu dân coi chuyện lên núi bắt ếch sau mưa như ngày hội được mùa, mà đâu biết đến lẽ trời tuần hoàn, báo ứng chẳng sai chẳng sót, hẵng tạm chưa bàn đễn cái nhẽ nhân quả, sâu xa ở bên trong “đời này người ăn ếch, kiếp sau ếch ăn thịt người”, trước mắt tai họa tày trời sắp giáng xuống mà đám người làng vẫn mải mê ăn uống, đâu biết rằng kiếp nạn này sẽ không ai thoát nổi.
Trương Tiểu Biện và đám Tôn Đại Ma Tử ai nấy no căng, hương vị bữa ăn hồi lâu sau vẫn còn đọng lại trong mồm, cảm tưởng như người sống trên cõi đời này nếu ngày nào cũng được xơi bữa ếch hầm thì sống cũng chẳng uổng phí, thấy sắc trời đang đẹp, cả đám liền xoa tay xoa chân đi lên lần nữa, định bụng bắt sạch bọn ếch đang trốn trong hõm núi.
Phía sau núi Úng Trủng là một vùng hoang vu. Lũ quét đi qua, nước lớn từ trên núi đổ xuống nhánh chính của dòng sông đầy bùn, còn những con lạch khác thì chẳng có chút nước nào, giờ bên trong khe núi ngập đầy bùn lầy, bùn lầy hòa lẫn với cỏ nát ngập quá gối, bước đi bước nào là trơn bước ấy, chẳng tìm đâu ra chỗ nào đặt chân. Mọi người vất vả tiến bước, đi vòng qua khe núi, thấy trước mắt hiện ra một khe lạch lớn đầy bùn, “rãnh Mỹ Nhân” trong truyền thuyết chính là đây rồi. Nghe đồn, trong đám bùn lầy nước đọng có một cỗ cương thi thành tinh. Lúc bấy giờ tuy mặt trời đang trên đỉnh con sào, song đứng cạnh rãnh sâu trong khe nũi hoang này, người ta vẫn cảm thấy khí âm rờn rợn, hơi tanh xộc vào mũi.
Chỉ thấy trong rãnh có rất nhiều bùn lầy do cơn lũ vừa quét qua để lại, vô số ếch lớn ếch bé chồng chất bên trong, không dưới mấy vạn con. Dưới ánh mặt trời, bọn ếch lúc nhúc trong hố khiến người ta phải sởn da gà. Đám Tôn Đại Ma Tử hết sức vui mừng, chuyến này được vố hời rồi, ai nấy đều chỉ e số bao gai không đủ chứa hết bấy nhiêu ếch mà thôi.
Mọi người tức khắc hô vang một tiếng, tản ra quanh hố bùn, ai nấy dùng cần dài và gậy gộc xua đuổi khiến bọn ếch trong rãnh lập tức náo loạn lên. Đám ếch không biết sợ người, thấy có động nhảy tứ tung, liền bị bắt bỏ vào bao tải. Mấy chục người cùng ra tay, trong phút chốc đã bắt được hơn một nghìn con ếch.
Sau khi bọn ếch nhảy dạt ra, người ta lập tức chuyển các bao tải xuống núi. Do bắt được quá nhiều, vác một vài lần không hết được, Tôn Đại Ma Tử đành cùng vài người ở lại canh chừng, Trương Tiểu Biện thừa cơ ở lại, đảo mấy vòng xung quanh, cuối cùng cũng phát hiện bên mép rãnh bùn lộ ra một bức tường đá.
Tường đá này được xếp bằng những khối đá lớn, trông ngay ngắn trơn bóng, giống như kiểu đường hầm, tường thành. Trương Tiểu Biện mừng thần trong dạ, lập tức gọi bọn Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng đi xem cho rõ ngọn ngành. Giữa bức tường đá là một cửa đá xiêu vẹo rộng khoảng một trượng. Đường hang trong cửa nằm đúng chỗ râm; ánh mặt trời không chiếu tới, bên trong tối mịt, ẩm thấp, lạnh lẽo, hiềm nỗi cả đám đều chẳng mang theo đá lửa, không thể đốt sáng được.
Tiểu Phượng sợ run người, không muốn thêm rắc rối, liền suy đoán: “Hang này liệu có phải là nơi cương thi lão yêu ẩn nấp? Phải mau dùng đá chặn lên trên mới được.”
Trương Tiểu Biện liền bịa chuyện: “Chắc các người cũng biết rồi đấy, tổ tiên họ Trương nhà ta từng làm quan Cẩm Y Vệ trong Kinh thành, biết rất nhiều chuyện bí ẩn của triều trước.Hôm nay, ta hé cho các người một chuyện nhé.Cái chỗ này không phải tầm thường đâu.Hồi cuối đời Minh, tên thủ lĩnh đảng cướp Trương Hiến Trung từng chôn của tại đây, giá trị lên tới hàng vạn lạng bạc, sau này đến thời Càn Long bọn phỉ Bạch Liên giáo đã đào lên để khởi sự, khiến thiên hạ chấn động. Tới nay, chỉ còn lại một cái động đá này thôi, nếu vừa rồi không có mưa lớn,lũ không quét qua thì cũng chẳng dễ gì thấy được đâu. Không rõ bên trong còn thừa lại đồ vật gì không, nếu chúng ta gặp may, nhặt được một chút gì đó thì cũng là một món hời từ trên trời rơi xuống đấy.”
Bọn Tôn Đại Ma Tử từ nhỏ đến giờ chưa từng rời làng Kim Quan, nghe Trương Tiểu Biện khoác lác thì đều tin sái cổ, tưởng là thật. Tôn Đại Ma Tử nói với mọi người: “Hồi trước có lão thầy bói mù qua làng, mỗ đây bỏ một đồng ra xem một quẻ về đường tài lộc. Lão thầy bói ấy bảo quẻ tiền tài của mỗ gần đây đã động, sắp đến lúc phát, không ngờ đã ứng nghiệm ở đây rồi!”
Cả đám người đều sinh lòng tò mò, lại nghe nói đến hơi đồng, liền để Tôn Đại Ma Tử cầm đầu, huơ huơ cái sào dài vào bên trong động đá thọc vài lượt, định bụng dò xem nông sâu thế nào, chẳng ngờ đầu sào chạm phải một đống mềm mềm nhũn nhũn như chọc vào cơ thể ai đó. Bỗng dưng từ trong động phát ra những âm thanh quái dị, tựa hồ như có ai đó đang ho khạc, Tôn Đại Ma Tử sợ đến bủn rủn tay chân, suýt nữa đánh rơi cây sào. Tiếng ho khạc trong động càng lúc càng dữ dội.
Trương Tiểu Biện nghe tiếng ho dữ trong động, cũng giật mình kinh hoảng. Sao đến đây thì sự tình không giống như lời Lâm Trung Lão Quỷ nói nữa? Lão ta có nói trong động có động vật gì đâu, lẽ nào lão yêu tinh quan tài ấy có bụng xấu xa, muốn lừa Trương Tam gia ta đến đây chịu chết? Trăm mối nghi ngờ nổi lên, tức thời cũng chẳng rõ ra làm sao nữa.
Cả đám xung quanh đều bảo: ”Chắc có cương thi trong động rồi, mau bỏ ếch xuống chạy tháo thân thôi.” Thế nhưng, Tôn Đại Ma Tử lại không hề sợ hãi, gã lắc đầu nói: “Cương thi làm sao mà biết ho? Mỗ thường nghe loài nhím già học cách ho hắng giống người, chắc chỉ có một con nhím già nấp trong đó thôi.”
Gã cậy mình khỏe, lại có ý thể hiện “thân thủ anh hùng, cử chỉ đĩnh đạc” trước mặt đám người làng, liền trợn tròn đôi mắt, đanh khuôn mặt sần sùi lại, tiếp tục thăm dò tình hình trong hang động, định bụng tra xét cho tường tận điều kì lạ bên trong. Nhưng gã vừa mới vào đến cửa động, bỗng nghe tiếng vang như sấm, bên trong hang ẩm thấp tối mò vọt ra hơn trăm con ếch xanh lớn, nhảy vọt qua khe hở giữa đám đông.
Bọn Trương Tiểu Biện sợ bắn mình, vừa mới nhìn thấy bon ếch, liền dùng gậy gộc đánh loạn, đập nát bét mấy con, đuổi bọn còn lại nhảy dạt ra xa. Trong đám hỗn loạn, bỗng nghe Tiểu Phượng rú lên sợ hawi, liên tiếp bước giật lui mấy bước, ngã phịch xuống đám bùn, run lên cầm cập. Thì ra, trong cửa hang có một cái đầu ếch to bằng cái đấu thò ra, trợn mắt nhìn chằm chặp vào Tiểu Phượng kêu rống lên.
Con ếch to bự xuất hiện sau cùng ấy mình lớn như cái cối xay, màu sắc trên lưng chuyển từ lục sang vàng sậm, lốm đốm những vòng tròn đen, trông thoáng qua như có hàng trăm, hàng nghìn con mắt. Con ếch lớn phơi cái bụng trắng như tuyết, ngồi chồm hỗm trước cửa hang, nhìn trừng trừng, miệng kêu những tiếng “ồm ộp” như tiếng trống.
Bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử chỉ sợ cương thi ăn thịt người chứ bình thường vẫn bắt ếch bắt nhái nên không sợ cái loại cóc cáy này? Mặc dù vậy, thấy nó to lớn khác thường, bọn hắn cũng biết rằng đó không phải ếch thường, chỉ sợ giết đi sẽ rước tai vạ, liền tính dùng sào xua đuổi. Chẳng ngờ, sào đâm vào chỗ nào cũng đều bị con ếch lớn dùng chân hất văng đi. Nó cứ ngồi chồm hỗm trước cửa hang đá, mặc cho que gậy tha hồ chọc, vẫn không lùi nữa bước.
Thế nên ai nấy đều càng lấy làm lạ, dường như con ếch đó muốn giữ chặt cửa, không cho ai vào, kiểu này thì mười phần chắc tám là trong động có vàng bạc châu báu của bọn giặc để lại rồi, vậy là cả đám tranh nhau dùng gậy chọc. Con ếch dần dần không cản nổi, trợn trừng hai mắt tức tối lên, bất ngờ há miệng phóng ra cái lưỡi dài màu máu cuốn vào eo của cô ả Tiểu Phượng đang ngồi bệch dưới đất, lôi mạnh về phía mình với tốc độ nhanh như sao băng. Cô nàng nặng đến mấy chục cân mà chẳng khác gì con ruồi con muỗi rơi vào mồm ếch, rồi nó đột nhiên rụt xuống hang, lẩn vào bóng tối.
Cả bọn sợ tái mét mặt, tuy mụ Vương quả phụ có tiếng khắc bạc, tính tình lại chua ngoa đanh đá, tiếng tăm xấu xa, nhưng xét cho cùng nhà mụ cũng chỉ có một đứa con gái là Tiểu Phượng thôi, cô ả còn thường nô đùa với bọn Trương Tiểu Biện từ thuở nhỏ, cả bọn làm sao trơ mắt để con ếch to kéo cô ta vào hang ăn thịt được. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy chuyện chẳng lành, vội vã vọt lên, hét một tiếng lớn rồi cùng đánh vào trong để cứu người.
Trương Tiểu Biện nóng mặt, xông vào cái hang tanh tưởi ẩm thấp, trong bóng tối chẳng trông thây gì, đành cùng Tôn Đại Ma Tử cứ thế tiện tay chộp khắp nơi, nào ngời vừa mới giơ tay lên đã chạm phải làm tóc mềm của đàn bà, sờ xuống mặt chỉ thấy lạnh băng, chẳng rõ sống chết thế nào. Trương Tiểu Biện vội ra sức bám chặt vào tóc, cố sống cố chết lôi ra ngoài hang, bên ngoài còn một đám người, thấy hắn nhô nửa người ra liền hè nhau giúp đỡ, kéo hẳn người Trương Tiểu Biện ra ngoài.
Trương Tiểu Biện vừa thấy ánh sáng liền vội ngồi dậy nhìn thử, khi ấy mới phát hiện ra người đàn bà mình đang nắm tóc kéo không phải là Tiểu Phượng mà là một cỗ cương thi mặc trang phục của triều trước. Cái xác người đàn bà triều Minh ấy cứng đờ như tượng gỗ, tuy toàn thân lấm bùn rêu nhưng vẫn có thể nhận ra khuôn mặt chết không nhắm mắt, xem chừng cũng khá xinh đẹp của mụ ta. Hai búi tóc vấn trên đầu sắp bị kéo tung ra, hàm dưới đã biến mất, dưới vành môi trên chỉ chừa lại cái lỗ sâu hoắm, khiến cho khuôn mặt như bị kéo dài ra rất nhiều, vẻ khủng khiếp đáng sợ khó bút mực nào tả xiết. Y phục trên tử thi vốn bị ngâm nước khá lâu nên đã mục nát cả, từng trận gió núi thổi qua lùm cỏ rậm hoang vu khiến quần áo ngay lập tức hóa thành muôn nghìn mảnh vải vụn bay tứ tán khắp nơi.
Những người còn lại đều sợ muốn chết, kêu thất thanh, phải như Tiểu Phượng nhà mụ Vương quả phụ bị con ếch khổng lồ lôi vào hang ăn thịt, âu cũng là số cô ả như thế chứ biết làm sao, đằng này Trương Tiểu Biện vào đó cứu người, lại lôi ra một cái xác cổi hình mạo đáng sợ như thế, xem ra truyền thuyết về cương thi ở Úng Trủng sơn không phải là lời ngoa, phen này thì đừng hòng mong sống sót nữa.
Trương Tiểu Biện cũng há hốc mồm, một lúc lâu không ngậm lại được, quên phắt luôn cả Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng trong hang còn chưa biết sống chết ra sao, cứ thế nhìn chằm chặp vào cái thây không hàm kia, trong đầu chỉ còn một suy nghĩ: “Lâm Trung Lão Quỷ ấy đúng là liệu sự như thần, cương thi mỹ nhân quả thực giấu trong Úng Trủng sơn. Vinh hoa phú quý cả đời của Trương Tam gia này đều từ đây mà ra cả.”
Thế mới hay: “Vận hết thì vàng còn nhạt sắc; Số hên xác ướp cũng long lanh”. Muốn biết bọn Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử phúc họa thế nào, chờ xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:21 pm; sửa lần 3.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:10 pm

Hồi thứ bảy: Ếch kêu mưa


Lại nói, Trương Tiểu Biện lôi từ trong hang ra một cái thây phụ nữ không có hàm dưới, bọn người cùng đi bắt ếch trông thấy, đều sợ hãi đến hồn bay phách lạc, ai nấy run lên cầm cập. Thời bấy giờ, cánh người làng hay kháo nhau mấy chuyện: “Ma xác chết, cáo yêu tinh”, đám dân đen thấy cảnh tượng đó, tài nào chẳng sợ? Cả đám lập tức dúi dụi, kéo nhau chạy sạch.
Trong núi hoang còn trơ lại một mình Trương Tiểu Biện lặng người ôm lấy cỗ cương thi. Đối với hắn nghiêng trời lệch đất mà nói, đây chính là món phú quý. Chẳng ngờ Trương Tam gia ta đang nghèo khổ mạt vận lại có thể ”thoát thai nghèo, đổi cốt quý”, trước mắt cuối cùng cũng có cảnh hưởng thụ xung sướng đón chờ rồi.
Ngay lúc ấy, bỗng có tiếng ếch kêu ồm ộp inh ỏi trong hang, Tôn Đại Ma Tử đang ôm Tiểu Phượng bò ra, con ếch lớn trong hang cắn chặt không chịu buông cây gậy trong tay gã. Hai bên đều ra sức kéo, không ai chịu ai.
Gã Tôn Đại Ma Tử này quả thực có cánh tay khỏe hơn người, chỉ thấy gã một tay cắp Tiểu Phượng, một tay kéo ngược đầu gậy, gồng chân giở thế mãnh hổ leo núi, dùng hết sức rướn ra ngoài cửa hang, gân xanh trên tráng gồ hẳn lên, mà chẳng biết buông tay bỏ gậy hất văng con ếch đại tướng kia đi, thấy Trương Tiểu Biện đang ngồi ngơ ngẩn trên đống bùn bên ngoài cửa động liền giật giọng hô hoán hắn tới giúp.
Trương Tiểu Biện bị gã hét gọi liền giật mình sực tỉnh. Hắn nóng máu, chạy lại giúp Tôn Đại Ma Tử kéo con ếch trong hang ra ngoài. Cả hai thấy con ếch to cố sống cố chết cắn chặt cây gậy không chịu buông, hai bên mang của nó không ngừng phát ra những tiếng ộp ộp liên hồi, cặp mắt trợn tròn lên nhìn cả hai, thể hiện sự tức giận tột độ. Nhìn con ếch to lớn quyết chẳng phải thứ ếch nhái tầm thường, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử dẫu gan to mật lớn cũng không dám tùy tiện ra tay giết hại.
Hai gã thấy bên cạnh là khe bùn, đã làm thì làm cho trót, nghiến răng lấy hết can đảm, thuận thế lôi nó đến bên khe, rồi vừa đẩy vừa đạp, khiến con ếch già xanh vàng lốm đốm rơi xuống bên dưới. Hai bên khe đều là bùn lầy,ở giữa vẫn còn một dòng nước tích lại sau cơn lũ. Con ếch vừa bị đẩy xuống bùn bỗng nhả cây gậy ra, kêu oàm oạp mấy tiếng rồi nhảy vọt ra ngoài mấy trượng, nhào xuống khe nước. Tới khi bọt nước lắng xuống, đã không còn tăm hơi con ếch đâu nữa.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mệt đứt hơi, rốt cuộc cũng đã đuổi được con ếch cụ đó đi, nhìn bốn phía, hóa ra đám người làng cùng đi đã chạy ráo cả. Tiểu Phượng mặc dầu không bị thương nhưng đang sợ tới mức ba hồn bảy vía lên mây, ngồi bệt xuống, răng đánh lập cập, không thốt được câu nào. Lúc ấy, trời chiều đã buông, trên núi hoang chỉ còn lại ba người.
Tôn Đại Ma Tử oán trách đám người làng không có nghĩa khí bỏ chạy trước, đúng là sự đời đen bạc. Thường ngày, trong làng vẫn xưng hô huynh huynh đệ đệ với nhau, đến lúc gặp nguy nan cần huynh đệ giúp đỡ thì chẳng có thằng nào chịu bước lên cùng chống chọi hiểm nguy, Tôn Đại Ma Tử tức tràn hông, lớn tiếng bảo rằng đợi về làng Kim Quang sẽ trị cho chúng một trận. Rồi gã lại bảo Trương Tiểu Biện: “Chỉ có tam đệ của mỗ là nghĩa khí nhất, nói gì làm gì cũng đều chính trực can đảm, xưa nay chưa từng học theo lũ tiểu nhân chỉ biết nói mồm, chỉ có bậc hảo hán thế mới đáng kết giao thôi.”
Trương Tiểu Biện vốn mặt dày,dùi đục còn chẳng như thủng, nghe vậy cũng chẳng hề khiêm nhường, đang định tự tâng bốc, phụ họa với Tôn Đại Ma Tử, xem kiến giải về bậc hào kiệt như thế nào, bỗng nhận ra bầu trời trong núi bắt đầu tố sầm lại. Một trận gió thổi qua, trời đất mịt mù, chớp giật ngoằn ngoèo giữa từng không, sấm nổ ầm ầm, kinh động bốn bề, nước mưa đổ ập xuống như trút. Địa thế Úng Trủng sơn này vốn dốc từ Bắc xuống Nam, hễ mưa lớn là có lũ quét, con lạch trong khe núi bỗng chốc đầy ứ nước mưa đục ngầu, tuôn ra ngoài theo sườn núi, lũ quét cuồn cuộn, tiến động ầm ầm như sấm.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy mưa to, lũ quét rất mau, không khỏi biến sắc, vội vã kéo Tiểu Phượng lùi vào bên trong hang ếch tránh mưa. Lúc ấy, Tiểu Phượng cũng đã tỉnh, nghĩ lại những chuyện vừa qua mà lòng vẫn còn chưa hết sợ.
Thấy bên ngoài mưa to như trút, lũ quét dâng cao, nhấn chìm hết cả đường núi, ba người đều không ngớt kêu khổ. Trong núi có truyền thuyết về thần ếch gọi mưa, chỉ e vừa mới vừa rồi đã trót kinh động đến thần nên mới có trận lũ này. Mấy năm nay Úng Trủng sơn khô hạn, trăm dặm quanh vùng đất khô nứt cả, trước cũng thường có lũ quét nhưng ra khỏi núi thì lũ lại phân đổ về các sông suối, may là xưa nay chưa từng đe dọa đồng ruộng xóm làng.
Chỉ khổ có ba người bọn Trương Tiểu Biện bị mưa lũ cầm chân trên núi, không đợi đến lúc tạnh mưa qua lũ thì không thể xuống được núi. Trông trận mưa như nghiêng sông dốc biển, chỉ e cả đêm chưa chắc đã tạnh, đành dọn một chỗ cao ráo, ngủ đêm trong núi đợi đến mai mưa tạnh thì về làng.
Trương Tiểu Biện đột nhiên nhớ đến cái xác còn ở ngoài hang, vội đội mưa chạy ra, lôi lôi kéo kéo vào bên trong. Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng không hiểu hắn định làm gì, cái xác này không có hàm dưới, hình dạng lại quái dị khủng khiếp, để ở trong hang chắc cả đêm sẽ thấp thỏm không yên, bèn hỏi Trương Tiểu Biện: “Chú để cái xác lại làm gì? Chi bằng lẳng xuống khe cho rồi, bằng không đêm khuya sấm chớp, nó hóa yêu tinh tới bắt thì chết…”
Trương Tiểu Biện đương nhiên không thể đáp ứng, có điều nếu kể hết mọi chuyện thì có lẽ đổi lại là hắn, hắn cũng chẳng tin được, cũng may tay họ Trương này đã quen dối trá, liền thuận miệng đáp bừa: “Ma tử ca, Tiểu Phượng tỷ chớ nghĩ Trương Tam ta cô khổ lênh đênh, nghèo đói rách rưới, cả mảnh đất cắm dùi cũng không có, nhưng Trương Tam này hồi nhỏ cũng từng đọc qua mấy cái chữ, tốt xấu gì biết chút lễ nghĩa, liêm sỉ. Cái xác này vốn chon trong hang núi, xưa nay không ai biết đến, nếu chúng ta không tới đây bắt ếch, chắc nó cũng không bị phơi ra ngoài như thế này. Theo tình, theo lý chính là lỗi chúng ta đã kinh động đến tiền nhân, sao còn có thể chỉ nghĩ tới mình mà vứt xác ra ngoài khe cho nước lũ cuốn đi cho được? Nam mô Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát ở trên kia, hai người thực sự cho rằng thần phật trên kia không có mắt hay sao? Những chuyện trái lẽ như thế nhất định không được làm, nếu có làm thì hai người tự đi mà làm, đừng lien lụy đến ta.”
Tôn Đại Ma Tử vốn là người thô lỗ thực thà, còn Tiểu Phượng là cô nhà quê, từ nhỏ đến lớn chưa từng biết sự đời, làm sao nhìn thấu được cái trò ba hoa chích chòe của họ Trương, liền tin những điều hắn nói là thực, lại còn cảm thấy bên cạnh mình có người hiểu biết như Trương Tiểu Biện thật là may mắn, bằng không ắt đã phạm sai lầm lớn rồi. Hai người liền lẩm nhẩm niệm mấy lượt:” Nam mô Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn”, rồi cung kính đặt cái xác vào trong hang. Nhưng quần áo của tử thi vốn đã mục nát hết, lại vừa bị mưa lớn xối cho một trận, bộ dạng trông rất bất nhã, kinh nhất là gương mặt không hàm dưới của cái xác, mặc dù trong hang tối om, nhưng chỉ cần nghĩ đến gương mặt ấy chẳng che chẳng đậy gì ở ngay bên cạnh mình, đã rợn tóc gáy lên rồi. Chẳng còn cách nào khác, Tôn Đại Ma Tử đành chụp hai chiếc bao gai bắt ếch lên trên cái thây rồi mới hơi yên tâm.
Trương Tiểu Biện cười thầm trong bụng, giả tảng giúp Tôn Đại Ma Tử choàng bao tải lên cái xác, rồi tiện tay lần mò lung tung trong hang một lúc, hy vọng tìm thấy thứ gì đáng tiền, miệng vẫn lẩm nhẩm: “Tiền là tiền của dương gian, vật là vật của dương gian, xin mượn tạm chút đỉnh để dung, có gì thì đợi Tiểu Phượng xuống dưới đó sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho cô...”
Thế nhưng, Trương Tiểu Biện tìm một lúc lâu chỉ thấy toàn rớt dãi của bọn ếch, hết sức xú uế, ngoài ra chẳng thấy bất cứ thứ gì, đành bỏ ý định tìm kiếm, trải vài cái bao tải lên rồi nằm nghe mưa gió trút xối xả bên ngoài cửa hang, trong đầu trăn trở từng lời chỉ vẽ của Lâm Trung Lão Quỷ. Vất vả cả ngày trời trong núi, hắn cũng mệt mỏi lắm rồi, chỉ một lát sau đã chìm dần vào giấc ngủ.
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng thì không được như Trương Tiểu Biện, cả hai chưa từng ở trong núi hoang miếu nát bao giờ, khó mà ngủ nổi trong cái hang núi ẩm thấp, tanh tưởi này, cứ chợp mắt là mơ thấy nữ cương thi không mồm hoặc bà con than thuộc máu me đầm đìa hiện lên trước mặt. Hai người chốc chốc lại giật mình sực tỉnh, mồ hôi lạnh cứ thế vã ra ướt sung cả người.
Trong long kinh hoảng, bản than họ cũng biết rằng đây là điềm báo chẳng lành, trằn trọc mãi tới khi trời tạnh, mưa ngừng mới vơi đi cảm giác thấp thỏm giày vò tim gan ấy, đợi đến khi cơn lũ quét hơi rút đi, cả ba liền vội vã tìm đường xuống núi.
Trương Tiểu Biện nhân thể bèn nói, nếu đã quay về thì cũng không thể bỏ lại thi thể này ở đây được, phải mang về khu mộ phía sau làng Kim Quan chôn, cho dù chỉ có manh chiếu bó than người đã khuất, thì cũng là làm thiện tích chút ân đức về sau, người làm việc thiện ắt sẽ có thiện báo.
Tôn Đại Ma Tử van Tiểu Phượng mơ thấy ác mộng suốt đêm, trong lòng đang khi lo lắng, thấy bảo làm việc thiện, tích âm đức đồng ý ngay, cùng Trương Tiểu Biện vác cái xác, bước thấp bước cao, đạp bùn lầy lần theo đường mòn xuống núi. Quanh co một hồi, về đến trước cổng làng liền cảm thấy có điều bất ổn, khắp nơi đâu đâu cũng có người chết, mùi máu tanh xộc lên tận trời, cả ngôi làng đã bị loạn binh tàn phá, thi thể ngổn ngang, trước mắt chỉ ngập một cảnh tang thương.
Thì ra có mấy cánh quân Việt khấu ngầm kéo đến bao vây, công phá thành Linh Châu rất gấp. Nhưng thành Linh Châu phòng bị nghiêm mật, đánh gấp không được lại bị quân cứu viện bốn mặt kéo đến vây công. Các lộ lính dõng(1), quan binh kéo đến cứu viện và cả đám Việt khấu đang tiến đén hợp lực công thành đều di chuyển về đêm, không hẹn mà gặp nhau cùng một chỗ. Trận kịch chiến lan đến tận làng Kim Quan. Sau trận huyết chiến, thôn làng đã hóa thành bình địa. Vào lúc ấy, a số dân làng Kim Quan đang say giấc ngủ, cũng có vài người đang bàn cách vào núi tìm tung tích của bọn Tôn Đại Ma Tử van Tiểu Phượng, đột nhiên nghe pháo nổ binh gào khắp nơi, định mở cửa chạy trốn nhưng bốn bề tám hướng đã bị loạn quân vây kín, nam phụ lão ấu cả làng không ai thoát chết.
Bọn Trương Tiểu Biện vì lũ quét không về được nên may mắn thoát nạn. Nếu cùng người làng bắt ếch trở về, có lẽ đã gặp phải họa binh đao toi đời từ lâu rồi. Mắt nhìn bà con thân thuộc đều chết cả, nhà cửa, ruộng vườn tan nát, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng choáng váng ngất lịm đi.
Trương Tiểu Biện cũng lặng đi một lúc lâu, lòng thầm niệm phật Tổ từ bi, nếu không có lão thần tiên trong mộ mách bảo Tam gia thì đến mười cái mạng cũng không thoát nổi. Quá nữa thi thể trong làng đang bị chó tha quạ rỉa, cảnh tượng thảm không nỡ nhìn, liếc qua một lượt đã thấy hơi lạnh chạy dọc sống lưng, quay lại thấy Tôn Đại Ma Tử van Tiểu Phượng ngất lịm trên đất, hắn vội vã lay họ tỉnh lại. Hai người vừa tỉnh đã gào khóc xé trời, thật là “tinh tú không trung đều rớt lệ, càn khôn nhật nguyệt phải than dài”.
Khóc đến lúc lả người đi, ba kẻ sống sót nhớ ra là phải thu liệm di hài của người thân, cầm gạch đá, gậy gộc đuổi lũ quạ diều, chó hoang đi. Song người chết quá nhiều, cuối cùng cũng chỉ tìm thấy xác của Vương quả phụ và một đứa em gái của Tôn Đại Ma Tử, rồi đào một cái hố ở gần đấy vùi xuống, còn lại thì thực sự không thể chôn cho hết, đành mặc cho chó hoang rỉa thành xương trắng. Hai người đứng trước mộ lại khóc lóc thêm một hồi nữa.
Trương Tiểu Biện ngẩng đầu nhìn trời, thấy mặt trời đã xế bóng, ở lại làng Kim Quan đã hóa thành một đống đổ nát này cũng không phải chuyện hay. Cuộc đại chiến qua đi, bọn trôm cướp trong vùng nhất định sẽ thừa cơ đến cướp bóc vào đêm, dẫu là quê hương làng xóm thì cũng không thể lưu luyến thêm được nữa, hắn liền hỏi Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng từ nay về sau sẽ tính toán thế nào.
Tôn Đại Ma Tử nói: “Mặc dù mỗ có vài người họ hàng xa ở ngoài tỉnh, nhưng đã lâu không qua lại nữa rồi, giờ thì mỗ đây đúng là kẻ tứ cố vô thân rồi. Cũng may là còn có sức khỏe hơn người, lại biết vài ngón côn bổng quyền cước, có chí đầu quân giết giặc, biết đâu đoạt được chút công danh bổng lộc nơi đầu thương mũi giáo, khôi phục được dòng dõi họ Tôn nhà mỗ.” Gã cũng khuyên Trương Tiểu Biện cùng đi tòng quân. Đang lúc thiên hạ đại loạn, ở Linh Châu ngày nào cũng mộ binh, dẫu không trở thành quân quan thì chí ít cũng kiếm được miếng cơm bỏ bụng, còn hơn phải lưu lạc khắp nơi xin ăn.
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng: “Hảo hán không đi lính, thép tốt chẳng làm đinh. Bây giờ đương khi thế quân Việt khấu đang thịnh, diệt được cánh quân này lại xuất hiện hai cánh quân khác. Triều đình điều cả đại quân đến mà cũng khó lòng tiêu diệt, cứ trận này rồi trận khác, dẫu ai thắng ai bại thì cả hai bên đều chịu thương vong, chẳng lẽ Trương Tam gia ta ngốc đến mức đi theo để chúng đẩy vào nơi đầu tên mũi đạn hay sao?” Nghĩ đoạn, hắn lắc đầu không nhận lời.
Tôn Đại Ma Tử không khuyên được Trương Tiểu Biện cùng tòng quân, lại thấy Tiểu Phượng cứ khóc mãi không thôi, liền nói: “Tiểu Phượng, không rõ cô định đi đâu về đâu? Trong cơn binh loạn thế này thân gái dặm trường sao tiện? Chúng ta đều là chỗ đồng hương thân thuộc, mỗ van Trương Tam sẽ đưa cô đi.”
Trương Tiểu Biện không đợi Tiểu Phượng lên tiếng đã cất lời chen vào: “Cô ả còn đi đâu được nữa? Chi bằng cùng nhau vào thành Linh Châu. Vương quả phụ lúc sống có một lão tình nhân già trong thành, may ra lão nhớ chút tình xưa nghĩa cũ sẽ nhận cô ta làm con gái.”
Tiểu Phượng nghe thấy càng khóc tợn, thiếu chút nữa là nghẹn thở, cao giọng chửi Trương Tam là thằng trôm yểu mệnh thất đức. Cô ả giờ không còn thân thích, nếu giờ vào thành nương nhờ cái hạng thấy lợi quên nghĩa ấy , nhất định sẽ bị bán làm gái lầu xanh. Trong lúc loạn lạc này, đầu thai làm người thực cũng chẳng hay ho gì, chẳng bằng một dao mạng thân cho xong, xuống dưới với mẹ có khi còn hơn phải sống cô khổ trong cuộc đời này.
Trương Tiểu Biện nghe Tiểu Phượng mắng mình nhưng không nổi giận như thường lê, trái lại, hắn thấy trong lòng có chút chua xót. Hắn hiểu rõ thế nào là cảnh khổ sở lưu lạc, tứ cố vô thân, thấy Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng qua một đêm đã trở thành kẻ bơ vơ, không khỏi sinh lòng đồng cảm, nghĩ thầm: “Thời bây giờ muốn làm ăn mày xin ăn cũng chẳng dễ, hai người này không biết ngón bắt gà trộm chó, nếu để tự kiếm đường sống ắt một người sẽ chết trong đám loạn quân, một người sẽ chết đói hoặc bị bán vào kỹ viện. Trương Tam gia ta sắp tới sẽ có ruộng vườn sải cánh cò bay, gia son mặc cho trộm khuân hoài không hết, cớ chi mà không cứu vớt chúng một phen. Gã Tôn Đại Ma Tử vai u thịt bắp rất hợp làm bảo tiêu cho phủ đệ của Tam gia ta, còn ả Tiểu Phượng thì... thổi bếp, nấu cơm, quét nhà, giặt áo, bổ củi, nuôi chó, mấy cái việc vặt đó giao cho ả là hợp, làm không xong thì không cho ăn cơm. Con bà nó chứ, không đem bán ả vào nhà thổ là Tam gia ta đã phát lòng Bồ Tát đại từ đại bi lắm rồi
Nghĩ đến thế, Trương Tiểu Biện liền kể cho hai người nghe câu chuyện từ khi lạc vào mộ Kim Quan, gặp phải bọn trộm mộ ra sao, gặp Lâm Trung Lão Quỷ, bị lão bắt đếm mèo thế nào, rồi bảo: ”Lâm Trung Lão Quỷ thực là bậc thần cơ diệu toán, nếu không có lão nhân gia ấy mách bảo, bọn ta chắc chắn không thể thoát khỏi kiếp nạn binh đao đêm trước. Lão nhân gia còn bảo, số mệnh Trương Tam gia ta đã định sẵn, sẽ trở nên giàu có sung sướng, vinh hoa phú quý ngất trời, nên đã chỉ ra cho ta con đường đại phú đại quý. Tam gia ta bình sinh rất sẵn lòng thành chuyên cứu giúp người tốt, nghĩ chúng ta đều là đồng hương, nếu hai người sẵn lòng giúp ta thành công, nhất định lúc ấy có phúc để cùng hưởng.”
Tôn Đại Ma Tử định đầu quân làm lính dõng, thực ra cũng vì cực chẳng đã chứ ai chẳng biết binh đao hung hiểm nhường nào. Bấy giờ nghe Trương Tiểu Biện nói thế, chứng cớ đều đã rành rành, tính mạng của gã quả thực đã may mắn giữ được, hơn nữa, cách đó không lâu, thầy bói cũng bảo quẻ giàu sang của gã đang vượng nên càng tin lời Trương Tiểu Biện hơn nữa, gã liền chắp tay nói: “Thôi thì nhờ cả vào hiền đệ, nhưng không biết rốt cuộc con đường đại phú đại quý ấy là thế nào?”
Trương Tiểu Biện chỉ vào cái xác trong bao tải, giả bộ thần bí nói: “Phú quý đều ở trong đó, có điều thiên cơ bất khả lộ, hai người chớ hỏi nhiều, chỉ cần cẩn thận một chút, theo ta rồi tùy cơ hành sự là được.”
Có lời rằng: “Rồng xanh cọp trắng đồng hành; Phen này chưa biết dữ lành ra sao.” Muốn biết vận mệnh của bộ ba thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:23 pm; sửa lần 2.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:11 pm

Hồi thứ 8: Thành Linh Châu.

Lại nói, làng Kim Quan chỉ trong một đêm đã bị binh hỏa tàn phá, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng tuy thoát nạn nhưng đã thành kẻ tứ cố vô thân, gan ruột rối bời, trong cái thời thế nước lửa hỗn loạn này, biết tìm đường sống ở đâu?
Bỗng nghe Trương Tiểu Biện sẵn lòng đưa họ đi tìm sự giàu sang, thực như kẻ chết đuối vớ được cọc, vui sướng vô cùng, liền nhất nhất tin theo lời hắn. Tôn Đại Ma Tử cảm kích đến nghẹn ngào: “Mỗ thường nghe cha nói, đời nay người ta giậu đổ bìm leo là nhiều, chứ mấy ai biết nhường cơm sẻ áo. Đời này mỗ kết giao được người nghĩa khí như huynh đệ, thực không uổng chút nào.”
Trương Tiểu Biện biết rằng, lúc này nơi này cũng không nên nhiều lời, liền bảo hai người kia: “Muốn tìm sự giàu sang phú quý ấy, trước mắt hẵng còn mấy việc lớn phải làm. Bây giờ đã xế chiều rồi, chúng ta chớ dùng dằng lâu, mau lên đường ngay mới được.” Nói xong, liền bảo Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng gạt nước mắt rồi cả ba cùng lấy lại tinh thần, bới tìm chút thức ăn, tiền bạc trong đống người chết, gói gém mang theo phòng thân.
Trương Tiểu Biện lại nói, việc cần làm trước tiên là bí mật đem cương thi mĩ nhân vào trong thành Linh Châu. Tôn Đại Ma Tử nghĩ bụng, nếu đã là lời thần tiên truyền dạy để tế bần cứu khổ, bọn người thế tục chúng ta vốn ngu độn, làm sao mà hiểu biết hết được đạo lí bên trong? Bất tất nghĩ ngợi nhiều, cứ theo thế mà làm là được, vả lại Trương Tiểu Biện đã được chân truyền, hăn bảo thế nào thì là thế ấy.
Nghĩ vậy gã liền cùng Trương Tiểu Biện hiệp lực nhét cương thi mỹ nhân vào trong bao gai, tìm một cỗ xe không có vật kéo. Gã đi đằng trước nai lưng kéo xe, Trương Tiểu Biện và Tiểu Phượng đi đằng sau đẩy giúp, lần đường đi về dốc núi sau làng. Đến đó, cả ba không kìm được, cùng dừng lại, ngoái nhìn cố hương tường siêu ngói đổ rồi mới nuốt nước mắt lên đường.
Rời làng không bao lâu, chợt nghe phía trước có tiếng người kêu ngựa hí, tiếng quân reo hò càng lúc càng gần tựa hồ đang có đại quân trẩy qua. Ba người sợ hãi, vội vã nằm phục vào vách núi nhìn trộm xem sao.
Trong bóng tà dương đỏ như máu, chỉ thấy từng tốp Thái Bình quân chít khăn đỏ đang tháo chạy từ phía thành Linh Châu. Đám quân sĩ sau trận huyết chiến ai nấy máu nhuộm đỏ chiến bào, đầu thương mũi giáo còn đọng vết máu chưa khô, cờ quạt y phục đều nhuốm đầy khói đen. Đoàn quân rồng rắn đi qua, đội ngũ kéo dài tít tắp, giáo dựng như rừng, đao tuốt như cỏ, nhộn nhạo cả một vùng núi hoang, đi đến đâu núi non tưởng chừng rung động, trời đất bỗng hóa thành một không gian nồng nặc mùi máu tanh.
Mãi khi trời tối hẳn, đoàn người ngựa dưới chân núi mới lục tục qua hết, xa xa trông thấy vô số ngọn đuốc ngoằn ngoèo như một con rồng lửa đang chuyển động về phía Tây. Bọn Trương Tiểu Biện ngước nhìn đoàn quân Việt khấu đi xa, thầm tặc lưỡi, từ thưở bé tới giờ mới trông thấy cảnh tượng người ngựa đông đảo đến vậy.
Ba người thấy thế giặc rất lớn, tuy bại mà không loạn, chẳng bao lâu ắt sẽ quay lại, không rõ thành Linh Châu còn giữ được bao lâu nữa, lại lo gặp phải loạn quân, sơn tặc nên không dám đi đường lớn, đành lần theo những lối mòn trong núi để đi tiếp. Thôn làng hầu hết đã bị tàn phá cả, dọc đường đi không có lấy một ánh lửa nhà dân.
Đẩy xe cả đêm đến tảng sáng, trong lúc hoảng loạn, cả ba không phân biệt được phương hướng, đang chưa biết đã đến được nơi nào thì bông thấy nhiều thi thể nằm ngổn ngang trong khu rừng trước mặt, ước tính có đến mấy trăm cái xác. Nhìn trang phục thì đều là người dân ở các làng xung quanh, có lẽ trong lúc tránh nạn gặp phải loạn quân thảm sát. Bọn Trượng Tiểu Biện vốn đã như chim sợ cành cong , nay lại thấy khắp núi hoang phơi toàn thi thể đầu một nơi mình một nẻo, tim gan lòng ruột đổ đầy mặt đất, cả ba hết sức sợ hãi, chỉ muốn nhanh chóng vòng đường mà rời khỏi chốn này.
Chẳng ngờ mới chỉ đứng xa liếc nhìn mấy cái, cả ba đã phát hiện ra đám thây xác này có điều quái lạ. Thì ra bất luận, nam phụ lão ấu đều bị lột quần, phơi hạ bộ lộ thiên, giữa hai đùi máu thịt bầy nhầy, rõ là bị người ta dùng dao cắt vào, thảm trạng không sao tả xiết. Tiểu Phượng vội bịt chặt mắt không dám nhìn.
Tôn Đại Ma Tử cũng thấy tim đập thình thịch, hạ giọng hỏi Trương Tiểu Biện: “Này tam đệ, chẳng lẽ bọn Việt khấu giết xong... còn cắt đi cả cái của nợ ấy à? Mà sao đến đàn bà con gái cũng bị cắt hết cả đi? Thủ đoạn này quá sức tàn nhẫn, trời có thiên đạo, người còn có vương pháp, làm thế này không sợ trời phạt ư...?”
Trương Tiểu Biện từng phiêu bạt bên ngoài vài năm, sự hiểu biết hơn hẳn Tôn Đại Ma Tử, hắn đánh bạo nhìn ngó vào rừng, đoán được đại khái sự tình, liền ra vẻ lão luyện nói: “Hành vi này, không giống thủ đoạn của bọn giặc cướp tầm thường. Ta từng nghe lão đạo sĩ quá cố, thầy của ta nói, trên đời này có một tà giáo tu luyện môn Kim Cương Thiền. Giáo phái này hết sức thần bí, lại có cả nam nữ tụ tập. Bọn chúng chuyên giết người lấy hạ bộ của nam và nữ phối thành một cặp, thêm thủy ngân, đan sa, dược thảo, luyện thành một loại đan dược, uống vào có thể đắc đạo. Quan phủ hễ bắt được giáo đồ luyện đan sa tà thuật này đều đem ra lăng trì ở chợ, nhưng cấm mãi mà vẫn không được. Xem tình hình này, có khả năng là đám gian nhân đó nhân lúc chiến loạn ngầm làm những việc thất đức. Vết dao trên mấy cái xác hẵng còn mới, chỉ e chúng vẫn còn lẩn khuất đâu đây, nếu gặp phải chúng, chúng ta ắt dính độc thủ, chi bằng ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn.”
Tôn Đại Ma Tử mặt xanh như chàm đổ, lè lưỡi, nói: “Mẹ ơi, đến thịt thối của người chết nó cũng xơi được?” Gã cùng Trương Tiểu Biện vội kéo xe lừa, lôi Tiểu Phượng trốn vào rừng rậm.
Đi được một lúc, ngẩng lên nhìn, cả bọn thấy ngoài cánh rừng là một ngọn núi lớn, chính là ngọn Úng Trủng bắt ếch hồi hôm. Trận mưa to, lũ lớn đêm qua lại khiến vô số ếch trong núi chui ra, nhảy nhót khắp nơi.
Trương Tiểu Biện đang lo tìm cách đưa cương thi vào trong thành Linh Châu, chợt thấy lũ ếch trên núi, hai mắt sáng lên, lập tức nghĩ ra cách, liền cười rộ, bảo: “Chẳng sợ vận không tới, chỉ sợ giờ mới tới!” Lập tức, hắn bảo Tiểu Phượng trông xe rồi cùng Tôn Đại Ma Tử xắn quần, vén áo, đạp bùn lầy lên núi bắt đầy một bao tải ếch rồi mới quay về, tìm lối đi tiếp đến thành Linh Châu.
Đám ba người trông vừa thê lương vừa sợ hãi, đói nuốt lương khô, khát vục nước suối, lẫn tránh mãi mới tới được bên ngoài thành Linh Châu, tìm đến một cái miếu thổ địa vắng lạng để nghỉ chân. Trước tiên, Trương Tiểu Biện đến gần cổng thành do thám tình hình, xem có vào thành được không. Linh Châu là một tòa thành hết sức to lớn, binh nhiều lương đủ, nằm ở nơi trọng yếu của cả đường thủy lẫn đường bộ, các tầng lớp sĩ nông công thương tập trung đông đảo. Bên trong thành là cả một thế giới phồn hoa, đúng là nơi cá, rồng vùng vẫy biến hóa, là đất mà các binh gia xưa nay quyết giành cho được. Trong thành phòng thủ hết sức kiên cố, trong thành có hai lớp tường thành, bốn cửa đều dựng pháo đài, xây địch lâu kiên cố. Khi ấy, trên mặt thành cung trương, kiếm tuốt, phòng bị rất nghiêm mật.
Từ khi Việt khấu đến xâm phạm đã có ý đánh tòa thành này. Chúng tụ tập xung quanh thành tạo thành thế hợp vây, đường giao thông thủy bộ đều bị cắt đứt, các nhà buôn bán và dân chạy loạn đều phải tránh vào trong thành, không chạy xa được. Hai hôm trước, quân thủ thành đã đánh bại đợt vây công của Việt khấu, liệu chừng quân giặc mới thua, quân chủ lực lại thiếu lương thảo tiếp tế, trong thời gian ngắn chắc chưa thể quay lại, bởi thế nhân lúc thanh thiên bạch nhật, thành Linh Châu mới mở nửa cổng cho dân chúng ra vào, chỉ có điều các cổng đều cắt quan Bả tổng đốc thúc lính dõng khám xét kĩ lưỡng mọi người ra vào thành. Song, chẳng rõ vì sao, khám người vào thành đã đi một nhẽ, đằng này đến người ra ngoài thành cũng bị lính canh cửa lục soát từ đầu tới chân.
Trương Tiểu Biện nấp ở ngoài thành nhìn trộm, trong lòng đã có tình toán, ước đoán rằng có thể trà trộn vào thành, liền vội vã quay về tìm Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng, đem cương thi mĩ nhân lấm bùn be bét và hơn một trăm con ếch nhét vào cùng một bao tải, rồi đẩy lên xe lừa. Cả ba lấm lét trà trộn vào đám tiểu thương, chầm chậm tiến về phía cổng thành.
Tôn Đại Ma Tử và Trương Tiểu Biện đều là kẻ to gan lớn mật, chuyện này là đã quyết tâm là làm cho bằng được, cứ coi chuyện sống chết nhẹ như lông hồng là xong. Chỉ riêng Tiểu Phượng non gan, càng đến gần cổng thành chân càng mềm nhũn ra, nghĩ bụng: “Mang một cái xác triều trước vào thành, ngộ nhỡ trong đám lính dõng có đứa tinh mắt phát hiện ra, chắc hẳn sẽ bị bắt ngay tại trận. Mình là con gái chưa chồng, không hiểu biết gì, làm sao chịu nổi sự giày vò, lục vấn của bọn công sai?”
Rồi ả lại nghĩ: “Mà huống hồ nếu bị giả đến công đường tra khảo, không biết cung khai thế nào, việc này rõ ràng là chủ ý của thằng quỷ Trương Tam, có trời mới biết nó tính đủ trăm mưu ngàn kế mang cái cương thi này vào thành để làm gì... ” Cô ả càng nghĩ càng sợ, bước chân đi cũng chẳng vững nữa.
Đã là phúc thì không phải họa, đã là họa thì tránh cũng không được, lúc ấy muốn quay lại thì cũng đã muộn mất rồi. Bao tải lùng nhùng chất trên xe lừa van ba người đầu bù tóc rối đã khiến cho đám lính dõng giữ thành chú ý từ lâu. Viên đội trưởng dữ dằn như một tên hung thần nắm chặt yêu đao, hùng hổ chỉ mặt quát: “Ba người chúng mày dừng lại cho lão gia, định vào thành làm gì? Trong bao tải có cái gì?”
Trương Tiểu Biện thấy thế thầm kêu khổ: “Chuyến này đúng là bị con tiện nữ nhà Vương quả phụ hại chết rồi.” May là trong cái khó ló cái khôn, hắn bạo gan giữ chặt cẳng tay của Tiểu Phượng, làm bộ ngờ ngệch, vái chào mấy tên lính dõng đang đi tới rồi nói: “Các vị quan gia vất vả quá, bọn tiểu nhân xin thỉnh an! Bọn chúng tôi đều là dân sống ở vùng Úng Trủng sơn, hôm qua nhân trên núi mưa lớn, bắt được nhiều ếch, đúng lúc đó chị của tiểu nhân bị trúng gió, giờ bệnh đã trầm trọng lắm rồi khó mà sống nổi, nên muốn đem ít ếch tươi vào thành đổi chút tiền bạc, tìm đến thầy lang bắt mạch, bốc vài thang thuốc, xin trưởng quan cho đi qua.”
Nói xong, Trương Tiểu Biện ngấm ngầm bóp mạnh vào tay của Tiểu Phượng. Cô ả đang hồn xiêu phách lạc, mặt mũi xanh lét, toàn thân run rẩy, trán đổ mồ hôi, cánh tay lại bị bóp đau, không kìm được phải cắn chặt môi, mặt nhăn nhó, quả đúng triệu chứng của người bị bệnh, dáng dấp tiều tụy.
Đám lính dõng giữ thành nhìn ngó trên dưới, thăm dò bọn Trương Tiểu Biện một hồi, thấy cả ba chừng mười sáu, mười bảy tuổi, áo quần lam lũ, giống như bọn ăn xin, chứ không như bọn thám tử của Việt khấu cử đến. Chúng liền giơ tay ấn ấn vào bao tải, rút dao rạch ra xem, thấy mùi hôi tanh xộc lên mũi, bên trong toàn là những con ếch còn sống.
Trương Tiểu Biện chỉ lo chúng khám một lúc nữa sẽ lộ chân tướng, liền ngầm nháy mắt với Tôn Đại Ma Tử. Gã họ Tôn tuy thật thà nhưng không hẳn ngốc, cũng biết lúc này không phải chuyện chơi, vội tóm một con ếch to mập, hôi thối, đang dở sống dở chết, dâng lên một tên quan: “Trưởng quan lão gia giết giặc vất vả, ăn một con ếch cho bổ thận tráng dương, khí huyết trên dưới lưu thông... ”
Tên đội trưởng vốn là người trong Bát Kỳ lập tức bịt mũi xua tay: “Bọn nô tài thối tha, không biết tốt xấu gì cả, ai thèm mấy con cóc thối của chúng bay. Coi chừng! Làm bẩn quan phục của cha chúng mày thì bay mất đầu. Đừng lằng nhằng làm tắt đường nữa! Mau cút đi... ” Nói xong, hắn đá một cái vào mông Trương Tiểu Biện, chửi: “Lằng nhằng!”, rồi cho cả ba đi vào, không thèm để ý nữa, tiếp tục cùng thủ hạ tra xét nhưng người dân đang ra vào thành.
Ba người bọn Trương Tiểu Biện như cá lọt lưới, vội vã trà trộn vào trong thành. Sau trận đại chiến, trên nhà dân, trên tường thành đầy vết đạn, có thể thấy sự ác liệt của trấn đánh mới rồi, nhưng người dân vẫn phải tiếp tục duy trì kế sinh nhai nên quá nửa các cửa hàng vẫn mở cửa bình thường, trên phố người qua lại nhộn nhịp.
Trương Tiểu Biện sợ trong thành nhiều người nhòm ngó làm hỏng đại sự, không dám đi vào chỗ đông, chỉ lần theo những ngõ nhỏ vắng vẻ. Qua mấy đường ngang ngõ tắt quanh co, cả bọn lạc vào một ngõ cụt, phía trước là một bức tường cao chắn lại, hai bên không có cửa nẻo của nhà dân, lối đi rất chật hẹp, xe lừa không thể xoay sở được. Ba người vừa sợ vừa mệt, đành tạm ngồi nghỉ chân trong ngõ.
Tôn Đại Ma Tử định hỏi Trương Tiểu Biện mại hiểm mang cái xác vào thành rốt cuộc là để làm gì, chưa kịp mở mồm thì thấy hai bên đầu tường chớp lên những bóng đen. Gã những tưởng là bọn trộm đang băng tường tháo chạy, vội siết nắm đấm đứng bật dậy. Vừa định thần nhìn, toàn thân gã đã toát mồ hôi lạnh: “Chẳng lẽ lọt vào ngõ mèo rồi sao? Đâu ra mà lắm mèo thế?”
Thì ra, trên đầu tường, trong góc ngõ, không hiểu sao xuất hiện mấy trăm con mèo hoang, con nào con nấy gầy guộc, xương xẩu, chớp chớp đôi mắt mèo nhìn như nuốt lấy bọn Trương Tiểu Biện. Không rõ chúng đang có âm mưu gì mà thần sắc lộ rõ vẻ ác ý.
Lời tác giả: Thành Linh Châu là một tòa thành cổ đã có lịch sử nghìn năm. Từ đời Đường tới nay, ở đây sản sinh ra rất nhiều mèo, nên còn có tên gọi khác là “Miêu Nhi thành”. Trong thành có rất nhiều mèo hoang, lang thang khắp đầu đường cuối ngõ, ước tính hàng vạn con. Tới nay, trong thành vẫn còn một tòa Miêu từ rất thiêng, vì vậy, tuy bọn mèo hoang thường hay ăn vụng cá thịt nhưng người dân bản xứ không ai dám đắc tội với đám ông mèo, bà mèo đó.
Trương Tiểu Biện thấy thế nguy, vội vã hạ giọng gọi Tôn Đại Ma Tử van Tiểu Phượng: “Mau đem xác chết trong bao ra cho mèo ăn đi!” Hai người kia nghe thấy thế, lặng người đi, ấm ức: “Khổ cực mãi mới lén mang được cương thi mỹ nhân này vào trong thành Linh Châu, dọc đường gặp biết bao nhiêu nguy hiểm, bao nhiêu kinh hãi, rốt cuộc lại mang cho lũ mèo giặc này ăn ư?”
Có lời rằng: “Lượng cả, phúc cũng lớn; Kế thâm, họa cũng sâu.” Rốt cuộc, Lâm Trung Lão Quỷ bảo Trương Tiểu Biện vào thành Linh Châu để làm gì, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:24 pm; sửa lần 2.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:12 pm



Quyển thứ hai: Nhà Ma Hòe Viên
Hồi thứ nhất: Kim Ngọc Nô



Nói đến đoạn bọn Trương Tiểu Biện ba người chẳng biết trời cao đất dày đem cương thi mỹ nhân trà trộn vào thành Linh Châu, kết quả là vừa vào thành đã bị lạc vào một ngõ cụt trong mê cung đường ngang ngõ cắt. Không ngờ lối ngõ cũ u ám vắng người này chính là địa bàn của đàn mèo hoang. Trong phút chốc cả ba người bị đàn mèo vây chặt. Chớ xem thường một hai con mèo không dọa được ai, nhưng một khi chúng đã tụ tập thành bầy, nhao nhao đến như ong thì quả thực khiến người ta sợ hãi.
Thành Linh Châu hay còn gọi là Miêu Nhi thành này, sản sinh nhiều nhất là mèo khoang. Gọi chúng là mèo khoang không có nghĩa lông trên người chúng rực rỡ đủ màu, mà những con chỉ có hai màu lông đen trắng hoặc vàng trắng pha tạp cũng đều thuộc giống này. Thảng như có những con mèo thuần một mèo lông thì chắc chắc đều từ ngoài thành vào cả, mèo gốc Linh Châu không bao giờ như vậy.
Chuyện này người địa phương ai ai cũng biết, Trương Tiểu BIện đã nhiều lần vào thành Linh Châu nên cũng hiểu được phần nào. Hắn biết đây chính là ngõ MIêu Nhi, ngõ của bầy mèo hoang trong thành. Bức tường cao chắn lối phía trước kia, chắc hẳn là tường hậu của ngôi Miêu Tiên từ nổi tiếng linh thiêng trog truyền thuyết. Người dân quanh vùng không cúng tiên cáo, tiên cầy gì chỉ thích vào trong miếu cầu xin tiên mèo phù hộ, ban phúc, lộc, thọ, gặp phải chuyện lớn chuyện nhỏ đều đến ngôi miếu này cầu nguyện, cũng là do phong tục bản xứ mà ra, nên thường có ngày mang thịt, bánh bao ném vào sau miếu cho mèo ăn, coi như làm việc thiện. Đám hòa thượng và đạo sĩ trong thành Linh Châu cũng không được người dân trọng vọng bằng dám mèo hoang.
Lâu dần, nhưungx con mèo ăn vụng, mèo lười vô chủ trong toàn thành đều tề tựu xung quanh Miếu Tiên từ. Buổi sáng chúng nằm ngủ phơi nắng, tỉnh dậyt hì ăn cá thịt do bọn thiện nam tín nữ cúng dường. Bọn mèo này được dám ngu dân nuông chiều thành quen, để rồi trogn toàn thành chẳng còn con mèo khoang nào chịu bắt chuột ban đêm nữa. Bởi thế, ngoài mèo ra, thành LInh Châu còn nhiều chuột hơn. Dịch chuột đã sắp thành thảm họa đến nơi.
Thói thường có thịnh ắt có suy, mấy năm gần đây, thiên tai địch họa liên miên, lòng người bất an, phong tục dần bị lãng quên, hầu hết dân chúng đều không đủ cơm áo mặc, chạy ăn từng bữa, chẳng mấy ai còn quan tâm đến việc cung phụng cho lũ mèo ông, mèo bà này. Hương khói trong đền miếu, đạo quán đều ảm đảm chưa từng thấy.
Khổ cho lũ mèo lười nhác háu ăn, trong ngôi đèn cổ này, con anof con nấy đói đến vàng mắt, nằm bẹp trên xà, trên tường kêu ‘meo, meo’ thảm thiết, khó khăn lắm mới thấy ba người kéo cỗ xe lừa vào trong ngõ, chúng liền tưởng là tín chủ đến dâng hương cúng tế. Theo thói thường, lát nữa ắt sẽ có vật lễ tung ra, để bọn đồ tử, đồ tôn của Miêu Tiên gia nhà chúng được một bữa no nê.
Chẳng biết tại sao ba người nọ cư ngơ ngác, vào đây đã lâu rồi mà cứ ngồi trơ không nhuc nhích, cũng chẳng bày bánh trái thịt thà ra. Đám mèo bực lắm rồi, lòng như lửa đốt, mồm miệng nhỏ nước dãi, bèn sấn đến gần cỗ xe lừa mỗi lúc một gần hơn.
Trong lòng Trương Tiểu Biện xoay xở rất nhanh, dã mau chóng tìm ra cách. Thấy bầy mèo tỏ vẻ không lành, lại nhớ đến truyền thuyết từng nghe được trong thành, hắn đã hiểu tám chín phần sự thể. Bọn mèo phàm ăn này đến đòi ăn uống đây mà! Lúc này nếu không xua chúng đi, một khi để làm ầm lên, ắt sẽ kinh động đến đám lính dõng đi tuần thì cả ba bọn người giấu cái xác chết mang vào thành dù không bị quan phủ nghi là gián điệp của Việt khấu thì cũng bị coi là đạo tặc đào trộm mộ. Tới lúc bị giải tới chốn nha môn tra khảo thì Trương Tam gia ta dẫu có mọc thêm một trăm cái miệng cũng không biện bach nổi.
Trong đầu nảy ra một ý, hắn ngay lập tức nhớ đến đám ếch béo trong bao gai, vội gọi Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng. Hắn vốn định bảo: Mau đem ếch trên xa cho mèo ăn! Nào ngờ trong đầu mải nghĩ tới cương thi mỹ nhân có thể đổi lấy nửa đòi sau phú quý giàu sang, cuống quá thành nói nhầm: Mau lôi cương thi ra cho mèo ăn!
Tôn ĐẠi M Tử và Tiểu Phượng vẫn đinh ninh phải đem cương thi cho mèo ăn. Thịt cương thi gọi là “mãn hương”, nghe đâu cũng có người ăn nhưng chưa ngeh nói mèo ăn được, hơn nữa, cả bọn vất vả cực khổ mãi mới đem được vào trong thành, đều là nghe theo lời khua môi múa mép của Trương Tiểu Biện, chứ thực sự chẳng hiểu rốt cuộc hắn muốn giở trò gì, nhất thời bấn loạn, đứng ngây ra không biết nên làm gì cho phải.
Thấy hai người kia đờ ra không làm gì, Trương Tiểu Biện cuống lên vội bật dậy, Tam gia ta lại phải đích thân động thủ vậy. Hắn nhảy phắt lên xe mở bao tải, ném vung những con ếch béo đang bị nhồi đến dở sống dở chết ra khắp ngõ. Bầy mèo ngửi thấy mùi tanh, lập túc sang mắt, nhe nanh, kêo “ngao, ngao”, xông tới vồ bọn ếch, cắn xé.
Nhân lúc đàn mèo đánh chén lũ ếch, Trương Tiểu Biện lại bỏ cái bao cương thi vào bao tải, bảo Tôn ĐẠi Ma Tử vác lên vai, kéo tay Tiểu Phượng chuồn khỏi ngõ, cả cỗ xe cũng bỏ lại luôn. Cả bọn sợ giẫm phỉa những con mèo đang vục mặt ăn ếch, đành phải nhón từng bước, nép vào tường àm đi. Mới đi được vài bước, chợt thấy con mèo khoang có đủ màu lông pha sắc vàng, trắng, chạy ra khỏi dám mèo, ngồi im trên mặt đất không nhúc nhích, chăm chú nhìn vào cả bọn ba người.
Bọn Trương Tiểu Biện thấy cổ quái, bất giác chú ý tới con mèo nọ, chỉ thấy nó không giống mèo hoang tầm thường, tuổi tác cũng không già lắm, da bóng lông mượt, đôi mắt nhoang nhoáng, rất có thần thái, từ cử chỉ đến khí độ đều ung dung phi phàm, xem ra đây chính là thủ lĩnh của bầy mèo hoang.
Trương Tiểu Biện chợt nhớ lại thuật xem mèo đoán chó, liền quan sát kỹ một lượt. Con mèo này hai tai tròn trịa, khác hẳn mèo thường, có lẽ là giống mèo “Kim Ngọc Nô” được chép trong thư tịch cổ, đốm vàng thì như vàng ròng, đốm trắng thì như bạch ngọc. Từ đời Hán đến nay, đã là một loại mèo quý hiếm trên thế gian. hắn ta người nghèo chí ngắn, không khỏi nảy sinh tà niệm, bụng bảo dạ:” Nếu đem con Kim Ngọc Nô này bán ở Kinh thành, chắc hẳn có nhiều bối lặc, vương gia biết người biết của, thích chơi mèo, có khi cũng được…”
Trương Tiểu Biện đương lúc nảy ra ý nghĩa đen tối thì chợt thấy con Kim Ngọc Nô đột nhiên ngẩng đầu, nheo nheo mắt, nhếch mép mỉm cười với ba người. Nụ cười đó khiến bọn Trương Tiểu Biện ba hồn bảy vía lên mấy. Từ xưa tới nay, khắp gầm trời này không có mèo nào biết cười bao giờ. Ai mà gặp phải một con mèo biết cười, thì đúng là gặp phải yêu quái rồi.
Trương Tiểu Biện thấy nụ cười của con mèo hết sức quái dị, lập tức nhớ lại tình cảnh đếm mèo trong cổ mộ Kim QUan lúc trước, trong lòng giật nảy lên một cái, không dám tiếp tục nhìn con Kim Ngọc Nô nữa, hai chân chạy như bay ra khỏi lối ngõ hẹp như làn khói
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng cũng đều hoảng sợ, chạy theo sau Trương Tiểu Biện. ba người chạy qua một lối ngõ khác, đến một góc phố có người qua lại mới dám dừng lại thở hổn hển, trong lòng còn chău hết kinh hoàng, mãi chẳng nói lên lời.
Tôn Đại MA Tử bỏ cương thi mỹ nhân trên vai xuống đất,thở hổn hển giây lát, rồi hỏi Trương Tiểu Biện:”Ma mị thật! Mỗ đây lớn chừng này rồi, ngày thường thấy vô số mèo nuôi, mèo hoang những chưa từng thấy con mèo nào biết cười cả, nghe nói mèo không cười được là vì mặt mèo không có sợi gân cười. Con mèo chúng ta vừa thấy lúc nãy, nhất định là yêu quái trong miếu cổ, phải mời pháp sư thực thụ mới được, tránh để lâu ngày sẽ gieo hoạ cho bách tính vô tội.
Tiểu Phượng lại nói:” Có lẽ là Miêu từ đã lâu không có hương khói, nay chúng ta đai bầy mèo hoang một bữa ếch to, khiến chúng không chịu đói nữa, Miêu tiên gia thấy vui lòng nên mới hiển linh như vậy. Tiểu Tam ngươi bảo có đúng không?”
Trương Tiểu Biện đáp:” hai người chưa trải sự đời, biết gì mà nói chứ? Tuy rằng mèo có ở khắp nơi trên thế gian này, những kẻ tầm thường tưởng đã quá quen thuộc, những thực chất lại không biết hết ngóc ngách về chúng. Tam gia ta nói ra không phải để dạo hai người, chẳng những mèo biết cười mà sau lưng chúng ta chúng còn biết nói nữa. Dẫu là mèo trắng, mèo đen, hay mèo khoang thì đều biết nói tiếng người, có điều đó là việc cấm kị nên chúng không dám cất lời đấy thôi, chỉ khi nào không có tai mắt con người chúng mới lên tiếng”
Tiểu Phượng và Tôn Đại Ma Tử đều lắc đầu không tin:” Chú đang nói về vẹt chứ đâu phải về người. Ai thấy mèo thốt lên tiếng người bao giờ?”
Trương Tiểu Biện ra vẻ thần bí, hạ giọng nói:” Có một phép lạ thời cổ có thể ép con mèo nói được. Đầu tiên bắt một con mèo đực, vào lúc trăng tròn thì xích nó trước gương…”
Tôn Đại Ma Tử là người thẳng thắn, chuyện gì chưa thấy thì đều cho là nói xằng, liền không đợi Trương Tiểu Biện nói xong, gã đã hết kiên nhẫn, nằng nặng hỏi lý do hắn đem cái thây vào thành làm gì, để đến nỗi cả bọn phải chịu bao nhiêu điều sợ hãi, nếu không nói thí thật hơi có thiếu trượng nghĩa.
Trương Tiểu Biện bị cật vấn gắt gao thầm tính tạm thời chưa thê giãi bày đầu đuôi câu chuyện, chỉ còn cách nói tình nói lý cho họ hiểu. hăn cũng học hai năm ở trường làng, nói nửa văn vẻ nửa quê mùa, cộng thêm cái mồm lanh lợi, kể lể bịp bợm một hồi thành ra thấu tình đạp lý , khiến Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vừa nghe vừa gật đầu lia lịa.
Chỉ nghe Trương Tiểu Biện thuận miệng ba hoa:” Trời không sinh ra người không có lộc, đất không sinh ra cỏ không có rễ, các người thấy trong thành bao nhiêu kẻ mặc lụa là gấm vóc không, chúng cũng như chúng ta mà thôi. Ta chả kém gì chúng, thế mà chúng ăn mo mặc ấm, còn chúng ta thì tan cửa nát nhà, nghèo tới mức áo không đủ che thân, người không một đồng cắc? tổ tiên của hai người ra sao thì ta không rõ, nhưng tổ tiên nhà họ Trương tab a đời không có con trai phạm pháp, sáu đời không có con gái tái hôn, toàn là người chuyên làm việc thiện tích đức. Chẳng lẽ truyền đến đời Trương tam gia ta lại phải cả ngày nhịn đói nhịn khát, đi đến đâu cũng bị người đời khinh rẻ, như thế lẽ nào ông trời kia không có mắt? Hoàn toàn không phải như vậy, có câu rằng:” Người hiền bị người hà hiếp chứ trời không hà hiếp”, có một vị thần tiên sẵn lòng cứu bần tế khổ, muốn đauw chúng ta khỏi bể khổ mà được vinh hoa phú quý, chính vì vậy, khi ở trong mộ cổ đã mách bảo Tam gia ta con đường kiếm ra tiền trăm bạc vạn. KHông rõ các ngươi đã từng nghe qua câu này chưa:” Mệnh do trời định sẵn, việc bởi người làm nên”. Cảnh giàu sang, cả đời ăn tiêu không hết, làm gì có chuyện ngồi mát mà có được bát vàng? Nhất định phải trải qua nguy hiểm, vượt qua phong ba, chứ nếu không trên đời này làm gì có kẻ nghèo nữa”
Trương Tiểu Biện lại kể lời dặn của Lâm Trung Lão Quỷ, cắt đầu cắt đuôi đi một chút, rằng việc chuyển thi thể vào trong thành là để mang đến một cửa hàng lâu đời có tên là “ Tùng Hạc đường”. Nếu tìm đến đúng chỗ thì núi vàng núi bạc chẳng mấy mà hiện ra trước mắt. Song Tùng Hạc đường buôn bán cái gì và nằm ở chỗ nào trong thành thì hoàn toàn không biết.
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng dường như đã tỉnh ngộ, ba người vội tìm một chỗ kín đáo để bàn bạc, đoán rằng cương thi mỹ nhân là một món cổ vật trong Ứng Trủng sơn, tùng Hạc đường là một cử hiệu chuyên buôn bán cổ vật, chỉ nghe cái tên không thôi cũng đã thấy cổ kính rồi, chắc hẳn là như vậy, khốn nốn lại không biết cái tiệm ấy nằm ở phố lớn nào nữa.
Đường ở mồm, cả bọn chia nhua đi thăm dò, chẳng ngờ khi nghe hỏi về cửa hàng đồ cổ Tùng Hạc đường thì người trong thành đều lắc đầu không biết. “thời bình gom đồ cổ, lúc loạn tích tiền vàng”, bây giờ là lúc giặc cướp trong thiên hạ nổi lên như ong, trừ thành Bắc Kinh ra thì làm gì còn nơi nào buôn bán đồ cổ nữa chứ? Các cửa hiệu đồ cổ trước kia, nay đều đã đóng cửa cả rồi. Cuối cùng chỉ có duy nhất một vị hòa thượng trụ trì một ngôi chùa lẻ trong thành mới bảo bọn Trương Tiểu Biện rằng:’ Trong thành Linh CHâu không có cửa hiệu đồ cổ Tùng Hạc đường, nhưng lại có một hiệu bán thuốc tên là Tùng Hạc đường, nằm ở đường Thanh Thạch phía bắc thành, mặt đường toàn lát đá xanh. Hiệu ấy lớn nhất phố, chỉ cần đi khỏi đây mấy trăm bước sẽ thấy biển hiệu của nó, rất nổi bật dễ tìm”
Bọn ba người Trương Tiểu Biện ngẩn tò te nhìn nhau, hóa ra lúc trước đoán sai, xem ra tám phần mười đúng là cái hiệu thuốc Tùng Hạc đường đó rồi, chẳng lẽ hiệu thuốc mua cái xác về phối làm thuốc ư? Như vậy món làm ăn này phạm phải điều cấm kị rồi, nghĩ thế cả ba khó tránh khỏi cảm giác thắc thỏm không yên, song lại nghĩ, cứ đến đó rồi mới biết, cùng lắm thì co chân bỏ chạy là xong.
Quyết ý như thế, cả bọn vòng qua một ngõ nhỏ tránh đám lính dõng tuần thành, tìm đến phố Thanh Thách, quả nhiên thấy một hiệu thuốc to, từ xa đã ngửi thấy mùi thảo dược tỏa ra nức mũi. Trước cửa hiệu có treo một biển lớn đề ba chữ rồng bay phượng múa:” Tùng Hạc đường”, bên trong sảnh có tấm hoành phi cổ:” Huyền hồ tế thế”( Treo bầu thuốc cứu đời), mấy tầng lầu gác trập trùng trông đến là hoành tráng.
Cổng lớn hiệu thuốc mở rộng, nội đường, ngoại đường đều được quét dọn tinh tươm, người ra người vào không ngớt. Tầng một là nơi bốc thuốc, bày hàng loạt tủ thuốc cao ngất, sơn then bóng loáng, ngoài hai người chánh phó đứng quầy thuốc, còn có bọn người làm, học việc chạy qua chạy lại nhộn nhịp. Phía trước tấm bình phong lớn kê ở nhà ngang bày một bộ bàn ghế, một thày lang đầu râu tóc bạc, chuyên chẩn mạch kê đơn đáng bách mạch cho bệnh nhân.
Trương Tiểu Biện thấy hiệu thuốc đông người, nào dám tùy tiện bước vào, liền nấp ở một góc phố chờ tới lúc cửa nẻo lên đèn, trông thấy Tùng Hạc đường bắt đầu đóng cửa, gần đó lại không có bóng quan binh, hắn mới để Tiểu Phượng ở ngoài đợi, rồi cùng Tôn Đại Ma Tử bê cương thi mỹ nhân, rỏa nước đến trước cửa.
Tên người làm trong Tùng Hạc đường đương lúc bận bịu, thấy hia kẻ áo quần lam lũ đột nhiên chạy vào, tưởng là ăn xin, liền trừng mắt lên, cầm ngược cái chổi lông gà định đánh đuổi bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử ra khỏi cửa.
Trương Tiểu Biện vội vã vái chào, bịa chuyện:” Chúng tôi đến bán dược thảo quý hiếm, có món hàng này mong trưởng quầy ghé mắt một chút.”
Nào ngờ tên người làm này là một đứa học việc quen cậy thế làm càn, trong mắt có coi hai kẻ rách rưới như Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ra gì. Hắn trổ cán chổi vào mặt cả hai, mắng:” Hai thằng ranh không có mắt các ngươi từ đâu đến? Sao dám lằng nhằng trước cửa Tùng Hạc đường. Ông đây cũng có món hàng đây này, để ông cho chúng bay xem trước!” Nói xong hắn hằn học vụt nhầu cái chổi lông gà xuống
Ngày thường, Tôn Đại Ma Tử rất hao trò đánh côn, múa quyền, dẫu sao cũng có vìa ngón võ, lại thêm huyết khí phương cương, làm sao chịu để hắn đánh cho. Gã giơ tay nắm chặt lấy cổ tay tên nọ, sừng sộ quát:” Mỗ đến bán thuốc, không phải pường đạo tặc trèo tường khoét vách. Chưa rõ đầu đuôi ngọn ngành sao ngươi dám đánh? Phải cho nhà ngươi biết nắm đấm của mỗ đây lợi hại thế nào…”
Tên người làm bị Tôn Đại Ma Tử bóp chặt cổ tay, đau quá, kêu rống lên như lợn bị chọc tiết làm kinh động mọi người trong cửa hiệu, ngay tắp lự có mấy người cầm then cửa, chổi tre, ghế dài định xông vào giúp. Trương Tiểu Biện kêu lên:” Khổ quá, Diêm Vương dễ cáu, tiểu quỷ khó dây, chưa trông thấy trưởng quầy đây đã bị bắt, lần này chắc bị giải đến công đường đánh chết thôi, không hiểu con nha đầu Tiểu Phượng có lòng tốt đến nhặt thi thể của hai bọn ta không”.
Tôn Đại Ma tử nóng máu lắm rồi, đang xuống tấn lấy thế chuản bị nghênh chiến, chẳng ngờ, đúng lúc ấy, tiếng huyên náo đã kinh động đến Thiết trưởng quầy của Từng Hạc đường.
Lời của tác giả: Lão Thiết chưởng quầy này là tên gian thương nổi tiếng keo kiệt ở đất Linh Châu, một đồng một cắc cũng không dám tiêu, tiền vào như nước nhưng tiền ra nhỏ giọt. Nếu có ai đó đòi lấy hơn của Thiết chưởng quầy một đồng thì chẳng khác nào rút gân của lão, người này bẩm sinh có cặp mắt gà chọi thế nên còn có hiệu là “Thiết Công Kê” (gà trống sắt).
Thiết Công Kê xưa này vẫn ngấm ngầm cấu kết vưois quan lại. Lão là kẻ tiểu nhân tham lam, chỉ chăm chăm mưu lợi, tìm trăm phương ngàn kế khiến các hiệu thuốc trong thành phải đóng cửa, thành ra tới giờ, các cửa hiệu kinh doanh dược thảo lớn nhỏ ở Linh Châu đều mang họ Thiết, lại nhân lcus thiên tai địch họa, ôn dịch tràn lan, lão bán thuốc thu lợi rất nhiều. Cuộc sống người dân thường đã như chỉ mành trao chuông, bệnh nhẹ thì cắn răng chịu đựng, những người đến đây kê đơn bốc thuốc đều là những con bệnh nặng chờ cứu mạng, đành phải bấm bụng để Thiết CÔng KÊ hét giá cắt cổ. Biết bao người nghèo đã phải bán trẻ đợ con vì mấy cái đơn thuốc của lão.
Càng là những con buôn khắc bạc, keo bẩn như vậy, thì càng đặt mục tiêu trục lợi lên hàng đầu, lão nghe ngoài cửa ồn ào, liền ra hỏi, mới hay có hai người muốn đến bán thảo dược quý hiếm những bọn người làm thấy họ rách rưới tưởng là tụi rỗi hơi đến phá đám. Thiết Công Kê vốn định tỏ vẻ ta đây, mặt mày lạnh lùng, nghe đến bốn chữv “dược thảo quý hiếm”, lập tức đảo cặp mắt gà nhìn nhìn chằm chằm vào cái bao tải trên lưng Trương Tiểu Biện vén môi cười gian xảo.
Mặc dù cái bao gai bẩn thỉu y như đống bùn, nhưng bên trong thì lùng bùng, như đang chứa một vật gì đó. Thiết Công Kê vốn là kẻ tay trắng làm nên, hồi trước phát tài cũng là nhờ tình cờ có được mấy cử sâm già đã thành hình. Lão biết rằng, bọn miền ngược tuy nghèo khổ nhưng thường xuyên vào rừng sâu núi thẳm mưu sinh, cơ hội đào được các thứ kì hoa dị thảo không phải là không có, riêng điểm này thì không thể nhìn bề ngoài mà xét đoán được. Chẳng cần biết thứ hai đưa nhỏ này muốn bán là thuốc thật hay giả, cứ mãng ra xem cũng chẳng mất gì. Nhược bằng, chúng là bọn lừa đảo thì sẽ hô người đánh đập cũng không muộn.
Nghĩ như thế, Thiết Công Kê liền quát bọn giúp việc dừng tay, cười khùng khục một cách cổ quái rồi sai người mời Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào nội đường nói chuyện.
Thiết Công Kê dẫn theo lão thủ quỹ tâm phúc, đưa bọn Trương tiểu Biện vào bên trong, lệnh cho đám người còn lại ở ngoài canh gác, đoạn vào trong đóng cửa lại rồi ngồi xuống, cũng chẳng mời trà nước gì, chỉ liếc nhìn vào cái bao tải to rồi nói với Trương Tiểu Biện:” Còn đứng trơ ra đấy? Có gì muốn bán thì mang ra xem nào!”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử tuy trống ngực đập thình thịch nhưng lúc này đã chẳng còn đường lui, đành cố tỏ vẻ cứng cỏi mở bao gai, để lộ ra một cái xác nữ trần truồng không hàm dưới và nói:” Mời ông xem qua…”
Lão thủ quỹ đứng gần bao tải nhất, vốn mắt kém, lúc đầu nhìn không rõ, ngạc nhiên thốt lên:” Củ nhân sâm lớn quá”, rồi vội đeo kính lão vào, rướn người lại gần xem cho kĩ, vừa nhìn một cái, lão đã sợ tới mức đánh rơi cả kính:” Cha mẹ ơi, là…là cường thi” rồi kêu lên:” Nhất định đào trong mộ cổ ra rồi, tởm quá! Chưởng quầy! tôi sẽ báo bọn người làm đem dây trói hai tên tặc tử đào trộm mộ này, giải đến nha môn xét xử!”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy đại sự đã hỏng, định quay người phá cửa mà chạy, nhưng Thiết Công Kê không kinh hoàng như lão thủ quỹ mà ngược lại, thần sắc trên khuôn mặt lão biến đổi liên tục, đột nhiên đứng lê lật hẳn bao tải ra, ngắm nghía từ trên xuống dưới thể trạng và dung mạo của cái xác. Con người lão tuy tiểu nhân gian xảo những rất thông hiểu y lý, dược lý, nhớ nhiều bài thuốc cổ, cũng là một kẻ biết nhìn hàng hóa. Lão xem xong, gật đầu nói:” Đây là Mỹ nhân vu của đời trước. hai ngươi phải nói thật, có được cái này từ đâu?”
Trương Tiểu Biện nào biết cái gì là Mỹ nhân vu, đành nói được là đào được ở vườn sau nhà, cũng không biết lai lịch thế nào. Có người học rộng trong làng bảo đây là một vị thuốc quý nên mới lặn lội mang vào thành, nghe có hiệu Tùng Hạc đường nổi tiếng đã lâu, tiếng lành đồn xa, già trẻ đều trọng…”
Không đợi Trương Tiểu Biện nói hết câu, Thiết Công Kê “hừ” một tiếng, rồi cười nhạt, mắng:” Nói năng lung tung! Xung Quanh ứng trủng sơn đều là đất chó ăn đá, gà ăn sỏi, ngoài mấy ngôi mộ ra thì còn thứ thuốc gì trân quý nữa? Đây rõ ràng là xác chết của triều đại trước. Có điều, mặc dù là vật quý xưa nay nhưng chỉ e chả đáng mấy đồng. trong thành Linh Châu này, ngoài tar a chẳng có người thứ hai biết hàng nữa đâu. Các người đã tìm đến đây âu cũng là một cơ duyên, cho nên ta cũng chẳng che giấu gì nữa, những việc khác thôi không bàn, chỉ mặc cả với các ngươi một cái gái hợp lý. Thuận mua vừa bán rồi sẽ bảo các người biết lai lịch của vật này…
Tôn Đại Ma Tử tưởng Thiết CÔng Kê chịu trả một món tiền lớn, trong lòng vui mừng, chửng để ý nghe lão phát giá đã tỏ ý ưng thuận ngay. Lúc đó, trong đầu Trương Tiểu Biện chợt loé lên, nhớ đến lời Lâm Trung Lão Quỷ:” Mang cái xác này đến Tùng Hạc đường, cho dù hắn phát giá bao nhiêu cũng không đồng ý, đừng tham món lợi nhỏ, chỉ cần đòi con mèo đen ở hậu viên Tùng Hạc đường là được. Nếu không có con mèo đó thì núi vàng, núi bạc chôn giấu trong thành Linh CHâu sẽ không tìm được đâu. Con mèo đen nuôi ở Tùng Hạc đường chính là chìa khoá mở ra kho báu ở thành Linh Châu đấy”
Đúng là:” Sống chết có số; Phú quý nhưof trời; Huyền cơ ngầm ẩn; Chỉ trong vài lời; Tin hay không tin; Tự quyết mà thôi”. Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:25 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:12 pm
1234568


Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:26 pm; sửa lần 2.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:14 pm


HỒI THỨ HAI: Mỹ nhân Vu


Lại nói, Tôn Đại Ma Tử đang định phát giá tại chỗ, bán phắt cỗ cương thi cho lão Thiết Công Kê, chưởng quầy hiệu thuốc Tùng Hạc đường, liền bị Trương Tiểu Biện ngăn lại không cho gã mở miệng đòi tiền.
Trương Tiểu Biện cười hì hì, bảo với Thiết Công Kê: “Vị huynh đệ mặt mụn nhà tôi vốn là người hay bông đùa, chưởng quầy chớ nên tưởng là thật. Bọn tiểu nhân ai nấy đều biết Tùng Hạc đường hành nghề y dược, gieo nghĩa cử cứu giúp người nghèo, hôm nay may mắn có được vật quý Mỹ…Mỹ…Mỹ nhân vu, có ý định đưa vật về với chủ, đáng lẽ ra, nên hai tay dâng lên, chứ nào dám đòi tiền của chưởng quầy”.
Thiết Công Kê là kẻ cực kỳ keo bẩn, xưa nay chưa từng dễ dãi cho ai một đồng, một cắc. Lão đang tính cách giết hại cả hai để cướp trắng pho Mỹ nhân vu này, chứ chẳng định trả đồng nào hết. Lúc đó, nghe Trương Tiểu Biện nói không cần tiền bạc, lão hết sức ngạc nhiên. Lão lấy bụng ta suy ra bụng người, nên càng nghĩ càng không hiểu nỗi, thầm nghĩ, trong gầm trời này làm gì có cuộc mua bán nào không cần tiền, đã không phát giá lấy tiền thì nhất định có môt âm mưu khác.
Trương Tiểu Biện nói: “Chưởng quầy quả nhiên liệu sự như thần, xưa nay thuận mua vừa bán, không cướp không hàng hóa bao giờ, nhưng chúng tiểu nhân dẫu mặt dày đến mấy cũng không nỡ lòng nào thò tay lấy tiền bạc của ông, chỉ to gan xin đổi lấy một vật trong quý phủ”.
Thiết Công Kê nhíu mày, hằn học nhìn chằm chặp vào Trương Tiểu Biện, nói: “Muốn tiền, muốn vật thì có khác gì nhau? Các người đừng vòng vo với bản chưởng quầy, có gì thì nói thẳng, còn muốn đánh rắm thì ra ngoài mà đánh, muốn cái gì thì nói rõ ra”.
Mấy lời ba hoa bốc phét Trương Tiểu Biện không cần nghĩ ngợi là đã có ngay, tức khắc dựng lên một câu chuyện, rằng ở vùng Úng Trủng sơn hiện đang có nạn chuột hoành hành, bẫy chuột, bã chuột đều không thể trị được những bọn cứng cổ đó. Bây giờ đang lúc chiến tranh, bà con đều ăn không đủ no, chỉ có một ít lương thực dự trữ, cả ngày chỉ lo chuột đến đục khoét, khổ sở khôn xiết.
Từ xưa đến nay, mèo vốn là thiên địch của chuột, ngưới ta thường nuôi mèo để đuổi chuột, nhưng mèo trong cái thành lẫn phương viên mấy trăm dặm này toàn là mèo khoang Linh Châu, chùng nhờ phúc ấm của Miêu Tiên Gia, quen thói ăn trắng mặc trơn, chẳng bao giờ chịu bắt chuột.
Trương Tiêu Biên nói, được biết ở hậu viện của Tùng Hạc đường có một con mèo đen tuyền như phủ môt lớp than mịn, thần thái phi phàm, bắt chuột cả ngày không biết mệt, ngạn ngữ có câu: “Chó khôn canh ba hộ, mèo giỏi giữ ba nhà”, bọn mèo khoang sản sinh ở bản địa tuyệt đối không thể so bì với con mèo đen này được. Huynh muội ba người bọn họ quyết tâm trừ diệt nạn chuột trong làng, nên mới liều chết mang Mỹ nhân vu vào thành để đổi lấy con mèo đen đó mang về.
Nguyên trong nhà của Thiết Công Kê mấy năm nay bị chuột hoành hành dữ dội, đúng là có nuôi một con mèo đen. Vốn lão định nuôi mèo để bắt chuột, nào ngờ con mèo đó chỉ thích vồ chim sẻ, ngày nào cũng trèo cây leo xà để phá tổ chim, xưa nay không hề để ý đến lũ chuột đang tung hoành dưới bếp, gặp phải chuột thì nó cũng cứ lờ đi như không trông thấy.
Con mèo đen ấy nhiều khi khiến Thiết Công Kê tức tới trợn trắng cả đôi mắt gà chọi. Về sau lão được một thuật sĩ biết xem tướng mèo bảo cho, mới biết rằng con mèo đen này từ hai mắt đến chót đuôi đều ẩn một đường kim tuyến, dưới ánh trăng sao mới nhìn thấy được, trong “Miêu phổ” gọi là con “Nguyệt Ảnh ô đồng kim tuyến miêu”. Chính vì có đường kim tuyến liền mạch như thế, con mèo đen này không phải là mèo đen tuyền mà thực chất là một con mèo khoang hai màu chính tông của Linh Châu.
Từ khi biết được điều này, Thiết Công Kê đã sớm có ý vứt con mèo đen vô dụng đó đi. Bây giờ thấy Trương Tiểu Biện muốn đổi Mỹ nhân vu lấy mèo, lão thở phào nhẹ nhõm, không phải dốc hầu bao thì Thiết chưởng quầy sung sướng gì bằng? Chỉ sợ Trương Tiểu Biện hối hận đổi ý, lão liền lập khế ước, sai thủ quỹ ra đằng sau nhà ôm con mèo đen ra đổi.
Tôn Đai Ma Tử thấy thế, cuống lên đến nỗi gân xanh trên trán giần giật, gã vội nắm vai trái Trương Tiểu Biện, nói: “Lão tam hồ đồ thế? Có câu: Gái ngoan không nuôi chó, trai ngoan chớ dưỡng mèo. Đàn ông con trai mà nuôi mèo trông nó ẻo lả đi, đàn bà con gái mà nuôi chó thì mất đi vẻ hiền thục. Sao chúng ta lại bỏ tiền ngay thóc thật trước mắt để đổi lấy một con mèo đen trong hiệu thuốc làm gì?”.
Tuy nhiên trong lúc này, tất cả đường gân thớ thịt trong người Trương Tiểu Biện đều tập trung vào con mèo đen ở hậu viện Tùng Hạc đường, cho rằng muốn trở nên đại phú đại quý cần phải nhẫn nhịn lúc này, hoàn toàn không hề nôn nóng giống như Tôn Đại Ma Tử. Khi ấy, lòng hắn cứng rắn như thép, đừng nói Tôn Đại Ma Tử, dẫu cho Quan Thế Âm Bồ Tát giáng trần cũng chẳng thể khuyên hắn nghĩ lại được.
Lúc đó lão thủ quỹ đã ôm con mèo đen ở hậu viện ra, Trương Tiểu Biện vội đưa mắt nhìn. Thấy con mèo đen nhỏ tuy trông có vẻ lười nhác uể oải, nhưng nếu dung phương pháp xem tướng mèo cao minh để quan sát, tự nhiên sẽ nhận ra sự xuất chúng của nó.
Con mèo có gì xuất chúng? Có lời khen làm chứng như sau: “Rồng đen vào mắt, chỉ vàng xuyên; Mây tối bọc mình tựa nhuộm then. Vuốt sắt có phen móc lật ngói; Quật đuôi bảy đốt gió dâng lên”. Đây đúng là một con “Kim tuyến miêu” rất hiếm có trong đám mèo khoang ở thành Linh Châu.
Trương Tiểu Biện nén nỗi vui mừng như phát điên trong lòng, đón lấy con mèo đen từ tay lão thủ quỹ, giở nghề xem tướng mèo, xoắn tai mèo, kéo đuôi mèo, nắn gân cốt, xem vòm miệng. Hắn mê muội cả đầu óc, cho rằng có được con mèo này thì bao nhiêu kho báu chôn ở thành Linh Châu sẽ về tay hắn, nhưng không dám lộ sơ hở trước mặt Thiết Công Kê, chỉ mở mồm cảm ơn rối rít, giả vờ như phải mang ngay con mèo về làng bắt chuột, rồi nói mấy câu từ biệt ra về.
Thiết Công Kê thấy không tốn chút tiền bạc nào mà đổi mèo đen lấy Mỹ nhân vu, quả là một việc đáng vui mừng. Lão định bụng để Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử về làng tìm thêm vài món hàng như thế này rồi mang trộm vào thành, nên không vội tiễn khách mà cất tiếng gọi người chắt một bình “cao mạt” mang ra khoản đãi và kể cho cả hai nghe về lai lịch của Mỹ nhân vu.
Nghe kể, ai nấy đều kinh hãi, các bạn có biết vì sao không? Thì ra, Mỹ nhân vu là vật của triều trước, không phải thứ có ở đời nay. Triều trước tức là triều Minh. Từ đời Hồng Vũ Hoàng đế khai quốc trở đi, đã từng một độ quốc thái dân an, bốn bề thanh bình, nhưng tới những năm cuối đời Minh, nhà họ Chu khí số sắp hết, chính sự bế tắc, không dung hiền thần, bọn gian thần hoạn quan thừa cơ nắm quyền hành.
Bọn hoạn quan trong triều thả sứa hút máu mỡ của nhân dân. Bọn người này vốn không thể sinh con đẻ cái, phải chịu cảnh vô hậu, nên lối hưởng thụ hết sức khác người, bệnh hoạn. Để thỏa mãn nhu cầu tinh thần biến thái của bản thân, chúng nghĩ ra rất nhiều phương thức hưởng lạc xa hoa, dâm dục vô độ, trong đó có Mỹ nhân vu.
Thế nào là Mỹ nhân vu? Nghe tên là đoán ra nghĩa, tức là dùng người sống làm thành cái ống nhổ đờm. Mua nữ nô tỳ về, chọn lấy một người trẻ đẹp, cả ngày bắt quỳ trong phòng, mỗi khi thấy chủ nhân ho khạc, người đẹp phải lập tức hé mở đôi môi hồng xinh xắn, đón lấy bãi đờm chủ nhân nhổ ra rồi bấm bụng nuốt vào. Thế gọi là Mỹ nhân vu.
Vào thời ấy, quan lại quý tộc đều đua nhau học theo, nhà ai càng giàu có, thế lực thì càng phải có Mỹ nhân vu. “Mỹ nhân vu” càng xinh đẹp bao nhiêu càng thể hiện thân phận cao quý của chủ nhân. Phong khí này kéo dài mãi tới khi cánh Yêm đảng thất thế mới dần dần bị phế bỏ.
Thiết Công Kê tuy nhân phẩm thấp kém nhưng rất hiểu biết phương vật của các triều đại. Lão biết rằng trong Úng Trủng sơn có mộ táng của triều trước và đã bị bọn đào trộm mộ khai quật vào hồi cuối Minh đầu Thanh. Lão thấy Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vác đến một cái xác nữ, hình thái hết sức kỳ dị, quỳ gối ngửa cổ, không có hàm dưới, liệu chừng trước khi chết dùng vật sắt rạch ra nên mới thế, lão liền đoán rằng, đây là Mỹ nhân vu được bồi táng theo mộ.
Mấy năm nay, Thiết Công Kê tìm trăm phương ngàn kế thu thập các tử thi ngậm hờn mà chết, giờ thấy Mỹ nhân vu thì như mèo thấy mỡ, nhưng lão không hề có ý dùng thịt cương thi chế làm thuốc, mà cũng giống như Trương Tiểu Biện, trong lòng lão có sẵn mưu đồ đen tối riêng. Ngoài mặt, lão mở cửa hàng thuốc nhưng bên trong ngấm ngầm làm rất nhiều việc bí mật khác không để người ngoài biết, làm sao có thể dễ dàng dốc hết gan ruột của mình ra được? Lão nói đến đó liền giấu giếm không kể tiếp nữa, chỉ bảo hai người rằng: “Kỳ thực, Mỹ nhân vu là một cái xác cổ từ triều trước, Hình luật đã cấm không cho quật lên hay làm tổn hại nó. Bách tính tầm thường có nó cũng vô dụng. nhưng bản chưởng quầy hiểu được phương cổ, sẽ dùng thịt nó để chế thuốc cứu người, lại cam tâm tình nguyện thay các ngươi gánh chịu mối họa tày trời này. Các ngươi phải nhớ giữ mồm giữ miệng không được tiết lộ nửa lời, bằng không sẽ phải lằng nhằng với quan phủ đấy.”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử rốt cuộc đã hiểu Mỹ nhân vu là cái gì, sợ đến nổi da gà, chỉ muốn nôn mửa, những lời Thiết Công Kê nói lúc sau đều ngơ ngơ ngẩn ngẩn, nghe chẳng để tâm.
Thiết Công Kê lại nói nhỏ to một hồi, chỉ vòng vo nhai đi nhai lại mấy ý đó. Trương Tiểu Biện cũng chỉ ứng tiếng qua loa vài câu. Hắn đã có được con mèo đen Linh Châu thì không muốn nấn ná ở lại Tùng Hạc đường nữa, liền ôm mèo từ biệt. Trước khi đi, hắn còn quay lại hỏi thăm Thiết Công Kê một chuyện nữa: “Nghe nói trong thành Linh Châu trước kia, có một vị quý nhân họ Lâu. Trong phủ nhà họ Lâu có trồng rất nhiều cây hòe nên còn được gọi là Hòe viên. Từ khi nhà họ Lâu lụn bại, Hòe viên trở nên hoang phế, tiểu nhân muốn hỏi thăm tòa phủ đệ đó hiện bây giờ còn hay mất?”
Thiết Công Kê nghe thế thì thoáng ngẩn người: “Hậu nhân họ Lâu nghèo rớt mùng tơi, sớm phải đem cơ nghiệp tổ tiên bán đi. Hiện giờ, Hòe viên là tài sản của Thiết gia ta. Bọn khố rách áo ôm các ngươi hỏi thăm làm gì?”
Trương Tiểu Biện chỉ nhớ lời dặn của Lâm Trung Lão Quỷ, đầu tiên đem xác chết ở Úng Trủng sơn đổi mèo, sau đó đến Hòe viên để tìm báu vật chứ chưa từng nghĩ đến việc Hòe viên của Lâu gia đã đổi chủ. Hắn chợt nảy ra một ý, liền nương theo lời Thiết Công Kê đáp luôn: “Trời sắp tối mịt đến nơi, cửa thành cũng đã đóng lại, trong thành lại giới nghiêm rất ngặt, bọn tiểu nhân không có người thân thích ở đây, định mượn tạm nơi miếu nát nhà hoang nào đó ngủ tạm một đêm, đợi trời sáng rồi về. Nghe mọi người nói có tòa Hòe viên đổ nát mới nảy ý định đến đó, không ngờ lại là sản nghiệp của Thiết chưởng quầy.”
Hòe viên là một khu nhà cổ, đình đài nhà cửa bố trí rất ư điển nhã, bên trong có nhiều đá cảnh, suối nước, hoa cỏ điểm xuyết cho nhà vườn, rất nổi tiếng trong vùng. Thiết Công Kê đã nhắm Hòe viên từ mấy năm trước, giở trò cưỡng đoạt được, chẳng ngờ trong khu nhà ấy lại có ma, người sống không ở được, đành bỏ hoang cả cơ ngơi to lớn đó cho tới giờ.
Thiết Công Kê lúc nào cũng muốm chiếm phần lợi lộc về mình. Lão đảo đảo tròng mắt, nghĩ bụng, khu Hòe viên đó bỏ không thì cũng đã bỏ không rồi, mấy năm nay đến bọn gõ mõ cầm canh cũng không dám đi ngang qua đó chứ đừng nói đến chuyện sang nhượng được cho thằng xúi quẩy nào. Chi bằng cứ để bọn Trương Tiểu Biện nhà quê lên tỉnh này vào đó ở một đêm, nếu chúng mạng xấu không chết thì tiếng đồn xấu về khu nhà ma tự nhiên cũng không còn nữa. Vạn nhất ma quỷ lấy mạng chúng thì chẳng qua cũng chỉ là một vụ án không đầu không mối. Trong cái thời buổi loạn lạc này, chết mấy đứa cung khổ cũng chẳng phải việc gì to tát. Quyết ý như thế, lão liến ra vẻ rộng lượng lấy ra một chùm chìa khóa quăng lên mặt bàn, nói: “Các cổng thành đã đóng hết rồi, những nơi miếu hoang đền hoang, buổi tối thường có lính dõng đi tuần, nếu gặp phải dân tránh nạn hay ăn mày, đa phấn bọn lính ấy bất luận tốt xấu đều bắt hết lại, trước tiên cứ coi như là gian tế mà nghiêm minh tra khảo một phen, sau đó nhẹ thì tống vào đại lao, nặng thì đánh chết ngay tại chỗ. Thành Linh Châu này lớn thì lớn thật nhưng chẳng có mấy chỗ để qua đêm đâu. Khu Hòe viên phía Nam thành của họ Thiết nhà ta là khu nhà hoang không người ở, bên trong chẳng có gì đáng giá, có điều cả năm không ai quét dọn nên có chỗ… có chỗ không được sạch sẽ lắm, nếu các ngươi không chê thì có thể ở lại đó qua đêm cũng được.”
Trương Tiểu Biện nghe thấy thế vội vã nhặt chùm chìa khóa lên, nói: “Không chê, không chê, bọn chúng tôi xưa nay chưa hề phạm pháp. Trong đêm tối, nếu vô duyên vô cớ bị quan binh bắt vào ngục, chắc những người dân an phận thủ thường như chúng tôi sẽ bị giết oan, chỉ e đến chết cũng không sao gỡ được mối oan khuất tày trời đó.”
Hắn tỏ vẻ cảm ơn Thiết Công Kê nhưng cười thầm trong bụng: “Cứ tưởng Thiết Công Kê ngươi gian như giống ranh, hôm nay lại trở thành bàn đạp cho Trương Tam gia ta giàu sang phú quý, đúng là nhất cử lưỡng tiện, đã thế ông ôm con mèo đem vào Hòe viên tìm kho báu luôn.”
Trương Tiểu Biện tuy tính toán khéo nhưng rốt cuộc không có tài tiên tri. Nếu giờ có người biết trước điều gì sẽ xảy ra trong Hòe viên, nhất định sẽ ôm chặt không cho đi, liều chết ngăn lại. hắn không đi còn không được, chứ đi lần này nhất định sẽ gây ra một tay họa tày trời, khiến cho thành Linh Châu máu chảy thành sông, ngoài thành sẽ mọc thêm vô số những nấm mồ mới.
Muốn biết tình hình cụ thể trong nhà ma Hòe viên ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:27 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:15 pm


HỒI THỨ BA: Dật sự đền tiên


Lại nói, trên đời này, vạn vật đổi dời, hưng vong xoay chuyển, biển xanh cũng có thể biến thành ruộng dâu, đời con người ta rốt cuộc giàu sang hay nghèo khổ thật khó mà nói trước. Chính vì vậy, thường có rất nhiều người lòng tham không đáy, luôn mong chờ có được sự giàu sang phú quý mà không biết rằng, trong gầm trời này người tốt cũng phải chịu cảnh nghèo đói lầm than. Chi bằng an phận thủ thường, tùy duyên mà sống, tìm lấy sự yên tĩnh, bình an là hơn.
Trương Tiểu Biện rốt lại thì kiến thức kém cỏi, chỉ thích làm những việc dễ dàng. Hắn nóng lòng phát tài, thấy đổi được con mèo đen của hiệu thuốc tự cho là đắc thể, nghĩ là sắp đạt được tới đích, chỉ mong mau chóng đến Hòe viên tìm của, chẳng thèm quan tâm đó là nhà ma nhà quỷ gì. Hắn cầm chìa khóa trong tay, cảm tạ Thiết Công Kê đã cho tá túc, lại lấy cớ không còn sớm sủa nữa, cùng Tôn Đại Ma Tử vội vã cáo từ ra về.
Thành Linh Châu về đêm nghiêm cấm người dân ra ngoài. Phố lớn ngõ nhỏ đều có từng tốp quan binh lính dõng rầm rập tuần tra. Lúc bấy giờ quân thủ thành đang thiếu, các nhà, các hộ đều phải cắt cử trai tráng ra giúp. Thiết gia có một người lão bộc bị điều động làm lính già chuyên cầm canh gõ mõ báo giờ. Người này hiểu rõ đường lối trong thành, có thể giúp tránh khỏi lính tuần sát. Sau khi được Thiết chưởng quầy dặn dò, lão dẫn bọn Trương Tiểu Biện đi đến Hòe viên.
Tạm thời không nói Thiết Công Kê sẽ xử lý cái cương thi đó như thế nào, riêng bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử sau khi ôm con mèo đen ra ngoài tìm Tiểu Phượng rồi cả ba vội vàng theo người lính già , luồn qua ngõ phố trong bóng đêm. Trương Tiểu Biện mồm mép trơn như mỡ, tán phét vài câu, bắt thân với người lính già nọ, thăm dò và biết được, người lính già lấy họ Thiết của chủ nhân, tên là Trung, từ ông tổ tám đời đã là người bản địa LInh Châu.
Lão hán Thiết Trung chừng năm mươi tuổi, lời nói và tướng mạo đều không có gì xuất chúng, xem ra chỉ là một lão bộc già trung hậu mà thôi. Lão mặc một cái áo cộc cũ nát có đánh số, tay xách ngọn đèn lồng, đeo thanh la và mõ phèng, vừa đi vừa hô: “Bình an vô sự đơi…ơi…Cẩn thận củi lửa đơi…ơi…”
Mấy người đi vào một ngõ nhỏ tối om om, thấy đã gần đến nơi, Thiết Trung đột nhiên ngừng lại, nói với bọn ba người Trương Tiểu Biện: “Không phải ta dọa các người đâu, nhưng trong thành Linh Châu này chẳng ai không rõ, trong Hòe viên đúng là có ma quỷ ẩn hiện, hại chết không biết bao nhiêu mạng người rồi. Hàng phố bốn bên đều sợ tòa nhà ma này nên đã chuyển đi hết. Cả dãy phố này, ngoài chuột và mèo hoang thì chẳng còn sinh vật nào nữa đâu. Đến lúc tối đêm, ngay cả đám lính dõng tuần tra cũng không dám đi ngang qua đây. Lão hán ta nói một câu khó nghe thế này, bọn hậu sinh các ngươi đêm nay nhỡ ra gặp ma, chết trong Hòe viên, chắc còn khó tìm được người đi nhặt xác. Nếu nghe lời khuyên thật lòng của ta thì nhân lúc này hãy còn sớm, mau tìm chỗ khác mà tạm trú qua đêm đi.”
Trương Tiểu Biện chẳng hề để tâm, vốn không để lời của lão hán lọt vào tai, nghĩ thầm, Tam gia ta có biệt hiệu “Trương to gan”, chẳng phải chỉ là hư danh tự dưng mà có được đâu. Mấy năm ở miếu hoang đền nát, chẳng lẽ sợ một chỗ nhà vườn trong thành ư? Nghĩ đoạn, hắn liền nói với lão Thiết Trung rằng: “Cảm tạ lão nhân gia có lòng chỉ bảo, nhưng trong lúc nửa đêm canh khuya này, trong thành còn có chỗ nào chứa chấp được bọn tiểu nhân nữa? Tiểu nhân Trương Tam cũng chỉ là một kẻ cùng đinh, quỷ thần còn chẳng thèm lấy mạng, vì vậy gan to mật lớn, mấy cái bọn yêu ma tép riu, tiểu nhân không hề sợ sệt gì đâu.”
Tôn Đai Ma Tử rất khoái nghe những câu khoác lác kiểu anh hùng hào kiệt, liền tiếp lời luôn: “Người sợ ma ba phần, ma sợ người bảy phần, chúng tôi đều là đại trượng phu, khí nuốt bốn bề, xưa nay đi thì ngay, ngồi thì thẳng, trong lòng sẵn có đám lược. nếu trên đời này thực sự có loài yêu quỷ, theo lý chúng phải sợ chúng tôi mới phải.”
Từ lúc vào thành tới giờ, Tiểu Phượng luôn run rẩy sợ hãi, nhưng cô ả nhà quê cũng không hiểu biết gì, đến gặp người lạ cũng khó mở miệng nói chuyện. Cô ả thấy một dãy phố, nhà cửa chẳng có chút tăm hơi tiếng người, hơn nữa lại còn tối đen kìn kịt không có lấy một đốm lửa, càng thêm khiếp sợ, đang định khuyên mọi người đừng vào trong căn nhà ma, bỗng nghe trên mái nhà phía sau cất lên tiếng mèo kêu: “Meooo”, nghe sởn cả da gà, kinh hãi suýt ngã bệt xuống đất, may mà lão hán Thiết Trung đỡ được.
Trương Tiểu Biện nghiêng ngó thăm dò, trong đêm đen khó biết được tung tích con mèo hoang, chỉ thấy đường lối, nhà cửa xung quanh có chút quen thuộc, chợt nhớ ra nơi đây rất gần ngõ Miêu Nhi đã đi qua hồi sáng.
Lão Thiết Trung bảo Tiểu Phương: “Chớ có sợ, mèo hoang trong thành rất đông, đặc biệt là khu xung quanh Miêu Tiên từ này. Các ngươi gan lớn tày trời dám qua đêm trong nhà ma, tuyệt đối không phải chuyện giỡn chơi đâu. Ta chỉ là một gã gõ mõ cầm canh, chẳng nói được đạo lý gì ra hồn, chắc không khuyên bảo được các ngươi, nhưng đúng lúc đi qua chỗ này, thì cũng nên vào đền rập đầu trước Miêu Tiên gia vài cái, may ra lão nhân gia phù hộ cho các ngươi được một đêm bình an.”
Đất Linh Châu có tục thờ Miêu Tiên gia, bọn Trương Tiểu Biện ba người hết sức tin theo, đồng thời, cũng là lấy thêm chút can đảm nên đồng thanh khen hay, thuận lối đi vào ngôi đền cổ. bệ thờ trong sảnh có môt pho tương thần bằng đất, áo xanh, râu dài, ánh mắt từ bi, giống như một nhà Nho bụng đầy chữ nghĩa. Nhìn thần vị thì chẳng phải ai khác, chính thị là Miêu Tiên gia đã nhiều lần hiển linh ở đất này.
Bọn Trương Tiểu Biện tuy nghe danh Miêu Tiên gia đã lâu nhưng không biết xuất xứ lai lịch của di tích cổ này, cũng chưa lần nào vào miếu thắp hương, xưa nay vẫn tưởng vị đại tiên nọ là con mèo già đắc đạo. Lúc này nhìn rõ, không khỏi lấy làm ngạc nhiên, nhưng không dám báng bổ, vội cung kính quỳ xuống rập đầu, khấn khứa trước thần vị rằng: “Bọn tiểu nhân là các thiện nam tín nữ, xin đại tiên gia nhất thiết phải phù hộ cho chúng đệ tử gặp hung hóa cát, gặp hiểm hóa lành. Từ nay về sau nếu được mở mặt, có thể có được một chút phú quý nhất định sẽ không quên mua một ít cá muối, bánh bao để bố thí cho mèo hoang trong miếu. Nhược bằng Miêu Tiên gia khai ân, phù hộ cho chúng đệ tử được đại phú đại quý thì nguyện tô tượng kim thân, xây chùa, dựng tháp cho lão nhân gia. Chúng con lòng thành, mong tiên gia hiển linh chứng cho.”
Lễ bái Miêu Tiên gia đâu đấy, Trương Tiểu Biện thấy hơi lạ, định hỏi cho rõ ngọn nguồn, liền thăm dò lão hán Thiết Trung: “Bọn tiểu nhân mới nghe nói Miêu Tiên là thần trong thành Linh Châu, chứ không rõ sự tích đắc đạo của đại tiên gia, rốt cuộc không biết ngài vốn xuất thân từ đâu? Chuyện bắt đầu và kết thúc thế nào?”.
Lão Thiết Trung từ nhỏ đã tin Miêu Tiên như tin Phật Tổ, Bồ Tát, thấy bọn Trương Tiểu Biện không biết lai lịch của đại tiên, liền trách móc: “Các ngươi là đồ ngu muội lưu manh chỉ giỏi những chuyện đâu đâu, van vái trong đền một hồi mà ngay cả chuyện về Miêu Tiên lão nhân gia cũng không biết rõ?”
Mắng rồi, lão kể: Tương truyền chuyện xảy ra cách đây đã mấy trăm năm, hồi đó Linh Châu đã nổi tiếng nhiều mèo rồi. ngoài thành có một ngôi chùa cổ tên là Bỉ Lôi tự, xây dựng từ thời Nam Bắc triều, nhiều lần bị binh lửa phá hủy, nhưng rồi lại được trùng tu, quy mô ngôi chùa càng về sau càng lớn. Trong chùa đời nào cũng có cao tăng trụ trì, hương lửa rất thịnh vượng.
Từng có một vị cao tăng pháp hiệu là Đàm Chân. Lão hòa thượng này sống hơn trăm tuổi, tuy tuổi tác cao nhưng thông hiểu Phật lý thiền cơ, biết được việc quá khứ, vị lai, khi giảng kinh thuyết pháp thì lời lẽ ảo diệu vô biên, từng câu từng chữ như nảy hoa sen. Trên có quan lại phú hào, dưới có nông dân bách tính đều coi ngài là Phật sống trong Bỉ Lôi tự. Đàm Chân lão hòa thượng không màng việc tụng, hàng ngày ở trong chùa thắp hương, tụng kinh.
Trước cửa Bỉ Lôi tự có một cái ao phóng sinh, trăm họ trong vùng gọi là Bỉ Lôi đường. Đó là một cái đầm cổ nghìn năm nay chưa từng cạn nước. Nước xanh tĩnh lặng, dù tiết trời có nắng nóng thế nào, xung quanh Bỉ Lôi đường vẫn luôn mát rượi. Phàm những ngôi chùa lớn một chúa đều có ao phóng sinh, trong ao nuôi thả các loại cá, rùa. Ao phóng sinh, một là thể hiện đức hiếu sinh của nhà Phật, hai là trữ nước để phòng cháy, ao to hay nhỏ phụ thuộc vào quy mô của chùa. Bọn mèo lớn mèo nhỏ trong thành Linh Châu thường tới bờ ao xem cá. Mèo không biết bơi, nhìn lũ cá bơi trong ao, chúng cũng chỉ biết đứng hóng cho mát và rõ dãi thèm suông, vì vậy trước chùa Bỉ Lôi thường có nhiều mèo hoang qua lại, từ lâu sư sãi trong chùa đã coi đ1o là chuyện thường tình rồi.
Cũng bởi các vị hòa thượng trong chùa đều ăn chay nên mèo hoang chỉ lượn lờ ngoài Bỉ Lôi đường chứ rất ít khi vào chùa, chỉ riêng có một con mèo già toàn thân lở loét, mấy năm trời, đêm ngày quanh quẩn trong chùa.
Chú tiểu quét chùa sẵn lòng từ bi, thấy con mèo già ấy, liền tìm ít thảo dược chữa bệnh lở loét cho nó. Nào ngờ, thuốc không đúng bệnh, con mèo càng thêm lở loét, toát ra mùi hôi khó tả, thà không dùng thuốc còn hơn. Chú tiểu nọ từ đấy không dám chăm sóc nó nữa.
Sáng hôm đó, tại Phật đường, hòa thượng Đàm Chân giảng xong Nam Mô Diệu Pháp, gọi chú tiểu quét chùa vào, chỉ con mèo già lở loét đang nằm bẹp trên xà nhà đối diện, bảo: “Con vật này không thể để lại nữa, con hãy mở lòng lành, tìm cách giải thoát cho nó đi.” Ý tứ bảo chú tiểu tìm nơi giết con mèo già, hơn nữa còn dặn dò làm cho gọn gàng trước rạng sáng ngày hôm sau, xác mèo có thể côn trong khu rừng rậm sau núi.
Chú tiểu quét chùa giật nảy mình, nghĩ bụng, sư phụ xưa nay bản tính từ bi, tâm luôn hướng thiện, mà sao hôm nay lại như thế? Con mèo già đó tuy dơ dáy nhưng chưa từng gây ra tai họa gì, người xuất gia kỵ nhất là sát sinh, ta làm sao xuống tay được đây? Chú tiểu định hỏi cho rõ thì hòa thượng Đàm Chân đã nhắm mắt nhập định.
Lệnh thầy khó cãi, chú tiểu không dám nhiều lời trèo lên tường bắt con mèo già xuống, định bóp chết hoặc lấy gậy đánh chết nó nhưng không thể xuống tay được. Cuối cùng, nghĩ đi nghĩ lại, chú tiểu đem con mèo đến bên ao phóng sinh, định ném nó xuống nước cho chết đuối, ngần ngừ một lúc lâu cũng không dám xuống tay. Chú tiểu là người trong sáng, đến con kiến cũng không nỡ giẫm, liền nghĩ ra một cách: “Nơi cửa Phật thanh tịnh, làm sao dung việc sát sinh?”, liền ngầm đem con mèo ra ngoài chùa thả. Thấy nó đi xa, chú tiểu mới quay về phục mệnh.
Nhập định xong, hòa thượng Đàm Chân gọi chú tiểu lại Phật đường, hỏi chuyện con mèo già. Chú tiểu nói dối là đã dìm chết con mèo ở Bỉ Lôi đường. Hòa thượng Đàm Chân mắng: “Kẻ xuất gia không được nói dối, trước mặt Phật tổ mà ngươi dám mở miệng nói xằng thế ư?”
Chú tiểu sợ quá, vội khấu đầu trước tượng Phật xưng tội. Đàm Chân pháp sư nói: “Ngươi mau bắt con mèo đó về đây, trước khi trời sáng nếu không xử lý được nó, sư đồ chúng ta đều sẽ phải gánh thêm nghiệp chướng…”
Nói rồi, đại sư liền niệm bốn câu kệ rằng: “Thế gian vạn vật tàng nhân quả; Biển lớn bèo trôi cũng ngẫu nhiên; Sống chết đi về người chớ oán; Thân này khoảnh khắc sẽ tan liền.”
Muốn biết chuyện sau ra sao, đợi hạ hồi phân giải.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:28 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:16 pm
Hồi thứ tư:TRẺ CON LOẠN NHÀ



Lại nói, chú tiểu quét chùa lĩnh pháp chỉ, vội vã ra khỏi sơn môn, cứ thế đi tìm đến quá nửa đêm mới thấy con mèo già lở loét, liền ôm nó về Bỉ Lôi đường, than thở. “Đáng thương thay con nghiệt súc không biết gì! Chẳng hiểu mày đắc tội với lão thiền sư ra sao mà liên lụy đến cả tiểu tang. Hôm nay không thể không kết liễu tính mạng của mày, rồi ta sẽ tụng kinh siêu độ cho mày về Tây phương cực lạc…” Đoạn chú tiểu nghiến răng ném con mèo xuống đầm cho chết, rồi vớt xác nó đem chôn vào khu rừng rậm phía sau núi, sau đó mới quay về chùa bẩm báo với Đàm Chân trưởng lão.
Thường có câu: “Nhập môn chớ hỏi điều hay dở, cứ xem sắc mặt biết ngay liền”. Đàm Chân trưởng lão trông thần sắc của chú tiểu, hiểu rằng đã xử lý ổn thỏa. Thấy trời đã sáng rõ, hòa thượng liền hỏi chú tiểu làm thế nào giết con mèo, lúc đó trời đã sáng chưa?
Chú tiểu quét chùa phạm sát giới, trong lòng rất hoảng hốt, nhớ lại lúc dìm con mèo già, dường như trời vừa mới hửng, cửa thành còn chưa mở, đứng trước mặt Đàm Chân trưởng lão, chú tiểu không dám giấu giếm điều gì, nhất nhất kể lại hết.
Đàm Chân trưởng lão nghe xong, lòng thầm nghĩ: “Đúng là ý trời, sức người không thể cưỡng cầu cho được.” Trước đó, vì thiền cơ không thể nói cho tỏ tường, khó nói thẳng với chú tiểu chân tướng mọi sự. Thì ra nhà Phật giảng lẽ tuần hoàn nhân quả, con mèo già lở loét đó tuy bị đọa trong súc sinh đạo nhưng cũng đã có đạo hạnh. Mỗi lần tăng nhân trong chùa Bỉ Lôi thắp hương tụng kinh, tiếng mõ cá vang lên, con mèo già lại theo âm thanh mà đến, nằm phục trên xà nhà trước điện lắng nghe kinh văn.
Đàm Chân trưởng lão dùng tuệ nhãn soi xét sự vật, biết rằng con mèo này có đạo cốt, không thành Phật được, song nhà Phật coi chúng sinh thảy như quyến thuộc, nó nghe kinh đã nhiều năm, trước sau cũng kết thành thiện quả, chỉ có điều phải đầu thai thành người ở chốn nhân gian, làm nên một số việc thì mới đắc đạo được. Đúng vào đêm hôm đó, trong thành Linh Châu, có một sản phụ lâm bồn, thai nhi lại xoay ngang, tính mệnh của sản phụ chỉ còn trong phút chốc, sắp sửa một thây hai mạng đến nơi. Bà đỡ và cả thầy lang sản lúc ấy đã bó tay không còn cách nào giúp được.
Người ngoài không hiểu gì, chỉ có Đàm Chân trưởng lão biết rõ, nếu con mèo này không chết thì sản phụ kia không đẻ được, thế nên sai chú tiểu kết liễu nó, nhưng không ngờ, trời xui đất khiến thế nào lại giết nhầm giờ, chỉ còn cách trông chờ vào số mệnh của con mèo già đó ra sao mà thôi.
Sáng sớm ngày hôm đó, quả nhiên có nhà Đàm viên ngoại mừng sinh được quý tử, đặt tên là “Bách Trung”. Đàm gia là nhà có truyền thống thư hương nổi tiếng thành Linh Châu, đến đời Đàm công tử thì lại độc đinh, nghìn mẫu ruộng chỉ còn mình chàng thừa kế. Chẳng ngờ tiểu công tử từ lúc sinh ra, toàn thân lở loét, danh y khắp nơi cũng không chữa trị được. Có điều, chàng từ nhỏ đã thông minh đỉnh ngộ, sách vở chỉ cần liếc qua là nhớ cả, từ bé đã có chí đi thi đoạt bảng vàng. Nhưng hiềm nỗi học tài thi phận, dẫu trong bụng có lời văn như gấm, chữ viết đẹp như phượng múa rồng bay, chàng vẫn không có số đậu khôi nguyên, lần nào đi thi cũng hỏng, may nhờ gia sản giàu có nên đường kinh kế mới không đáng lo.
Đàm công tử có một đam mê kỳ lạ, bình sinh rất thích nuôi mèo, các cuốn Miêu kinh, Miêu phổ thường xem chẳng rời tay, lại còn bỏ ra rất nhiều tiền bạc, mời người từ lưỡng Quảng về để xem tướng mèo. Mấy lần đều thi trượt khiến chí công danh của chàng dần nguội lạnh, về sau chỉ dành hết tinh thần sức lực vào việc nuôi mèo mà thôi. Chàng phá tán hết gia sản, cả ngày chỉ chơi đùa với đàn mèo.
Ở Linh Châu có truyền thuyết từ xa xưa về mèo già biết nói tiếng người, mà Đàm công tử hễ gặp mèo là hỏi: “Ngươi có biết nói không?” Thấy một con mèo hoang đi qua mái nhà, chàng cũng phải đuổi theo hỏi: “Lang quân trên mái xin ngừng bước, người có biết nói không?” Thế nhưng bất kể mèo nhà hay mèo hoang xưa nay đều chẳng buồn nheo mắt nhìn Đàm công tử lấy một lần. Những cử chỉ quái dị ấy của chàng khiến cho đầy tớ, láng giềng đều tưởng Đàm công tử bị bệnh điên không có thuốc chữa.
Một năm nọ, Đàm công tử tản bộ ở ngoại ô, gặp một con mèo hoang bốn tai hết sức hiếm thấy đang phì phò nằm ngủ trên chạc cây. Con mèo này toàn thân nồng nặc mùi rượu, dường như vừa mới uống trộm rượu ở đâu đó về, say nằm ở đây. Đàm công tử giỏi xem tướng mèo, vừa trông thấy đã biết con mèo này hết sức phi phàm, có lẽ là mèo tiên bốn tai hóa ra chứ chẳng chơi. Chàng thấy tò mò, liền ngồi xuống gốc cây định bụng xem cho rõ ràng. Tới lúc mặt trời xế bóng, con mèo bốn tai mới tỉnh hơi men. Chẳng thèm để ý đến Đàm công tử đang ngồi dưới gốc cây, nó ngáp một hơi rồi nhảy xuống, lắc mình, rồi đủng đỉnh bỏ đi.
Đàm công tử đi theo con mèo vào sâu trong núi, đi miết mười mấy năm trời, ai cũng cho rằng chàng đã chết từ lâu. Không ngờ, Đàm công tử gặp được kỳ duyên trong núi, nhưng rốt cuộc là chàng đã gặp phải chuyện gì thì rất ít người tỏ tường. Chỉ biết rằng, khi từ trong núi trở về, chàng thường dẫn theo mình một con mèo bốn tai, thường hay gọi bầy gọi bạn, tụ tập cả bầy mèo hoang lớn đi khắp nơi huyên náo, rao bán “Miêu nhi dược”, xưng rằng chữa được bách bệnh.
Người đời đa phần đều nghĩ chàng bị điên, làm gì có ai chịu uống loại thước lẩm cẩm ấy? Nhưng cũng có vài tên hành khất ăn xin bị ốm nặng không có tiền chữa bệnh, đành dùng thử loại Miêu nhi dược của chàng, dù sao cũng còn hơn nằm chờ chết. Chẳng ai ngờ, thuốc đến bệnh đi, chàng cứ thế cứu chữa được rất nhiều chứng nan y, cứu sống vô số người bệnh, từ đó tiếng tăm nổi như cồn, gần xa đều biết tiếng.
Rồi đến một năm nọ, thành Linh Châu gặp đợt hạn hán mấy trăm năm chưa từng có, đất đai nứt nẻ, sông suối cạn khô, đến nước giếng cũng gần như hết sạch. Dân chúng trong thành phải đào giếng sâu tới mười mấy trượng mà cũng chẳng có chút hơi ẩm, trên cao vầng dương đỏ rực nóng hầm hập, lửa độc bức xuống, chẳng đếm nổi bao nhiêu người nghèo phải chết khát. Nắng nóng khiến cho các tử thi thối rữa sinh ra dịch bệnh. Từ một vùng phồn hoa giàu có, trận hạn hán đã gần như biến nơi đây thành một tòa thành chết chóc.
Quan lại, dân chúng trong toàn thành đều tụ tập ở miếu Long vương cầu mưa. Ngôi miếu này tuy thờ Long vương của khắp tứ hải ngũ hồ, song không vị nào hiển linh ban mưa xuống. Lúc ấy, Đàm công tử mới đem con mèo bốn tai đến trước miếu Long vương, nói với mọi người rằng, trong xà gỗ của tòa đại điên miếu Long vương có một con “tằm lửa” hút hết khí nước trong mạch đất, nếu không phá hủy ngôi miếu này thì hạn hán sẽ không dứt được.
Quân dân Linh Châu tuy khao khát mưa xuống nhưng đời nào dám làm chuyện báng bộ thánh thần như thế. Lời của Đàm công tử khiến đám đông nổi giận, bị họ đuổi khỏi thành. Đêm hôm đó, miếu Long vương trong thành phát hỏa, bị ngọn lửa thiêu rụi không còn mảnh ngói. Có người trông thấy mấy con mèo hoang đẩy đổ chân đèn khiến miếu bắt lửa. Dân chúng ngờ rằng do Đàm công tử sai khiến, định bắt trói chàng giải đến nha môn hỏi tội. Chẳng ngờ, bỗng nghe ầm một cái, sấm chớp nổi lên, mây đen bốn bề kéo đến, một cơn móc ngọt từ trên trời đổ xuống.
Mọi người lúc ấy mới biết trận hạn này quả là từ miếu Long vương mà ra, lúc trước đã trách lầm người tốt. Từ đó về sau, ai nấy đều coi Đàm công tử như thần tiên. Người trong thành Linh Châu bất kể già trẻ trai gái, giàu nghèo sang hèn đều tranh nhau uống Miêu nhi dược của Đàm công tử để mong khỏe mạnh, sống lâu, gia đình bình an vô sự. Ngoài việc xem bệnh bốc thuốc, có người còn đến hỏi chàng về việc họa phúc, thường quẻ bói đã gieo ra là đúng. Vài năm sau, Đàm công tử đem con mèo bốn tai rời khỏi Linh Châu đi vân du, không biết về sau thế nào.
Bách tính Linh Châu đều bảo chàng đã đắc đạo thành tiên, liền xây dựng một ngôi đền trong thành để cúng dường bọn mèo khoang Linh Châu. Từ khi được xây dựng, Miêu Tiên từ hương lửa ngày càng thịnh vượng, mấy trăm năm không dứt, thường hiển hiện nhiều việc linh dị, tục sùng bái mèo ở địa phương này cũng theo đó mà rất thịnh, vì vậy, câu chuyện này đến nay vẫn còn lưu truyền lại. Việc cũ của Miêu Tiên, thực thực hư hư, hoang đường kỳ lạ, ít thấy trên đời, nghe tuy hay nhưng vị tất đã có thực. Trong truyền thuyết có đề cập đến cả “Nho, Thích, Đạo”, tao giáo lục chúng, công là do phong khí của người dân địa phương vốn thế.
Lão Thiết Trung hết sức tin vào câu chuyện. Lão chỉ vào sau trong ngõ, nói: “Hòe viên xây dựng trên nền đất của miếu Long vương khi xưa, vốn là một khu nhà ma. Các người đương đêm vào đó phải hết sức cẩn thận, chỉ mong Miêu Tiên gia hiển linh phù hộ cho các ngươi bình an vô sự. Ta già cả nhát gan, không tiễn các ngươi thêm được nữa, chúng ta từ biệt ở đây thôi.” Nói đoạn, lão đưa cái đèn lồng cho bọn Trương Tiển Biện, rồi lụi cụi quay người bỏ đi.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều là hạng lưu manh to gan, lại có chút thủ đoạn côn đồ, trong đầu toàn nghĩ vào trong Hòe viên là phát tài to, không thèm để tâm xem Thiết Trung nói gì, dẫn theo Tiểu Phượng và con mèo đen, giơ đèn lồng rảo bước đến thẳng trước cửa Hòe viên, lấy chìa khóa mở cửa. Chỉ thấy bên trong là một khu vườn rất lớn, cửa nẻo thâm nghiêm, đình đài liền nhau, tuy không phải là tiên phủ ở trên trời nhưng kể cũng là một nhà giàu có ở nhân gian.
Trong đêm đen, Hòe viên yên lặng u ám, ba bề bốn bên không một tiếng động, chỉ thấy dưới ánh trăng sáng, mặt đất trải một màu bàng bạc, đình đền đài tạ, hoa cỏ dưới ánh trăng toát lên vẻ thê lương, lạnh lẽo. Trương Tiểu Biện vào đến nơi này, trống ngực đập thình thịch, tự nhủ Lâm Trung Lão Quỷ chỉ bảo mang con mèo đen đến nhà ma là có thể đào lên núi vàng, núi bạc, còn các chi tiết khác lại không dặn dò gì. Không rõ rốt cuộc làm cách nào để lấy được cáo kho báu kia. Chuyến đi này là lành hay dữ còn phải trông vào số vận của Trương Tam gia ta nữa.
Thấy Hòe viên có rất nhiều đình đài lầu các, hắn không biết bắt tay từ đâu, đành mở gian chính ra bước vào. Nhưng bên trong mạng nhện giăng đầy, bụi phủ khắp nơi, đúng là lâu không có người qua lại. Các đồ đạc bài trí trong phòng đã bị khiêng đi sạch từ lâu, ba người tìm một góc, quét tước, lau dọc qua loa rồi ngồi xuống, chia nhau mấy mẫu lương khô còn lại, định lót dạ trước rồi mới xem xét tiếp các nơi trong khuôn viên.
Vất vả từ sáng tới giờ, cả ba đã đói lắm rồi, lúc đó cắm cúi ăn như thuồng luồng, không ai nói với ai câu nào. Đang ăn dở được một nửa chợt nghe tiếng trẻ khóc từ sau nhà vọng ra. Tiếng khóc thê lương cứ nổi lên từng chặp, lúc gần lúc xa. Con mèo đen rất cảnh giác, vốn đang cuộn tròn trên mặt đất, vừa nghe tiếng động, lập tức động đậy đôi tai soạt một cái đứng dậy, hai mắt vằn đỏ. Điệu bộ của nó như sắp có kẻ địch lớn, toát lên vẻ sợ hãi tột độ.
Trương Tiểu Biện nghe thấy rõ ràng, lại thêm một phen kinh hoảng, hắn vừa sợ hãi vừa thấy lạ, thiếu chút nữa chết nghẹn vì miếng lương khô. Hắn trợn mắt lên, khó khắn lắm mới nuốt được xuống, thầm chửi thứ âm thanh quái quỷ trong ngôi nhà vườn hoang phế này, lấy đâu ra trẻ con khóc nhỉ?
Tiếng khóc não ruột khiến Tiểu Phượng sợ hãi, hoảng hốt nói: “Chẳng lẽ trong căn nhà ma này có tiểu yêu tác quái ư?” Trương Tiểu Biện ôm con mèo đen lên, nói với Tiểu Phượng: “Sợ gì chứ? Tương truyền mèo đen, chó trắng có thể trừ tà. Dù là quỷ dữ gặp chúng cũng phải kiêng nể vài phần. Nghe tiếng khóc vừa rồi có gì đó cổ quái, biết đâu chừng vàng bạc chôn giấu trong vườn đã thành tinh rồi cũng nên.”
Tôn Đại Ma Tử nói: “Sở dĩ thế gian này có yêu ma quỷ quái, phần nhiều là do lòng người bất bình mà ra. Cái gọi là chính thắng tà tức là nếu trong lòng không có gì khuất tất thì dẫu rằng ma quỷ có thật cũng chẳng đáng sợ gì!” Vừa nói, gã vừa nắm chặt cây gậy trong tay, lấy thêm can đảm, lần về phía tiếng khóc ở đằng sau nhà.
Sau nhà là một vùng rừng cây hoang vu, trồng hàng trăm gốc hòe, nhưng nay quá nửa đã chết khô. Những chạc cây khô lởm chởm dưới ánh trăng như những bóng ma dữ tợn. Cả một vùng toàn là những lùm cỏ dại lúp xúp, tường rêu nứt nẻ, không có lấy một tiếng giun dế. Trong không gian chết chóc ấy, chỉ có tiếng khóc trẻ con vọng lại từ trong đám cỏ cây rậm rạp, lúc gần, lúc xa.
Thời xưa từng có rất nhiều truyền thuyết kể về việc bạc chôn dưới đất hóa thành yêu tinh. Bảo rằng, trong những viện lớn phủ to của các nhà giàu quyền quý, thường có chôn giấu các hố bạc hố vàng, đề phòng đời sau con cháu phá tán hết gia sản. Nhưng bạc vàng đó chôn dưới đất quá lâu, vật già sinh biến, liền hóa thành người đi tác quái, dân gian gọi là: “Ngân phách”. Trương Tiểu Biện bị tiền bạc làm cho mê muội, đoán chắc ấy là do trong nhà ma giấu bạc, chốn vườn hoang chôn vàng, lại cho rằng tiếng khóc đó nhất định là điềm của đóng vàng bạc chôn lâu ngày, liền giơ đèn lồng, rảo bước vạch cỏ vén cây, xăm xăm đi về phía lùm hòe rậm rạp.
Tôn Đại Ma Tử cũng là kẻ thô lỗ, không biết trời cao đất dày là gì, gã ỷ mình biết mấy đường quyền cước, liền xách gậy sánh vai cùng Trương Tiểu Biện tiến đến, định bụng “gậy đánh cho nguôi cơn thịnh nộ, côn vung để trợ sức thần uy”. Nào ngờ vừa phạt đám cây khô lá úa trước mặt, liền thấy trong lùm hòe có một căn lầu gỗ hai tầng, ngói biếc cột son, chạm trổ tinh xảo, nhưng cửa sổ và cửa ra vào không còn nguyên vẹn, lộ rõ vẻ hoang phế. Tiếng trẻ con khóc đúng là vọng lại từ bên trong căn lầu này.
Ba người dừng chân trước căn lầu, nghe tiếng khóc rất gần, trong lòng hồi hộp, cả ba vừa nghi ngại vừa sợ sệt, chưa quyết định có nên xông vào bên trong xem cho rõ không thì thấy trong chỗ góc lầu tối như mực, có từng đám trắng lóa nhúc nhích, đúng chỗ ấy lại không có ánh trăng nên không rõ là vật gì.
Có câu rằng, tiền làm hoa mắt, sắc khiến rối lòng, Trương Tiểu Biện kia mấy đời nghèo đói, trong đầu chỉ biết có mỗi chữ tiền, nào biết trong căn lầu này nguy hiểm ra sao, liền cất tiếng hỏi: “Cháu chắt nhà ai chết khổ chết sở mà cứ khóc um lên mãi thế?”, đoạn giơ ngọn đèn lồng rọi về phía trước. Dưới ánh đèn, cả ba đều nhìn thấy rõ sự thể. Không thấy thì thôi, vừa mới thấy liền tức tim đập chân run, đờ ra không biết trời đất trăng sao gì nữa.
Thì ra trong căn lầu tối đen như mực ấy nào có đâu Ngân tinh, Ngân phách, chỉ có một đứa bé béo trắng đang nằm sấp, ước chừng tám chín tháng tuổi, toàn thân trần truồng không mảnh vải, trên cổ còn đem một cái khóa bạc Trường mệnh để lấy khước. Thằng bé đang khóc hu hu, âm thanh nghẹn ngào trong cổ họng, vừa thấy ánh đèn chớp lên, nó lập tức chuyển từ buồn sang vui, phá lên cười “ha ha ha” một cái quái dị, rồi bò lại phía cửa lầu nhanh như một cơn gió, thoắt cái đã đến trước mặt ba người bọn Trương Tiểu Biện.
Có câu rằng: “Họ Lâu vườn cũ có ma, hiện lên đòi mạng canh ba đêm nay.” Muốn biết bọn Trương Tiểu Biện gặp phải nguy hiểm gì trong Hòe viên, đợi hồi sau sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:29 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:24 pm


Hồi thứ năm:LẦU ĐŨA

Thường có câu: “Xưa nay người mất, hồn còn; huống chi những kẻ ngậm hờn thác oan”. Lại nói, đương lúc canh ba đêm đó, trong căn lầu côi ở Hòe viên, bò ra một đứa bé trai đầu gắn dây đỏ, cổ đeo khóa bạc, ba người bọn Trương Tiểu Biện sợ quá, trơ mắt há mồm đứng ngây tại chỗ, ba hồn bảy vía lên mây, không còn biết nên làm gì nữa.
Lúc ấy, con mèo đen như có linh cảm, đột nhiên kêu “meo, meo” mấy tiếng, đôi mắt mèo sáng rực lên trong đêm tối như đốm lửa. Đang đứng đờ đẫn, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nghe thấy tiếng mèo bên cạnh như tiếng sét ngang tai, lập tức giật mình hồi thần trở lại, nghĩ thầm, Hòe viên nhà họ Lâu đúng là một nơi nguy hiểm, nếu lúc ấy bị thằng nhỏ chết oan đó quấn vào, chỉ e cả đời này không thể ngóc đầu lên được.
Ở đất Linh Châu, tuy rằng mười dặm đã khác làng, năm dặm đã không chung tục, nhưng tục mèo đen trừ được tà ma thì đã có từ xưa, ai nấy đều biết. Trương Tiểu Biện nghĩ đến điều này, định ném con mèo đen ra ngăn lại, không làm thì thôi, đã làm thì phải dứt khoát, đây gọi là đánh trước thương lượng sau. Thế nhưng, chỉ thấy mắt hoa lên một cái, đứa trẻ trần trùng trục ấy bỗng tránh sang một bên, trong nháy mắt đã biến mất không còn tung tích. Sâu bên trong căn lầu tối đen như mực không trông thấy gì, chẳng rõ nó đã nấp vào đâu.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vừa kinh hoàng vừa thấy lạ, chẳng hiểu là sự việc quái quỷ gì đang diễn ra, chẳng lẽ nơi này có ma quỷ thật? Song cả hai đều nhất quyết cho rằng, trong Hòe viên có chôn tiền bạc châu báu, đương khi cao hứng, cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng, làm sao chịu bỏ qua? Vậy là cả hai giơ cao ngọn đèn *****g, bấm bụng vào bên trong lầu thám thính đến cùng.
Tiểu Phượng không có cái gan liều mạng đó, thấy trong lầu có ma, cô ả đã rụng rời chân tay, cộng thêm cả ngày đã chịu đựng sợ hãi, lại chưa ăn được chút gì cho ra hồn, người đã hết sức yếu nhược, lập tức ngã lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự.
Tôn Đại Ma Tử là người trượng nghĩa, thấy Tiểu Phượng ngã lăn ra bất tỉnh, vội quay lại đỡ, rối rít gọi Trương Tiểu Biện: “Tam đệ, cô ả Tiểu Phượng này sợ hãi quá ngất xỉu rồi, để mặc ở đây thì sẽ chết mất.”
Trương Tiểu Biện giậm chân chửi bới: “Mụ Vương quả phụ trốn chồng đẻ ra con giặc cái này, chuyên làm hỏng đại sự của Tam gia ta!” Nhưng, thấy Hòe viên âm u, lạnh lẽo, oán khí đầy trời, trong lòng hắn cũng không khỏi run sợ, một mình hắn thì có các vàng cũng không dám đi vào bên trong căn lầu, đành giúp Tôn Đại Ma Tử khiêng Tiểu Phượng chạy nhanh ra ngoài cổng.
Chẳng ngờ cả bọn như kiến bò chảo lửa, chạy một mạch không ngừng chân. Chỉ thấy đầy trời mây tối trăng lu, bốn phía gió âm rào rạt, trong Hòe viên hoang vu vắng lặng, cành khô lắc lư rào rạo, trong đêm khuya nghe như có vô số trẻ con nấp ở khắp nơi rền rĩ khóc. Khu vườn hoang nhà họ Lâu to lớn như thế nhưng không có nơi nào yên ổn, chỉ còn cách cướp đường chạy thẳng ra ngoài. Cả bọn trốn tới Miêu Tiên từ ở đầu đường mới dám ngừng chân.
Quá nửa đêm, trong ngôi đền cổ này thường có bầy mèo hoang tụ tập đông đúc. Bọn mèo hoang nằm trên xà, trên mái, tò mò theo dõi ba người khách không mời. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mỗi người một chân một tay đặt Tiểu Phượng lên bệ thờ phủ đầy bụi bặm, miết vào nhân trung, xoa bóp cho thông khí hoạt huyết, hì hụi một lúc mới cứu tỉnh được cô ả.
Sắc mặt Tiểu Phượng vẫn nhợt nhạt, vừa tỉnh dậy đã khóc: “Hai người bị mua đưa đường, quỷ dẫn lối hay sao? Khu nhà đó không biết đã xảy ra án mạng gì mà bao nhiêu âm hồn vẫn vất vưởng, không tan, để rồi hiện lên con ma hung ác như thế. Giờ giữ được mạng chạy ra là tốt rồi, nhất thiết chớ quay lại tìm vàng bạc châu báu làm gì.”
Tôn Đại Ma Tử nói: “Xem ra âm hồn ác quỷ là có thật, hơn nữa đứa bé đó chắc bị chết oan, chỉ e người nhà nó không biết sự tình, khiến nó đến nay cũng không siêu thoát được. Không biết chừng, bên trong có một cái án thiên cổ kỳ oan. Nếu đã để cho chúng ta nhìn thấy, nhất định là muốn chúng ta tìm ra lẽ phải trái hộ nó, làm sao có thể khoanh tay đứng nhìn được? Tiểu Phượng là đàn bà con gái, không cần phải đi vào chỗ nguy hiểm như thế, cứ ở lại đây chờ mỗ và Trương Tam đệ thăm dò một phen nữa cho rõ ngọn ngành coi sao.”
Trương Tiểu Biện tuy nhỏ hơn hai người kia một hai tuổi, nhưng xét về sự lọc lõi cơ trí, khả năng tùy cơ ứng biến thì hơn hẳn bọn đồng trang lứa, thường có những ý nghĩ tự tung tự tác mà vẫn tưởng là thông minh. Lúc ấy, hắn xem xét lại kỹ lưỡng sự tình, thấy trừ đứa bé trong căn lầu đó ra, Hòe viên dường như còn có rất nhiều tiếng ma trẻ con khóc đêm, sự việc không hề đơn giản. Nếu bảo trong nhà hoang co ma thì cũng hợp lý, nhưng trong đám hòe rậm rạp mà có nhiều trẻ chết đến như vậy thì rõ ràng có nhiều điều quái gở.
Theo lẽ thường mà nói, trẻ con loạn nhà là điềm gở, khiến nhà tan cửa nát, nhưng sự việc trong Hòe viên chắc còn nhiều khúc mắc. Từ thuở nhỏ, Trương Tiểu Biện đã theo một lão đạo sĩ đi vân du đoán quẻ, từng tai nghe mắt thấy nhiều chuyện khác thường, đồng thời hắn lại tin chắc mười mươi mình đã gặp được tiên nhân trong mộ Kim quan, đến nắm mơ cũng mơ thấy vớ được một món tiền bạc lớn trong Hòe viên này.
Linh Châu là một tòa thành cổ phồn hoa đã có lịch sử nghìn năm, từ xưa đã xuất hiện rất nhiều phú thương giàu có, xa hoa. Trong xã hội cũ, nhà giàu thường có thói quen chôn của, vì vậy có vô số truyền thuyết kể tiền chôn trong nhà cổ. Vàng bạc chôn lâu dưới đất có thể hóa thành yêu tinh, đến khi gặp được người có phúc phận, nó mới hiển linh, như thế gọi là vật về với chủ.
Nghe đồn vào những năm Vĩnh Lạc triều trước, trong thành Linh Châu cũng có một ngôi nhà hoang có ma. Một hôm mưa to gió lớn, có vị tú tài hỏng thi người ngoại tỉnh lạc đến, người này gia cảnh bần hàn, chẳng biết làm gì ngoài việc nhận viết thư thuê để mưu sinh. Một hôm trời đổ mưa to, tú tài nọ vô ý mới vào căn nhà ma ẩn trú. Tú tài mới đến đất này, tất nhiên không biết hay dở thế nào, thấy phòng ốc chỉn chu liền ở lại qua đêm.
Nào ngờ đến đêm, trong phòng bắt đầu có ma quậy phá. Ngọn nến đầu giường vô duyên vô cớ sáng lóe lên, một bầy trẻ con mặc quần áo trắng, cao không đầy một tấc xuyên qua khe cửa đi vào, gái có, trai có. Chúng tiền hô hậu ủng khiêng một cái quan tài bé tẹo, vừa gõ chiêng trống, vừa khóc lóc đi ngang qua đầu giường của vị tú tài.
Tú tài nọ thấy thế sợ đờ người ra, không rõ là quái vật gì, nằm nghiêng trên giường không dám động đậy. Bỗng thấy có một người tí hon trong đám hiếu đi đến đầu giường thì dừng chân ta hiệu cả bọn ngừng khóc. Chúng nhíu mày trợn mắt, đột nhiên xôn xao hẳn lên. Bên tai tú tài dường như nghe bọn chúng hỏi nhau: “Sao hôm nay trong phòng lại có thấy người sống nhỉ?”
Tú tài đang sợ rụng rời, bỗng thấy một người đàn bà tí hon mặc áo sô gai từ trong bọn chạy lại, tuy thân hình không tày gang nhưng hết sức xinh đẹp, thần thái kiều diễm, trang điểm tươi tắn. Nào ngờ, nó trèo lên giường, chẳng hỏi đầu đuôi gì đã lập tức chỉ vào mũi tú tài, mắng chửi toàn những lời lẽ thô tục, bẩn thỉu.
Tú tài vốn là thư sinh nhu nhược, đương không bị mắng như tát nước vào mặt nhưng cũng không dám cãi lại, chỉ cầu xin tha mạng. Bọn người lùn nọ đều xúm lại, mồm năm miệng mười chửi bới, bảo là, nơi nhà của thần tiên này đâu phải là chỗ cho bọn phàm phu tục tử mặc sức ra vào, nếu không ăn tươi nuốt sống tên này thì làm sao cho hết cơn tức.
Tú tài khổ sở van vỉ một hồi mới có kẻ cất tiếng: “Muốn sống mà về cũng không khó, có điều chủ nhân nhà chúng ta mới cưỡi hạc về trời, bây giờ đưa linh cữu tới đây, thằng khố rách áo ôm nhà ngươi mau đến trước quan tài rập đầu mấy cái, kêu khóc mấy câu nghe lọt tai. Nếu bà chủ nhà chúng ta mỉm cười tức là tha cho tính mạng, chỉ đánh cho một trận nên thân còn lại thì tạm giữ cái đầu trên cổ cho nhà ngươi.”
Tú tài thấy có đường sống, nào dám không tuân theo, lập tức đứng dậy đến trước cái quan tài bé tẹo, cung kính rập đầu, kêu: “Đại tiên gia gia”.
Bọn người lùn mặc áo sô dường như muốn gây khó dễ, lắc đầu lia lịa, nói: “Nhà ta vốn là thần tiên. Xưng hô là đại tiên tuy cũng tôn quý, nhưng nhàm quá, không mới mẻ gì.”
Tú tài chỉ sợ chúng hối lại sẽ ăn tươi nuốt sống mình, liền vội đổi giọng vái rằng: “Trước linh cữu của hiền đại vương, xin nhận của tiểu nhân một lạy.”
Đám lùn lập tức nổi giận: “Không được gọi là đại vương, đại vương không tôn quý bằng đại tiên, thằng khố rách áo ôm này dám khinh chúng tao không biết gì phải không?”
Đúng là: “Vận hết hầu khinh chủ; Số xui quỷ nạt người.” Tú tài nọ nhẫn nhục chịu chì chiết, lăng nhục mà không dám phản ứng lại nửa lời, đành van vỉ: “Liệt vị đại tiên gia thứ tội, tiểu nhân thực không nghĩ ra cách xưng hô thế nào, chẳng lẽ… chẳng lẽ gọi là Vạn tuế gia mới hợp ý?”
Đám người lùn hung ác vẫn léo nhéo không thôi, tranh nhau nói: “Vạn tuế gia là cách xưng hô với Hoàng thượng, chúng ta là hàng tiên, không thích danh hiệu của đám quân vương trần thế. Xem ra, nhà ngươi không phải là thằng mọt sách hết thuốc cứu chữa, bây giờ để chúng ta dạy bảo ngươi một phen, ngươi cứ tôn chủ nhân nhà ta là Chí Thánh Chí Hiền lão phu tử là được rồi.”
Tới lúc này, đến lượt tú tài nổi giận. Gã đọc sách nhiều tới mức hủ lậu, chẳng cần biết thời thế, trên dưới thế nào, mà chỉ biết tôn sư trọng đạo, coi sách thánh hiền quý hơn cả tính mạng của bản thân, rập đầu van xin tha mạng cũng được, nhưng bầy yêu quái mà dám vọng ngôn đòi ngang hàng với thánh hiền của đạo Nho ư? Gã nghe thấy thế, lập tức đùng đùng nổi giận, trong lòng tức tối, đứng phắt dậy, rút một chiếc giày trỏ vào mắng: “Cha tiên nhân chúng bay, dám sỉ nhục đạo Nho ta!” Vừa mắng chửi, gã vừa cầm giày vụt tới tấp vào đám yêu quái nọ, đuổi dạt cả ra, đến đứa được gọi là bà chủ cũng bị đập nát thành một đống thịt.”
Bọn lùn đưa đám thất sắc, vội vã kéo nhau chạy qua khe cửa ra ngoài. Thật là: “Cứ tưởng thật thà thì dễ dọa, đến khi họ tức, gớm chừng nào”. Vị tú tài giận lắm, như giao long gặp mưa, như hổ báo giương nanh, lao như điên đuổi theo đánh, chạy đến gian bếp thì thấy đám lùn đều chui vào khe nứt trên chum nước rồi biến mất.
Tú tài đang lúc hăng tiết, liền thuận thế đập tan chum nước, thấy ở đáy chum đã bị thủng, bên trong chẳng có vật gì nhưng liền ở dưới là một cái hố, trong hố toàn là vàng ròng. Gã quay lại gian phòng ngủ lúc nãy, thấy cũng có nhiều vàng bạc vung vãi, mới vỡ lẽ thì ra hồn phách của vàng bạc đã hóa thành yêu tinh giở trò trêu ghẹo. Gã nhớ lời Khổng Tử nói: “Vật già hóa quái”, trước đây vẫn thấy khó hiểu, giờ mới biết thì ra đúng là có chuyện như thế thật. Xem ra người xưa nói thực cấm có sai, cũng bởi mệnh gã có số giàu sang, coi như là vật gặp được chủ, cuối cùng nhờ vậy mà trở nên giàu có.
Câu chuyện này lưu truyền rộng rãi trong thành Linh Châu. Lúc ấy, Trương Tiển Biện mới kể chuyện này ra, và quả quyết, những hiện tượng quái dị trong Hòe viên quá bán là cùng một dạng như thế, có lẽ cũng đang chôn giấu một kho báu gì đó, chỉ có điều không biết là loại kỳ trân dị bảo gì mà hóa thành hình hài một đứa bé xuất hiện trong đêm tối, nếu không mau đào nó lên chỉ e sớm muộn sẽ biến thành tiên thành quỷ, không thể tìm thấy nữa.
Tôn Đại Ma Tử vốn nóng nảy, chỉ hận không thể lập tức tìm ngay ra chân tướng, Trương Tiểu Biện lại càng sốt ruột không chờ được đến sáng. Cả hai đều nghĩ, Tiểu Phượng là đứa trời sinh ra đã có mệnh nghèo hèn, phận mỏng không dung nạp được món tiền to, liền để cô ả ở lại một mình trong miếu, sau đó chuẩn bị đèn đuốc, bắt theo con mèo Kim tuyến miêu đang chơi đùa với đám mèo hoang, hai người một mèo trở lại Hòe viên đào kho báu.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử quyết tâm vứt hết mọi nghi ngại sang một bên. Tính rằng đã sắp canh tư, tới sáng sẽ bị Thiết chưởng quầy đến thu chìa khóa, không thể chần chừ thêm được nữa, đúng là “lòng vội như tên bắn, chân nhanh tựa gió bay”, hai người chạy thẳng tới cửa Hòe viên, theo lối cũ tìm đến căn lầu vắng trong đám cỏ cây rậm rạp đằng sau nhà. Căn lầu lúc ấy im ắng chẳng thấy bóng ai.
Hai người, một trước một sau giơ đèn mò vào, thấy dưới chân khác lạ dường như có vật gì đó cộm lên, liền soi đèn nhìn thử, hóa ra trong phòng vương vãi rất nhiều đũa. Đám đũa nằm ngổn ngang, cũ có, mới có, chẳng chiếc nào giống chiếc nào, mà đến tìm cho đủ một đôi cũng khó. Có chiếc thô ráp giản đơn mà nhà bình dân sử dụng, cũng có chiếc đẹp đẽ cầu kỳ của những nhà giàu ngang một nước, chỉ nhìn thoáng qua đã thấy sừng tê, gỗ mun, tre, ngà voi, vàng bạc… đủ thứ chất liệu khác nhau.
Trương Tiểu Biện sinh nghi, sao trong Hòe viên lại ngổn ngang vung vãi hàng trăm loại đũa thế này? Nhất thời hắn cũng không sao hiểu nổi, chỉ ngầm thấy có điều không hay, liền giơ đèn soi xung quanh. Ngay lúc ấy, phía sau chợt vang lên tiếng khóc trẻ con, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử hoàn toàn bất ngờ, không khỏi có chút kinh hoàng, vội quay người về phía phát ra thứ âm thanh đó, vừa nhìn thì lại càng thêm kinh ngạc. Hóa ra ở góc sau cửa có một cái hang, thò tay lại gần thăm dò, chỉ thấy từng trận gió âm ù ù ập tới, tiếng khóc từng đợt chính là vẳng ra từ trong hang này.
Trương Tiểu Biện ôm chặt con mèo đen ghé người sát cửa hang nhìn xuống. Căn lầu này tối om như mực, nếu không lại gần chắc hẳn khó phát hiện ra phía sau cửa có một cái hang. Con mèo đen đến cửa hang bỗng lộ vẻ bất an, lông tơ trên đuôi xù cả lên, kêu “ngao ngao”, định tụt xuống bỏ chạy. Hai tên Trương, Tôn không lưu ý đến điều đó, ngược lại còn nghĩ: “Thằng nhỏ ở truồng lúc nãy có thể đã chui vào hang đất rồi, không rõ chỗ này là chỗ nào?” rồi lại nghĩ: “Nam nhi nếu không có chí làm giàu thì uổng cho tấm thân bảy thước. Giờ thì không nói gò được nữa, dù đây là quỹ điện của Sâm La Địa phủ cũng phải vào xem thử một chuyến rồi mới tính sau.”
Hai kẻ nghèo đói bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử, ngờ rằng rừng vàng biển bạc đã ở ngay trước mặt, khác nào ruồi nghe hơi mật, lòng nóng như lửa đốt, còn chuyện gì mà không dám làm nữa? Hai chữ “sinh tử” đã sớm bỏ khỏi đầu, cả hai lập tức lần theo tiếng khóc, giơ ngọn đèn đi vào trong hang, mà chẳng hề hay biết chuyến đi này lại là: “Nộp mình đến cửa hung thần, Miệng hùm hang cọp đem thân gieo vào”.
Muốn biết sự thể ra sao, xin chờ hạ hồi phân giải.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:29 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:25 pm

Hồi thứ sáu MẮT MÈO


Tiếp theo hồi trước, nói đến đoạn Trương Tiến Điện và Tôn Đại Ma Tử là hai tên tiểu tử, …. Xưa nay không biết trời cao đất dày là gì. Hai gã thấy dưới sàn trong lầu có một cái hang tối om, bèn cho rằng đó là một đường ngầm dẫn đến một mật thất nơi chôn dấu kho báu trong Hòe viên, liền không kìm được sự sung sướng trong lòng, nào còn đắn đo gì nữa, tức khắc một tên đi trước, một tên đi sau, giơ đèn chui tọt vào trong. Dưới hang quả nhiên là một đường hầm rộng rãi quanh co, ngập đầy bùn và đất bùn và đất vụn, lại có vô số hang lớn nhỏ đan xen, vách hang lồi lõm, lối đi lúc cao lúc thấp, thoắt rộng thoắt hẹp, đào rất qua loa, không thành lề lối gì cả. Trương Tiểu Biện thấy bên dưới Hòe viên có một mê cung như thế, thầm lắc đầu lè lưỡi, hạ giọng nói với Tôn Đại Ma Tử:” Chắc hẳn kho báu bên dưới nhà họ Lâu này bị chôn lâu quá đã thành tinh rồi, nên mới hóa thành thằng nhóc ở truồng chạy vào đây. Nghe lão sĩ thầy ta nói rẻ cấu kỷ tử nghìn năm có thể hóa thành con chó nhỏ, củ nhân sâm một vạn năm có thể hóa thành người con gái, không biết rốt cuộc có Hòe viện này chôn vật quý hiếm gì mà kinh dị như thế? Gía như để huynh đệ chúng ta tìm được, ta với ngươi lại trở thành Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam của thành Linh Châu ấy chứ.” Tôn Đại Ma Tử cả mừng, nói:” Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam giỏi lắm đấy nhé. Mỗ ta thường nghe nói hai người bọn họ xưa kia giàu phú gia địch quốc, là những người giàu có nghiêng ngửa thiên hạ, bốn phương đều nghe danh. Chúng ta chỉ cần bằng một nửa của Thẩm lão gia, ngày nào cũng có gà nướng, chân giò để ăn, thế cũng mãn nguyện rồi.” Trương Tiểu Biện cười , bảo:” Ma Tử huynh thật thiển cận chỉ biết mỗi việc ăn chân gà nướng với gặm chân giò. Chúng ta mà có một nửa gia sản của Thẩm Vạn Tam , dù cho huynh ngày nào cũng ăn gan rồng mật phượng cũng không hết nữa là.” Tôn Đại Ma Tử một chữ bẻ đôi không biết , nhưng thường ngày gã và Trương Tiểu Biện vẫn thích đi nghe nhà trò diễn tích kể chuyện, lúc rỗi rãi gã còn ngâm nga mấy câu, thuộc nằm lòng các khúc dân ca. Hồi ấy, trong các tích trò diễn ở địa phương, có một vở gọi là “Chiêu tài tiến bảo” khá rộn rã tươi vui, kể chuyện thần tài giáng trần ở các triều đại. Mỗi khi tết đến hoặc có hội vui , hay những dịp cần điềm lành người ta đều mời gánh hát đến diễn vở này. Đặng Thông là người đời Hán, từng được Hoàng đế ban thưởng cho một mô đồng, tự mình có thể khai đúc tiền nên mới có câu: ”khắp nơitiền rải lanh canh biết bao được đúc từ Thành Đặng Thông”, thành ấy chính là nơi người này đúc tiền. Thẩm Vạn Tâm là cự phú ở Giang Nam vào thời cuối Nguyên đầu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương khi khai đô kiến quốc phải mượn Thẩm lão gia tiền để xây thành là một đại tài chủ giàu giang cả nước. Hai vị đó được dân chúng xem như thần Tài đầu thai hạ phàm, nếu nói theo kiểu của người ngày nay, thì đã được coi là thần tượng về việc phát tài làm giàu rồi. Bởi thế, dù là hạng cùng đinh mạt rệp không cửa không nhà như Tôn Đại Ma Tử và Trương Tiểu Biện cũng thuộc nằm lòng những sự tích của hai ông Đăng, Thẩm trong các vở kịch, câu chuyện kể. Hai gã đến nằm mơ cũng tưởng tượng sẽ có lúc được giàu có như thế mà chẳng hề biết rằng, Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam về sau đều không có kết cục tốt đẹp. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử niệm mấy lượt: “ Miêu Tiên gia và các vị Tài thần lão gia phù hộ cho đệ tử được đại phú quý…”, sau đó liền hăm hở đi tìm của. Chẳng ngờ trong đường ngầm dưới nền căn lầu, cửa hang nhiều tới mức hoa mắt chóng mặt, nhất thời không biết nên đi theo lối nào. Cả con đường khi lưỡng lự, chợt nghe văng vẳng tiếng khóc ở xa xa. Hai người vừa nghe thấy động tĩnh, vội rùn người đi tiếp, lần theo tiếng khóc mà tiến lên. Trương Tiểu Biện tuy bị tiền bạc làm mờ mắt nhưng dầu sao cũng là một tay lão luyện trong nghề bắt gà trộm chó cũng có chút cơ tri và kiến thức của bọn trộm cướp, hiểu rõ cần phải trả lại cho mình một lối thoát thân. Hắn thấy đường ngầm dưới Hòe viên rất chằng chịt phức tạp liền bỏ con mèo đen vào lòng, bảo Tôn Đại Ma Tử treo đèn vào đoản côn đi trước, hắn ở đằng sau, dùng tay và đầu gối bò trên đất, vừa bò vừa nhặt đũa xếp rồng rắn thành chữ nhất để đánh dấu đường phòng trường hợp không tìm được đường ra, phải chết kẹt dưới long đất. Con mèo đen vốn nhát gan, không biết bị cài gì dọa đến nỗi run lên cầm cập, dường như dự cảm được có tai họa sắp giáng xuống. Nó cuộn tròn trong lòng Trương Tiểu Biện không kêu một tiếng nào, chỉ để lộ ra đôi mắt sáng sợ sệt nhìn xung quanh. Trương Tiểu Biện thầm rủa con mèo đổi về từ hiệu thuốc nay vô dụng. “ Vân vật thông tài” miêu tả về mọi loài sinh linh trên thế gian, trong đó viết về loài mèo có Miêu phổ, viết về chó có Khuyển kinh, trong cuốn Miêu phổ ghi rất rõ ràng rằng, Linh Chau thời cổ sản sinh ra loại mèo đen rất quý, tên là:” Nguyệt ảnh ở đồng kim tuyến miêu”. Loại mèo đen này có một đường kim tuyến chạy dọc mình, có thể đảo ngói trèo tường, rất giỏi vồ chim bắt bướm, mà cũng có thể lần mò vào nhà trộm vàng lấy ngọc. Trong lúc hành động, giống mèo này thoăn thoắt như gió, giữa ban ngày ban mặt có thể đi lại giữa chốn đông người mà chỉ trông thấy bóng không thấy hình. Nhưng phong tục cúng Miêu Tiên ở thành Linh Châu đã có từ lâu, vì vậy đám mèo ở đất này dù là mèo nhà hay mèo hoang đều vừa tham vừa lười. Con mèo khoang mà Trương Tiêu Biện mất bao công sức mới tìm được này, đích thị là một con mèo lười rõ mười mươi. Tuy nó đúng là giống Nguyệt ảnh ở đồng kim tuyến miêu thuần chủng, nhưng bản lĩnh mà tổ tiên nó nổi danh với đời từ mấy trăm năm trước, đến đời nó thì đã thất truyền lâu rồi, chỉ mỗi trò trèo cây bắt cây sẻ là còn giữ được đôi phần mà thôi. Trương Tiểu Biện còn nhớ mấy hôm trước trong mộ Kim quan của Quý phi, Lâm Trung Lão Quỷ từng căn dặn rằng: “ Nhà người muốn vào nhà ma Hòe viên để lấy kho của thì trước tiên phải đến Tùng Hạc đường. đem cương thi mỹ nhân đổi lấy con Nguyệt ảnh ở đông kim tuyến miêu nhà đó đang nuôi. Không có con mèo ấy tương trợ sức, ngươi đừng hòng lấy được một đồng một cắc trong núi bạc núi vàng ở Hòe viên. Nhớ lấy! Nhớ lấy!” Những lời ấy được Trương Tiểu Biện coi như thánh chỉ, nhớ như in trong đầu, trong mơ cũng không quên lẩm nhẩm lại. Bây giờ,cả mèo đen lẫn đường ngầm trong Hòe viên đều tìm ra rồi, nhưng hồi đó, Lâm Trung Lão Quý lại không chỉ rõ cho hắn xem rốt cuộc phải dùng con mèo đen ấy tìm kho báu như thế nào. Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, thiên cơ bất khả lộ, tức là đầu gặp được thần tiên chỉ lối, thì con đường mà họ chỉ cho người phàm đa phần cũng đều mờ mờ ảo ảo, còn phải dựa vào sự tham ngộ của bản thân, phá giải mới lĩnh hội được. Dù sao kiến thức cũng hạn hẹp, mấy ngày liền vò đầu bứt tai cũng chỉ đoán ra đại khái là dùng ”mắt mèo” của con mèo đen để khắc yêu trừ tà. Con mèo này tuy lười nhác nhưng lúc lấy của báu chưa chắc đã không có đất cho nó dụng võ trước mắt còn chưa biết trong lòng đất này rốt cuộc chôn dấu thứ gì, đương nhiên hắn không thể dễ dàng để cho nó chạy trở ra. Hắn nghĩ ngợi lung tung một hồi, đi được mấy trượng trong đường hầm hẹp, bỗng nghe phía trước có tiếng nước chảy khẽ vang đến. Tôn Đại Ma Tử cũng đứng lại, thì ra tuy đường đi trong hang càng lúc càng rộng, dẫn tới một không gian khá lớn, nhưng trước mặt hai gã lại có một con sông ngầm chắn ngang. Trong Hòe viên có rất nhiều cảnh trí đẹp đẽ như đình lang thủy tạ, lâu đài điện gác. Tới nay, những cái ao, con suối trong vườn tuy khô cạn nhưng mạch nước ngầm trong lòng đất vẫn còn, tiếng trẻ con khác hu hu chính là vọng lên từ bóng tối phía bên kia sông. Hai bên bờ sông ngầm trong hang động dưới lòng đất, gió âm vù vù lạnh buốt, tiếng trẻ khóc văng vẳng dường như không xa lắm. Trương Tiểu Biện lớn ngần này tuổi nhưng chưa từng nghe thấy tiếng khóc nào thê lương đến thế, khóc tưởng như cổ họng rỉ máu. Hắn không khỏi rùng mình, tự úy lạo tinh thần, hướng về phía bóng tối mắng rằng: “ Tổ tông mười tám đời nhà chúng mày đã nghe đến tên Tương Tam già Trương to gan ta chưa? Cái bọn Kim tinh Ngân phách chúng bay cũng có mấy phần đạo hạnh, biết hôm nay sớm muộn gì cũng bị Tam gia đào mang về, mới nấp ở trong tối khóc thần gọi quỷ, dọa người ta hả. Chúng bay biết đâu rằng Trương Tam gia nhà các ngươi ăn gan hùm mật sói, sợ quái gì mấy trò đó.”Nói xong, hắn thò tay cấu vào đuôi con mèo đen trong lòng, định bắt nó gào lên mấy tiếng dọa bọn yêu tinh do vàng bạc hóa ra kia phải hiện nguyên hình. Tôn Đại Ma Tử là người chính trực, không chịu được cảnh bất bình trong thiên hạ, nghe tiếng khóc rỏ máu kia, cảm thấy rất đỗi đáng thương, không giống như tiếng khóc để dọa dẫm người khác, liền ngăn Trương Tiểu Biện lại, nói: “Không phải rồi! Tam đệ nghe kỹ xem, đây rõ ràng là tiếng khóc của trẻ con, chẳng lẽ nào chuyện hỗn phách kêu oan là có thật? Có phải muốn nhờ bọn ta rửa oan kiếp trước cho nó không..” Trương Tiểu Biện nói: “Trẻ con một hai tuổi ranh thì có oan tình gì? Chắc hẳn là đống châu báu hấp thụ linh khí ngũ hành trong trời đất, ẩn ở dưới đất hàng trăm, hàng nghìn năm mới luyện thành hình hài đứa trẻ con,. Lúc này, nhân đạo hạnh của chúng chưa cao, chỉ mới biết khóc, biết bò thôi, vừa hay có thể bắt lấy đổi sự giàu sang phú quý, nếu để muộn mấy năm nữa, để nó đắc đạo, làm sao tìm ra tung tích được?” Tôn Đại Ma Tử lắc đầu không tin: “Có lẽ đứa trẻ này bịn nười ta bỏ đói đến chết trong hang động…” Gã ngẫm nghĩ thêm, thấy không đúng lại nói: “ Nhưng trên cổ nó có khóa bạc, cũng không giống như con nhà nghèo. Chắc hẳn là có kẻ gian lập mưu cướp gia sản nên bắt cóc nó tới đây rồi giết, vì thế trong lòng nó mới đầy oán hận. Chẳng ngờ dưới gầm trời này còn có chuyện vô đạo như thế thực khiến người ta tức nổ ***g ngực. Nói thế nào thì nói, hai huynh đệ chúng ta tuyệt đối không thể khoanh tay đứng nhìn” Gã vốn là người lỗ mãng, không tin chuyện ma quỷ, thường tự cho mình là: “Người ngay lo gì bóng lệch, chân thẳng chẳng sợ giày nghiêng”, hơn nữa rất tin cái lý: “không làm việc xấu hại người, nửa đêm nào sợ quỷ đòi kêu oan”, vì vậy xưa nay không sợ gì quỷ quái. Lúc này, gã lại nổi tính lỗ mãng, bộ mặt sần sùi bạnh ra, nằng nặc cho rằng tiếng khóc của đứa bé đó chính là lời kêu oan tố khổ của vong hồn. Trương Tiểu Biện tuy lanh mồm lanh miệng nhưng cũng không thuyết phục được gã, đành thì thầm: “ Cho dù nó có là yêu ma hay quỷ quái, hay là vật gì thành tinh. Cứ đến nơi mới trông rõ được, mất thời gian tranh cãi với thằng em ngốc này thì có ích gì?” Nghĩ đoạn hắn liền không nói thêm gì nữa, tháy dòng sông ngầm khó vượt qua hai gã đành nghĩ cách đi đường vòng. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Mà Tử tính tìm một khúc sông hẹp để nhảy qua, bèn men theo bờ sông mà tiến, đi được mấy trượng, liền cảm thấy đũa dưới chân càng nhiều, soi đèn nhìn xung quanh, thấy trên mặt đất mấp mô cũng cương vãi rất nhiều đũa. Đũa tre, đũa gỗ đều là những vật gia dụng hết sức tầm thường. Tầm thường tới mức nào đây? Lấy một vó dụ thế này. Có tên phi tặc đã vào hàng trăm nhà phú hộ đào tường khoét vách, một hôm trót vào nhầm nhà nghèo, thấy bốn vách trống trơn, trong chum không gạo, chẳng có gì để ăn trộm, nhưng tôn chỉ “ trộm không về tay không” thì không thể phá bỏ, vậy là đành phải rút mấy sợi rơm nhóm lò rồi đi. Đến mức như thế là cảnh “thượng lương quân tử” cũng tuyệt nhiên không lấy đi cái đũa nào trong chạn, vì lẽ rơm khô còn có thể giữ ấm được, thậm chí nếu có nhiều thì còn đổi được ít tiền bạc, chứ ai lại bỏ tiền ra mua mấy cái đũa cũ nát của người nghèo đã dùng nhiều năm. Những chiếc đũa trong động mỗi cái một vẻ , hiển nhiên không phải vật của cùng một nhà, nằm ngổn ngang dễ phải đến hàng nghìn, hàng vạn cái, ai ăn no rửng mỡ đem từng ấy đũa đến hang động dưới đất này? Trương Tiểu Biện nghĩ muốn vỡ đầu cũng đoán không ra lẽ gì, dành biết để đấy. Hắn lại đi lên mấy bước thăm dò, thấy sâu trong động, trên mặt nước, có một cây cầu bắc ngang. Cây cầu đó hoàn toàn dùng đũa ghép lại, tuy những chiếc đũa dài ngắn khác nhau, có mới có cũ mà chất liệu cũng khác, nhưng được gắn rất bằng phẳng kiên cố. Mặt cầu hình cung, rộng không đầy hai thước. Giơ đèn ***g soi phía đối diện của cây cầu đũa, thấy trong bóng tối hiện ra một tòa thành, đều ghép từ những chiếc đũa lại, trông rất ngợp mắt, nhưng cũng ra hình ra dáng. Thành cũng có cửa, có lầu gác, trên địch lâu còn trổ hơn mười lỗ châu mai để quan sát địch, hai bên đều là tường thành ghép bởi vô số chiếc đũa. Tòa thành đũa và mấy cây cầu đũa phia trước thành đều nhỏ bó hơn nhiều so với ngoài đời thực. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nín thở bước trên cầu đũa, miễn cưỡng qua được sông, nhưng tới dưới lầu thành mới phát hiện ra cửa thành không có dành cho người ra vào, chỉ nhỉnh hơn cái lỗ chó chui một chút mà thôi. Cổng tòa thành xây bằng những chiếc đũa ấy mở rộng, bên trong xộc ra một làn gió tanh, hơi thôid xông lên đến tận đầu. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vội vã xé vạt áo nút mũi lại, nín thở, xem tiếp xuống dưới chân lầu thành thì thấy xương vụn rải đầy mặt đất, bị gặm đến nát bét, trắng huếch hoác chẳng chừa lại chút da thịt nào, không rõ là xương người hay xương thú. Hai người lấy làm kinh hãi: “Rốt cuộc bên dưới Hòe viện nhà họ Lâu có cái gì? Sao lại có tòa thành kỳ quái này? Ai ở trong tòa thành bằng đũa?” Chuyện này hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử tuy to gan nhưng cũng không dám tùy tiện làm bừa, hai gã nín thở, bò xuống trước cửa thành, ghé mắt nhìn vào trong. Chỉ thấy đèn đuốc trong thành sáng rực, nhà cửa phòng ốc san sát, đều do những cây đũa nhiều màu sắc ghép lại, đường phố im lìm vừa rộng vừa sâu, nhưng tất cả phòng ốc lầu gác đều bé tý tẹo, tuy giống hệt nhân gian nhưng chỉ có mèo mới ở được. Tiếng khóc “oa oa” của đứa trẻ liên tục vọng từ bên trong ra. Tiếng khóc bất thường toát lên vẻ tà mị khó hiểu khiến hai người và con mèo sợ đến nổi da gà. Tình cảnh trong thành này thực hết sức kỳ quái. Đúng là: “nghe thấy, anh hùng đều vỡ mật. Nhìn vào, tráng sĩ thấy run gan. ” Muốn biết chuyện sẽ thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:30 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:29 pm

Hồi thứ bảy HẦM NGƯỜI SỐNG

Hồi trước nói đến đoạn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử hai người đang đêm vào địa đạo bên dưới Hòe viên, phát hiện ra trong hang sâu có một tòa thành toàn ghép từ những chiếc đũa. Hai gã kinh hãi khôn xiết, liền lấy áo che mũi, khom lưng, quỳ trước cổng thành Đũa, ghé mắt quan sát động tĩnh bên trong thành.
Con mèo đen đang ủ rũ trong lòng Trương Tiểu Biện tuy nhát nhưng cũng tò mò thò đầu ra xem, cặp mắt mèo đảo lia lịa, cùng hai chủ nhân đánh giá tình hình bên trong thành đũa.
Cách bài trí phố xá, nhà cửa bên trong giống hệt thành Linh Châu, chỉ có điều kích thước nhỏ bé hơn nhiều, tựa như trẻ con chơi đồ hàng vậy. Không hiểu đã phải dùng đến bao nhiêu chiếc đũa của nhân gian mới ghép được òa thành Đũa như thế này.
Đường phố chợ búa trong thành đều thắp đèn sáng trưng, đầu đường cuối ngõ đốt khá nhiều nến. Trong ánh sáng lung linh chập chờn, trùng trùng điệp điệp lầu gác làm bằng đũa toát lên một vẻ âm u lạ thường, vô số chuột to chuột nhỏ đang leo lên, leo xuông giữa đám nhà cửa nhấp nhô.
Cũng bởi mèo khoang ở vùng này không bắt chuột nên nạn chuột trên địa bàn Linh Châu đã kéo dài gần trăm năm, khó diệt được tận gốc. Tuy bọn chuột vẫn thường dung dăng thoải mái trong thành Linh Châu nhưng vì thiên tính bẩm sinh nên vẫn sợ người, sợ mèo đôi chút. Nhưng đàn chuột lớn trong tòa thành này thì con nào con nấy đều lộ vẻ hung ác, không thèm để ý đến hai người và một mèo ở ngoài cổng thành. Rất nhiều con chuột to tướng còn táo tợn bò qua bò lại trước mặt Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử.
Trương Tiểu Biện nhìn mà thấy buồn nôn, vội giơ tay đuổi mấy con chuột to ở trước mặt thầm nghĩ : “ Đâu ra lắm chuột thế này, chẳng lẽ đã lọt vào sào huyệt của bọn chuột thành Linh Châu rồi ư?”
Thường có câu rằng: “ Không có lửa thì làm sao có khói”, ở nông thôn thường nghe kể rất nhiều truyền thuyết dân gian kể về đám cưới chuột, đám ma chuột, nhưng liệu đã có ai chính mắt trông thấy? Bọn chuột sao có thể hành động giống như con người được? Cứ nghĩ đến việc bầy chuột đã ăn trộm đũa của hàng nghìn nhà, xây dựng thành trì trong hang động, lại có thể bắt chước y hệt lối sinh sống của con người, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều lạnh cả người, trong đầu chỉ có một ý nghĩ: có nhẽ đâu thế?
Trương Tiểu Biện thầm nghĩ, bây giờ đúng là thiên hạ đại loạn, chẳng lẽ bọn chuột cũng học tập Việt khấu khởi binh tạo phản…tự lập triều đình trong hang động này? Nhưng chuột chỉ là bọn giỏi phá kho trộm thóc, làm sao có trí tuệ để xây dựng thành trì được? Xem ra đây đúng là điềm chẳng lành, chẳng rõ sẽ có đại họa nào giáng xuống nữa. Trong thời loạn thì giữ mình là trên hết, Tam gia ta đánh một mẻ lớn, xong xuôi phải mau mau chóng chóng ôm tiền bạc cao chạy xa bay là tốt nhất.
Lúc ấy, Tôn Đại Ma Tử không cầm lòng nổi, kinh hãi kêu lên một tiếng, chỉ tay vào trong thành nói với Trương Tiểu Biện: “ Tam đệ mau, bọn chuột không chỉ ăn trộm đũa đâu, ngươi xem, ngươi xem…Chúng còn bắt trẻ con nữa. Lũ chuột cống này thành tinh rồi!”
Trương Tiểu Biện đưa mắt nhìn, quả nhiên trên con đường thẳng đối diện với cổng thành, có hàng trăm con chuột kìn kìn xúm lại một chỗ, cõng đứa bé trần truồng từ từ đi vào sâu bên trong. Đứa trẻ “oa oa” khóc lớn, chân tay giãy đạp liện tục.
Dẫn đầu bầy chuột bắt trẻ con là một con chuột cống già, toàn thân lông trắng, trụi lỗ chỗ, nó nheo nheo đôi mắt ti hí giảo hoạt dị thường, thỉnh thoảng lại trèo lên người đứa trẻ, dùng đuôi ngoáy làm thằng bé nhột nhạt. Đứa bé trần truồng ước chừng chỉ khoảng một tuổi, lúc thì khóc lóc, quẫy đạp, lúc thì bị con chuột cù lại phá lên cười, có lẽ bầy chuột đã dùng chính thủ đoạn này làm đứa bé thôi khóc để đưa nó từ nhà dân đến đây.
Trương Tiểu Biện xem rõ, vô cùng ngạc nhiên, hạ giọng chửi: “Bọn chuột chết toi này sao cũng học được ngón trộm gà của Tam gia ta nhỉ! ”
Tôn Đại Ma Tử nói với Trương Tiểu Biện : “ nghe nói thành Linh Châu hay bị mất trẻ con, thường náo loạn cả thành, ai cũng bảo rằng thủ đoạn của bon mẹ mìn lợi hại. Ta cứ tưởng chỉ là lời đồn bậy trên phố, hóa ra mầm họa là từ “ thành Đũa” bên dưới Hòe viên này. Đứa trẻ đó không biết là con cái nhà ai, bị bọn chuột bắt về trong thành thì sốnglàm sao nổi, hai chúng ta phải mau cứu nó ra mới được.”
Trương Tiểu Biện tuy không biết đàn chuột bắt đứa trẻ về làm gì nhưng đoán rằng không phải việc tốt, vả lại tính cách của hắn một là hám lợi, hai là hiếu sự. Lúc bình thường, hễ thấy gió lay cây động, là hắn lập tức nóng mắt nóng tai, chạy lại xem cho rôm rả. Hắn thường tự cho mình can đảm hơn người, thích hành hiệp trượng nghĩa, hễ thấy sự bất bình trên đường là ra tay cứu khốn phò nguy, chẳng bao giờ chịu ngồi yên. Lúc ấy hắn nhất thời tức khí lên muốn làm anh hùng hảo hán, liền tạm gác việc đi tìm sự phú quý trong Hòe viên, định xông thẳng vào trong thành giải cứu đứa trẻ bị bầy chuột bắt cóc.
Nào ngờ cửa thành Đũa quá hẹp, Trương Tiểu Biện tuy người gầy xương nhỏ nhưng cũng không chui qua được, đành trơ mắt nhìn bầy chuột mang đứa trẻ đi xa dần, mất hút trong thành. Chẳng bao lâu nữa, đã không còn nghe thấy tiếng trẻ khóc đâu nữa.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy chưa gì đã mất cả tiên cơ, liền tính cách dùng sức phá vỡ tường thành xông vào. Ngờ đâu, những chiếc đũa ấy đều được gắn keo da cá rất chặt, tuy không kiên cố bằng gạch đá nhưng chỉ với sức của hai gã, trong tay lại không có cuốc chim hay xẻng gì, muốn phá hủy hay đẩy đổ tường cũng hết sức tốn công.
Trương Tiểu Biện nôn nóng, chợt vỗ trán, nghĩ bụng : “Đúng là cuống quá hóa hồ đồ? Sao không trèo thành mà vào? ” Nghĩ thế, hắn vội giơ đèn chiếu lên bờ tường thành, chỉ thấy tòa thành trong động có bề mặt thành cách trần động một khoảng khá xa.
Trương Tiểu Biện kéo Tôn Đại Ma Tử dậy, chỉ tay lên trên ra iệu, sau đó hai người dùng cả chân cả tay trèo qua tường thành cao quá nửa người. Chỗ đặt chân bỗng vang lên tiếng “ chít chít” thảm thiết, cả hai giơ đèn cúi đầu xem, thì ra là cả một ổ chuột nát nhừ, máu thịt bầy nhầy một đống. Trương Tiểu Biện vội nhấc chân chà giày vào tường thành bên cạnh, kêu lên: “ Đừng trách, đừng trách. Có trách thì trách mẹ chúng mày sonh nhầm chỗ.”
Tôn Đại Ma Tử cũng giơ gậy đạp tứ tung xuống đất, đuổi bọn chuột xung quanh chạy dạt ra, rồi cả hai cùng xem xét tình hình trong thành. Trong tòa thành Đũa bị lũ chuột chiếm cứ này, mỗi gian phòng ốc, lầu gác đều có vào con chuột, nhung nhúc khắc nơi không sao đếm xuể. Các gian nhà thấp bé nối dài tít tắp, lốm đốm cơ man những chân đèn, chân nến đang cháy, nhưng ánh nến phía đằng xa yếu ớt nên nhìn không rõ rốt cuộc tòa thành này quy mô như thế nào.
Hai người nhất thời không biết nên đi đâu để tìm ra đứa trẻ bị bầy chuột đưa đi lúc nãy, đành dò dẫm bước vào vùng nhà cửa san sát phía trong thành, TrươngTiểu Biện phát hiện ra con mèo đen trong lòng đang run lên sợ hãi, thầm cảm thấy cổ quái. Bầy chuột trộm đũa xây thành đã là một chuyện hết sức ly kỳ trong thiên hạ, không ngờ đến cả mèo trong thành Linh Châu lại cũng sợ chuột, chẳng lẽ trong tòa thành chuột này còn điều gì hung hiểm chưa hiển lộ ra nữa hay sao? Tới nước này, không thể không đề phòng cẩn thận hơn, chớ để Tam gia ta chưa phát tài đã lỗ cả vốn, mất cả tính mạng ở đây. Nghĩ đoạn, hắn bất giác đi chậm lại.
Hai người đi được mấy bước trên con đường hẹp hai bên san sát lầu đũa nhà đũa trong thành, bỗng thấy một trận gió âm thổi vào mặt, trong gió thoảng một mùi hương lạ, nồng nồng khác hẳn mùi xú uế, lạnh lẽo trong địa động. Mặc dù Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đã dùng vải nút mũi nhưng mùi hương nọ vẫn xộc thẳng lên tận óc, hai người cùng bỏ vải che mặt ra, hít hà một lúc rồi nói: “Dường như là mùi thịt hầm, nhưng thịt gì mà hầm thơm thế? Thịt bò hay là thịt chó nhỉ?”
Cả hai đã lâu rồi chưa được ăn mặn, ngay cả mùi vị thịt bò hầm ra sao cũng gần như quên mất rồi, lại gặp đúng lúc bụng đang trống rỗng, ngửi thấy mùi thịt nức mũi thì không khỏi them thuồng rỏ dãi, liên tục nuốt nước bọt, đưa tay áo rách quệt nước dãi đang chảy ròng ròng trên khóe miệng, bất giác rảo bước lại phía mùi thịt thơm nồng.
Qua hai khúc ngoặt, cả hai đến trước một căn lầu đũa cao lớn dị thường. Căn lầu cao hơn một trượng, nằm giữa ngã tư, nhà cửa xung quanh đều thấp hơn rất nhiều, bên trong không có ngọn đèn ngọn nến nào. Cửa sổ, cửa ra vào lầu cũng ghép bằng những chiếc đũa, đóng lại im ỉm. Trên con đường phía trước của lầu đặt một nồi hầm to, đáy nồi là một hố bếp đang cháy, cũng không rõ bên trong đựng thứ gì, hơi nghi ngút bốc ra qua kẽ hở chỗ nắp vung khép hờ.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử chỉ chun mũi hít một hơi, biết rằng mùi thịt thơm lan tỏa trong thành chính là từ nồi này mà ra, bèn nghĩ bụng : “ Ai đang hầm thịt nhỉ? Chẳng lẽ ngoài bầy chuột lớn, trong thành còn có người cư trú?” Mùi thịt trong nồi thơm ngon khó cưỡng, hai gã chẳng buồn nghĩ ngợi gì thêm, thấy bốn phía toàn chuột là chuột, chẳng có hiện tượng dị lạ nào , liền rảo bước tới gần cái nồi.
Trương Tiểu Biện dí mũi gần nồi, hít sâu mấy hơi, mặt mày rạng rỡ, khen rằng: “Thơm quá! Thơm quá! Ai cũng biết quán ngon nổi tiếng trong thành Linh Châu là Bát Tiên Lâu, nhưng tuy là đầu bếp trong Bát Tiện Lâu tinh thông các món ăn nổi tiếng Bắc Nam cũng chưa chắc đã làm được nồi thịt ngon thế này.” Nói xong, hắn không kìm được giơ tay mở nắp vung. Chẳng cần biết nồi thịt của nhà ai, định ăn một bữa no rồi hẵng tính.
Tôn Đại Ma Tử ngăn lại, nói: “ Chúng ta đều là bậc trượng phu trong sạch, sao có thể ăn vụng của người ta được”
Trương Tiểu Biện nói : “ Huynh đệ chúng ra đương nhiên là người ngay không làm chuyện mờ ám, tuy không biết ai đang ở trong thành Đũa này nhưng cũng không thể ăn không của người ta được…” Hắn vừa nói vừa sờ soạng trong người một hồi. Sau khi làng Kim Quan bị lửa chiến tranh hủy diệt, Trương Tiểu Biện đã bới trong đống đổ nát và xác người được ít lương khô và tiền nong. Lúc ấy, còn dư được vài đồng, hắn liền tiện tay lấy ra đặt xuống cạnh bếp rồi nói với Tôn Đại Ma Tử rằng: “ Bây giờ trả họ tiền là được chứ gì?”
Tôn Đại Ma Tử tuy ngoài miệng nói cứng nhưng bụng cũng đang réo ồ ồ, nước bọt đã ứa ra chảy dài cả thước, chẳng thèm hỏi số tiền đó bao nhiêu, lập tức ngoạc mồm kêu lên: “ Nếu đã như thế, tất nhiên mỗ cũng chẳng có gì để nói…” Chưa dứt lời gã liền vội sán lại, dùng gậy nhấc nắp nồi, định cùng với Trương Tiểu Biện đánh chén một bữa.
Dù gan dạ có sắt thép đến mấy cũng phải thưa cái bụng đói, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử bị mùi thịt thơm trong nồi quyến rũ, bao nhiêu chuyện khác đều gác hết ra sau đầu. Tới khi mở nắp vung ra, xua bớt hơi nước sôi đang nghi ngút, vừa mới ngó vào bên trong cả hai đã suýt chút nữa nôn ọe cả bữa cơm ăn từ năm ngoái. Thì ra, bên trong nồi đang hầm chín nhừ bốn đứa bé trần truồng béo mập, nhìn áng chừng đều là những bé trai bé gái tầm một, hai tuổi.
Thật đúng là: “chạy trời không khỏi nắng” Tôn Đại Ma Tử bằng ngần này tuổi, ỷ mình can đảm chính trực, lại có võ nghệ, xưa nay chưa từng biết sợ là cái gì, thế mà lần này đúng là run rẩy từ tận đáy lòng, cả người từ đầu đến chân lạnh toát, sợ đến nỗi vội rụt tay làm cho nắp vung rơi trở lại: “ Cha mẹ ơi, hầm như người sống! Ai mà dám ăn chứ?”
Trương Tiểu Biện nghĩ thầm: “ Thứ nấu trong nồi vừa làm món ăn vừa làm món nhậu được, nhưng chắc chắn không phải dành cho người sống ăn, hẳn là trong nhà ma Hòe viên này có thứ gì đó rất ghê tởm, lâu ngày đã tự luyện thành tinh, lại còn biết sai khiến lũ chuột bắt trẻ con trong thành. Bọn chúng ta dẫu có thủ đoạn đầy mình e cũng không phải là đối thủ của nó được. Nhân lúc tên cầm đầu còn chưa hiện thân, không đào thoát bây giờ thì còn đợi lúc nào?” Hắn liền đánh mắt với Tôn Đại Ma Tử, hai người chuẩn bị chuồn thẳng một lèo, nhưng lúc đó muốn chạy khỏi thành Đũa này không kịp nữa rồi.
Đúng là: “Thiêu thân vào lửa thôi khôn cứu; Cá lọt đáy nồi sống được chăng?” Muốn biết việc sau thế nào, hạ hồi phân giải.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:31 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:29 pm

Hồi thứ tám. QUÁI TĂNG.


Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử lạc vào thành Đũa, phát hiện ra trong thành có rất nhiều điều cổ quái, trong cái nồi to phía trước một căn lầu xây bằng đũa đang hầm bốn đứa trẻ béo trắng, quần áo và giày dép trẻ con vứt bừa xung quanh, khiến hai gã đều kinh hồn lạc phách, giờ mới thấy mùi thịt thơm nức trong nồi hết sức kinh tởm, súyt nữa nôn hết mật xanh mật vàng ra ngoài.
Hai gã đang định bỏ trốn khỏi thành, chợt nghe phía sau căn lầu vang lên một tràng loảng xoảng tiếng xích, tựa như có một con vật lớn nào đó đang di chuyển từ xa lại phía này, tốc độ khá nhanh. Bầy chuột tập trung quanh bếp lửa cũng thi nhau nấp vào các phòng ốc hai bên đường.
Trương Tiểu Biện thường hay bắt gà trộm chó, xưa nay vốn rất nhanh nhẹn cơ trí, thấy tình hình không ổn, lập tức thổi tắt ngọn đèn đang cầm trên tay, kéo Tôn Đại Ma Tử nằm phục xuống, nấp sau đám lầu gác lúp xúp. Đám phòng ốc dựng lên bằng đũa này cái cao cái thấp, vừa vặn che được thân hình của hai gã, vừa lại có chỗ để ghé mắt nhìn động tĩnh trên con đường phía trước.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử biết rằng, đây là lúc then chốt của sự sống và cái chết, tuyệt đối không phải trò đùa, tuy cả hai đều đã nín thở, nằm yên không nhúc nhíc nhưng tim vẫn đập thình thịch liên hồi, đồng thời cũng có vài phần hiếu kỳ, muốn xem kẻ nào đang nắp trong thành Đũa này ăn thịt trẻ con.
Bầy chuột trong thành, lúc ấy cũng đều co đầu co đuôi nhìn ra phía xa chờ đợi. Bốn bề nhất thời im phăn phắc, chỉ còn tiếng xích sắt kéo lê trên mặt đất, vọng đến càng lúc càng gần. Từ phía sau căn lầu Đũa, một vật đen sì sì to lù lù bò ra, xung quanh đèn lửa mờ mờ, cũng không nhìn được rõ, quan sát một lúc lâu cũng không biết rốt cuộc đấy là thứ gì.
Trương Tiểu Biện dụi mắt nhìn kỹ lại, thì ra trong ánh nến tàn và bóng đèn ***g chập chờn kia, xuất hiện một quái nhân mình khoác bộ da chuột, phía trước, phía sau có rất nhiều con chuột to đùng tiền hô hậu ủng. Người đó để đầu trọc, trên trán có vết chấm tàn hương, trông có vẻ giống một nhà sư.
Gã sư đó tựa như một bị thịt, béo tới mức rụt cả cổ lại, cái đầu trọc lông lốc giống một hình tam giác ngược, đỉnh đầu có một túm tóc bện lại như chỏm tóc của trẻ con, cuốn thêm mấy vòng dây đỏ lộn xộn. Nhìn từ phía sau, trông lão giống như một quả lê to, lại vừa giống một đạo đồng. Trên khuông mặt béo trắng, mắt mũi bé ti, ngũ quan dồn lại sát với nhau. Dưới ánh đèn mờ mờ trông lão còn nhác giống con người, chứ nếu không rất dễ lầm tưởng là một con chuột trắng lớn thành tinh.
Hòa thượng nọ khoác một cái áo ngắn rách rưới làm bằng da chuột lửa, không rõ đã chui ra chui vào địa động bao năm khiến lớp lông chuột đã bị mài đến mức trơ trụi. Bên trong lão chỉ mặc một cái yếm đỏ vừa rộng vừa to, bên trên có thêu hình uyên ương bỡn nước rất tươi tắn sinh động. Không hiểu lão gìn giữ thế nào mà da dẻ toàn thân trắng bóng nõn nà, tưởng như chọc vào là chảy mỡ ra ngay.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy gã sư to béo, tâm lý đề phòng đã vơi đi một nữa, nhưng trông trang phục, cử chỉ của lão đều hết sức dị hợm, sư không ra sư, đạo sĩ không ra đạo sĩ, lại nghĩ đến mấy đứa trẻ trong nồi, nỗi sợ hãi càng tăng thêm, thầm nghĩ lão hòa thượng này chắc hẳn là yêu quái phương nào đó hóa ra, chẳng lẽ nào hạng chuyên ăn thịt người. Chuyện hòa thượng Chuột ăn thịt người đồn đại khắp thành Linh Châu, không rõ thực hư thế nào, chẳng lẽ lại chính là đây?
Hai gã đang kinh hãi, chợt thấy nhà sư mặc áo da chuột kia bò đến trước căn lầu Đũa, dừng lại nằm bò ra đất thở hổn hễn. Dường như lão đã lâu không trông thấy mặt trời, da dẻ nần nẫn lộ ra trắng tới mức nhợt nhạt, không có chút huyết sắc. Phía sau người lão kéo lê hang trăm cái khóa lấy khước của trẻ con có cả đồng lẫn bạc…trông như một cái đuôi chuột, kêu lanh canh loảng xoảng trên mặt đất.
Lão nghĩ ngơi một lúc rồi chầm chậm trở mình, trong miệng lầm rầm như đang nói tiếng của loài chuột, đoạn dùng ngón tay vừa ngắn vừa mập mở cửa lầu Đũa. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nấp trong bóng tối nhìn trộm, liền thấy bên trong hóa ra là một đống vàng bạc châu báu nhìn mà hoa cả mắt, nào là nén vàng thoi bạc, nào là ngọc ngà mã não, xếp chật cứng cả căn lầu.
Đang lúc ấy, có một bầy chuột vận chuyển bạc đi đến. Trương Tiểu Biện từng tận mắt nhìn thấy chuột trộm trứng gà: Một con chuột nằm ngửa, bốn chân quắp chặt quả trứng gà trong lòng, một con chuột khác ngậm đuôi nó kéo đi, cứ như thế mang quả trứng về hang chuột. Nhìn tình cảnh lúc này, hóa ra bầy chuột lớn trong thành Đũa đang sử dụng phương pháp đó để ăn trộm từng thoi, từng thoi vàng bạc mang đến trước cửa căn lầu, rồi gã sư kia lượm lại cất hết vào bên trong.
Trương Tiểu Biện thấy vàng liền nổi lòng tham, cảm thấy miệng khô lưỡi đắng, lòng nóng như lửa đốt, hai mắt xanh rờn, thầm nhủ, Lâm Trung Lão Quỷ quả nhiên không lừa Tam gia ta, trong Hòe viên đúng là có một món tiền lớn, chỉ có điều phải làm cách nào lấy được đây? Thấy thời cơ chưa đến, hắn đành nhẫn nại, tiếp tục nấp bên trong đám phòng xá để quan sát động tĩnh.
Gã sư trong động dường như có thể sai khiến lũ chuột. Tất cả chuột lớn, chuột bé trong thành Đũa đều tuân theo sự chỉ bảo của gã, từng đàn chuột lũ lượt kênh đũa tre và bạc đến giao nộp. Mỗi lần nhặt một nén bạc lên, lão đều xoa xoa trên mặt, cười hi hi một hồi, sau đó mới tần ngần bỏ vào trong lầu. Thần sắc trên khuôn mặt cổ quái hiện lên vẽ tham lam, đáng ghét cực độ.
Một lúc sau, vận chuyển hết số bạc, lão đóng cửa lầu lại, rồi tập trung tinh thần dùng đống đũa để xếp ra các đình đài lầu gác. Dường như lão ta không biết đi, chỉ có thể bò bằng tay chân như một đứa trẻ chưa thôi nôi. Được một lúc, lão lấy tay xoa bụng ra chiều hơi đói, rồi bò lại trước nồi thịt hầm, ghé mũi hít hà mùi thịt, mặt lộ vẻ vui sướng, nước dãi nhễu ra bên mép.
Lão giở nắp vung, lôi ra một đứa bé chin nhừ, lật qua lật lại nhìn ngó rồi xé tay, dứt cẳng, lẳng xương thịt xuống đất. Bọn chuột trong các phòng xá xung quanh liền nhao ra lao tới tranh ăn. Lão sư cười khằng khặc hai tiếng, giơ cái đầu trẻ con trong tay lên húp nước dịch trong ấy.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nhìn cảnh ấy vừa sợ hãi vừa kinh tởm phát buồn nôn, đành nhắm mắt không dám nhìn trộm nữa. Nhưng tiếng húp dịch não xì xụp của lão và tiếng gặm xương thịt người răng rắc của lũ chuột vẫn vang lên, không ngừng xói vào tai hai kẻ.
Trương Tiểu Biện chỉ còn cách lấy tay bịt chặt tai lại, chẳng ngờ vì nup quá lâu, lại không dám thở mạnh nên mạch máu ở chân tay không lưu thong, tứ chi đã gần như tê dại, hắn vừa nhấc tay lên thì cả người mất trọng tâm, ngã chồm về phía trước. Con mèo đen trong lòng gã vốn đã sợ đến nỗi cuộn tròn người lại, bị hắn ngã đè lên, không nhịn nổi đau, liền gào lên một tiếng thảm thiết.
Bầy chuột đang ăn thịt trẻ con chợt nghe tiếng mèo kêu, lập tức đờ ra, vô số con mắt chuột liên láo nhìn lại. Quái nhân nửa tăng nửa đạo mặc áo chuột Lửa cũng từ từ cất đầu lên, thần sắc ngơ ngác, bên mép còn dính nước thịt, hai con mắt ti hí không ngừng dò nhìn bốn phía.
Trương Tiểu Biện thầm kêu khổ: “Dớ dẩn quá, lần này mà lộ tung tích chắc hẳn sẽ bị bắt đem luộc nhừ trong nồi rồi. Ông trời không có mắt, sao lại hành hạ Tam gia ta đến thế này?”
Tôn Đại Ma Tử thấy đã bị lộ, cậy mình khỏe mạnh, định liều mình quyết chiến một phen, liền nhấc cây gậy chuẩn bị lao lên đánh. Nào ngờ, gã sư mặc áo chuột lửa kia vừa lẩm bẩm một chuỗi âm thanh sin sít trong cổ họng, lập tức có vô số chuột lớn trong thành ào ra, xông đến vây kín chỗ nấp của Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử.
Thường có câu rất hay rằng: “Mãnh hổ nan địch quần hồ”, hành ngàn con chuột kết thành một đội quân dày đặc vây công, Tôn Đại Ma Tử làm sao chống lại cho được?
Yêu tăng nọ thấy có người sống bước vào thành Đũa thì nổi giận đùng đùng, không đợi đàn chuột kết xong thế trận bao vây đã lao phắt đến gần. Người lão nặng chừng hai trăm cân thịt, huých cho nhà cửa đổ nghiêng đổ ngã. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy hơi tanh xộc vào mặt, đờ đẫn cả ra, không kịp phản khánh, liền bị lão quật ngãlăn ra đất.
Trương Tiểu Biện biết sống chết chỉ còn trong đường tơ kẽ tóc, liền níu cứng xon mèo đen trong lòng định ném ra để giương đông kích tây, thừa cơ thoát thân. Nào ngờ đâu, con mèo vốn đã sợ chết khiếp, cứ rút vào trong lòng hắn không chịu ra.
Trương Tiểu Biện không tóm được đuôi mèo, trong lúc nguy cấp liền thò cả hai tay tóm vào hai bên tai mèo, lôi thẳng con mèo đen ra che trước ngực. Tóm tay mèo vốn là một thủ pháp trong thuật xem tướng mèo thời xưa. Tương truyền, muốn biết gân cốt một con mèo ra sao, người ta chỉ cần tóm hai tai mèo rồi giơ lên. Nếu là con mèo hay, biết bắt chuột thì khi tai bị đau, nó sẽ co rúm bốn chân lại, đuôi mèo cuộn lên trên đầu, toàn thân biến thành một quả cầu lông để giảm bớt đau đớn ở tai; ngược lại nếu là một con mèo lười, khi bị người ta nhấc tai lên thì bốn chân cào cấu lung tung, nhá mõm nhe nanh gào thảm thiết, loại mèo đó không đuổi được chuột.
Lại nói thêm, có câu rằng: “Nói Tam Quốc phải bàn Gia Cát Lượng, kể Triệu Vân phải nhắc trận Đương Dương”, câu chuyện của chúng ta vốn có tên là “Tặc miêu”, đã là “Tặc miêu” thì đượng nhiên phải đề cập đến thuật xem tướng mèo, điều khiển mèo đã có từ thời xa xưa. Đó là điều cốt tủy của cuốn sách này, nhưng đó đều là chuyện về sau, từ từ sẽ nói rõ.
Lại nói đến đoạn Trương Tiểu Biện hoảng loạn tóm chặt hai tai của con mèo đen, giơ lên. Con mèo đen vốn là mèo nhà, lười hơn cả những con mèo hoang ở ngõ Miêu Nhi, nhờ vào phúc ấm của Miêu Tiên gia mà từ xưa tới nay được hưởng cuộc sống vô tư lự trong thành Linh Châu. Tuy có gân cốt thượng phẩm của giống Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu nhưng trước nay chưa bao giờ bắt chuột hay trộm vàng trộm bạc gì, ngày thường chỉ biết trèo cây leo cột, đuổi sẻ làm vui, khi đói thì lẻn vào nhà bếp trộm cá, trộm bánh bao. Lúc này, hai tai bị đau, nó liền học theo lối của tổ tiên là cuộn chân, cuộn đuôi lại, nhưng không làm nổi, đuôi mèo mới cuộn vào một nửa đã đến cực hạnh, bốn chân mèo lại chỉ biết quờ lung tung phía trước.
Đúng lúc đó, gã sư kia đang chồm về phía Trương Tiểu Biện, không kịp đề phòng thì thấy trước mặt xuất hiện một con mèo đen bấu chặt vào bộ mặt gã, hai cặp mắt người và mèo nhìn thẳng vào nhau, móng chân mèo cào lên mặt khiến máu tươi chảy dầm dề. Gã sư này mặt mũi xấu xí, giờ máu lại chảy đầy mặt trông càng hung tợn gớm ghiếc. Lão đã sợ hãi thì chớ, con mèo đen càng sợ hãi hơn. Giống mèo sản sinh ở Linh Châu, ngày thường thì chẳng sao, nhưng một khi đã khiến chúng sợ tới cực điểm thì hai mắt lập tức vằn lên tia máu đỏ. Con Nguyệt ảnh ô đồng kim tước miêu vừa gào thê thảm, cặp mắt lập tức biến thành hai đốm máu như hai ngọn đèn đỏ trong đêm đen.
Không đến lúc sinh tử tồn vong, sao có thể thấy mắt mèo kỳ dị? Gã quái tăng bị con mèo đen trừng mắt nhìn mà đến nỗi “Anh hùng ngã chết từ lưng ngựa, giỏi lội bơi song vẫn chết chìm” Muốn biết sự thể ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:31 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:31 pm

Hồi thứ chín:BÁT TIÊN LÂU



Lại nói, con mèo quý hiếm dị thường Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu sợ hãi tột độ, bị Trương Tiểu Biện nắm chặt hai tai giơ lên, vừa đúng lúc bấu chặt vào mặt tên quái tăng. Bốn mắt nhìn nhau, cặp mắt mèo liền vằn lên tia máu đỏ, mình mẩy xù hết lông lên như bị ma nhập, khác hẳn lúc thường.
Gã quái tăng có ngón nghề sai khiến bầy chuột kia bỗng bị cặp mắt mèo đỏ máu chiếu tướng, lấy làm khiếp sợ, không kịp đề phòng, thét lên một tiếng, ngã ngửa ra sau.
Cũng hợp với lẽ mèo chuột tương khắc, thêm vào bản thân gã quái tăng này bẩm sinh đã rất sợ mèo đen, chỉ thấy lão ngã lăn ra đất, miệng sùi bọt mép, tứ chi ngắn ngủn co rút lại, giống như người bị động kinh, ***g ngực tức nghẹn không thể thở được.
Tôn Đại Ma Tử thừa cơ bật dậy, vung cây gậy trong tay lên giáng thẳng vào đầu lão. Gã vốn là loại khỏe như văm, một gậy đánh ra cuốn theo tiếng gió vùn vụt, giáng trúng đỉnh đầu của gã quái tăng làm máu thịt bắn tung tóe, chết ngay tại chỗ.
Lũ chuột trong thành Đũa mất chủ, lập tức như tỉnh cơn mê, chẳng đợi Trương Tiểu Bân và Tôn Đại Ma Tử động thủ, chúng đã tranh nhau trốn khỏi thành. Bốn phía xung quanh có rất nhiều hang chuột, trong chớp mắt chúng đã bỏ chạy sạch không còn một bóng.
Trương Tiểu Bân định thần lại sau cơn hoảng hốt, vội bế thốc con mèo vào long, nói với Tôn Đại Ma Tử: “Việc này đúng là trời định, đều nhờ Miêu Tiên gia hiển linh phù hộ, cũng may là Tam gia này nhanh trí dung mèo đen phá tà thuật của yêu tăng, lại cũng nhờ cách xử trí cũng như kiến thức của bậc anh hung hào kiệt Ma Tử huynh đây tương trợ nữa, vậy mới có thể đánh bại được lão hòa thượng Chuột này.”
Tôn Đại Ma Tử lau vết máu dính trên mặt, nói với Trương Tiểu Biện: “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, trên trời có thần phật, nhân gian có vương pháp, dưới âm có Diêm vương, sao chẳng ai biết đến việc này nhỉ? Gã hòa thượng Chuột này bắt cóc trẻ em con nhà người ta đem đi ăn thịt, thực là trời đất không thể dung tha, thế mà hóa ra không chịu được đòn, mỗ mới đập có một gậy mà đã kết liễu được cái mạng chó của gã, thực là quá dễ dãi cho tên giặc này. Thứ này phải bắt sống giải lên nha môn xử trí, lột da lóc thịt mới đúng.”
Trương Tiểu Biện nói: “Nó đã chết ở đây, coi như cũng bị báo ứng rồi. Huynh đệ chúng ta gặp nạn không chết ắt là có phúc về sau. Giờ đây đám vàng bạc châu báu giấu trong thành Đũa này đã thành vật trong túi bọn ta rồi. Từ khi gặp ma trong mộ Kim quan, Tam gia ta trải qua muôn vàn gian khổ, chịu biết bao đè nén, gặp biết bao hiểm nguy, rốt cuộc cũng đạt thành chính quả, ngày tháng sau này khổ tận cam lai, chỉ còn việc ăn sung mặc sướng, sống hưởng thụ thôi…” Hắn nói vung thiên địa, quên sạch mọi thứ xung quanh, biết đâu rằng chuyện thế gian xưa nay biến đổi khôn lường, những gì không phải của mình về sau ắt phải hoàn trả.
Hai gã nhớ lại tình cảnh lúc hòa thượng Chuột ăn thịt người bỗng nổi giận khôn tả, liền ra sức đá mấy cái lên người gã quái tăng, sau đó mới lần mò đến trước cửa lầu Đũa. Trong lầu bạc chất như núi, nhìn hoa cả mắt, hai người có bốn cánh tay làm sao vận chuyển ngần ấy bạc được. Bàn tính sơ qua, Trương Tiểu Biện nghĩ ra một mánh: Ước chừng tới giờ trời cũng sắp sang, chi bằng tạm quay về trước, trả chìa khóa Hòe viên cho Thiết chưởng quầy, đồng thời nói dối là trong Hòe viên đúng là có con ma rất khủng khiếp, đêm hôm qua cả bọn không dám vào ở, sau đó đợi đến khi trời tối, đẩy xe lừa lại phía cửa vườn sau, trèo tường vào chuyển bạc. Con phố này vốn không ai dám ở, hành sự như vậy thì thực là thần không biết, quỷ không hay.
Hai người quyết định như thế, lập tức nhét đầy một bao bạc giắt vào người, lần theo đường cũ trở ra, rồi lại che đậy lối vào đường ngầm trong Hòe viên. Xong xuôi thì trời cũng đã hừng sáng, hai gã liền đến Miêu Tiên tử tìm Tiểu Phượng. Cả ba khấu đầu mấy cái thật kêu trước Miêu Tiên gia, đoạn đứng ở trong ngõ đợi lão lính già cầm canh Thiết Trung.
Tiểu Phượng thấp thỏm lo sợ cả đêm trong ngôi miếu nát, lại nghe hai gã thêm mắm dặm muối kể chuyện bọn chuột trong Hòe viên xây thành, bắt cóc trẻ con ăn thịt, lại càng thêm kinh hãi thót tim. Cả ba đều không đoán được lai lịch của gã quái tăng có thể điều khiển đàn chuột trộm bạc kia.
Cứ theo tính cách của Trương Tiểu Biện trước đây, nhất định hắn sẽ sinh long hiếu kỳ, sẵn sàng làm loạn mọi chuyện lên, nhưng lúc này thì khác, hắn thấy rằng thêm một chuyện chẳng bằng bớt đi một chuyện, vì giá trị của Trương Tam gia giờ đã khác rồi, mạng người giàu quý như vàng, sao lại có thể xông vào chỗ nguy hiểm được nữa? Tới giờ, món đại phú đại quý đã vào tay, những việc hắn muốn làm chỉ là tìm cách mang hết số bạc lớn đó rời thành cao chạy xa bay, quyết không để sinh thêm chuyện râu ria nữa.
Ba người thì thào một lúc lâu trong ngõ, đầu tiên là bàn xem làm thế nào để chuyển bạc trong đêm nay, rồi lại thương lượng xem tiêu tiền thế nào, bàn tới chỗ Trương Tiểu Biện đồng ý chia cho Tôn Đại Ma Tử hai phần mười. Trương Tiểu Biện gặp được Lâm Trung Lão Quỷ trong mộ Kim quan, được tiên gia mach bảo mới biết trong Hòe viên thành Linh Châu có kho báu. Theo lý, số tài sản này đều thuộc về Trương Tiểu Biện. Nhưng Trương Tiểu Biện tự xưng là bậc trượng nghĩa, thấy cũng phải nhờ vào sức lực của Tôn Đại Ma Tử, nên đã chia cho gã hai phần.
Tôn Đại Ma Tử vô cùng cảm kích, rối rít tạ ơn Trương Tiểu Biện: “Sinh ra trong thời loạn thế thiên tai dịch họa liên miên này, ngày ngày chỉ cần có bữa cơm ăn là đã mãn nguyện lắm rồi. Nay được hiền đệ không chê mà chu tất cho Tôn mỗ phen này, từ giờ về sau xin nguyện theo Trương gia dắt cương buộc ngựa, cho dù hiền đệ có điều gì sai bảo, mỗ cũng xin làm theo, dẫu nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng không từ nan.”
Trương Tiểu Biện rất thích được khen là nghĩa khí, nhưng riêng cô ả Tiểu Phượng thì từ đầu chí cuối hắn vẫn thấy khó chịu trong lòng, không muốn chia đồng nào cho cô ả quê mùa này. Có điều, niệm tình đồng hương đồng khói, từ rày trở đi cứ để cho ả ta làm người hầu cho Trương Tam gia sai vặt, việc khổ việc nhọc gì giao hết cho ả ta làm, ngày cho hai bữa cơm mà ăn. Gặp lúc lễ tết, nếu làm Tam gia ta vui lòng, biết đâu còn cao hứng ban cho ả một hai cái áo hoa mà mặc.
Tiểu Phượng uất đến phát khóc, càng nghĩ càng ấm ức, đúng là “Cáo đã gặp thời còn quá hổ; Phượng khi trụi cách chẳng bằng gà.” Trước đây ở làng Kim Quan, ai thèm để mắt đến thằng bắt gà trộm chó như Trương Tiểu Biện. Một thằng con hoang không cha không mẹ như hắn, muốn đánh là cho ăn đánh, muốn chửi là cho ăn chửi, ai ngờ hôm nay lại thành tài chủ, đến Tôn Đại Ma Tử cũng trở thành thủ hạ của hắn, mình thì bơ vơ, tan cửa nát nhà, về sau chắc phải cắn răng mà hầu hạ hắn rồi.
Trước đây, Trương Tiểu Biện bị mẹ con Vương quả phụ khinh khi quá lắm, bây giờ mới coi như hả cơn giận, định bụng bắt Tiểu Phượng đấm lưng bóp đùi, nhưng bỗng nhiên chợt thấy lo lắng, liền nói: “Không hay rồi, mặt trời đã quá con sào sao không thấy lão Thiết Trung tới đòi chìa khóa? Chẳng lẽ lão cho rằng chúng ta đã chết cả rồi sao?”
Ba người bọn Trương Tiểu Biện chờ mãi không thấy lão Thiết Trung tới lấy chìa khóa Hòe viên, đành tự mình đến Tùng Hạc đường. Nào ngờ đến trước cửa hiệu thuốc, thấy cửa đóng im ỉm, sắp đến giờ ngọ mà chưa mở hang, dò hỏi bọn người làm mới vỡ lẽ rằng từ sớm tới giờ không thấy bóng dáng Thiết chưởng quầy đâu, cả lão Thiết Trung cũng không thấy quay về. Tùng Hạc đường đang rối như canh hẹ, cử người đi tìm khắp nơi, việc buôn bán đành phải dừng lại.
Bọn người làm công trong cửa hiệu bàn tán ầm ĩ, đều nói Thiết chưởng quầy xưa nay quen ở nhà giữ của, tối đến thì không bước chân khỏi cửa, bây giờ sống không thấy người, chết không thấy xác, chuyện thật phiền phức. Có người đề nghị đến nha môn báo quan, cũng có người cho rằng có khả năng là Thiết chưởng quầy đương đêm đi tìm tiểu cô nương nào đó giải trí rồi ngủ lại không về, chẳng có gì đáng làm rộn lên, không nên báo quan vì chuyện vặt này làm gì. Lắm người nhiều miệng, phút chốc chộn rộn hết cả lên.
Trương Tiểu Biện ngầm cảm thấy có gì đó không ổn. Thiết Công Kê đang ở nhà như thế, sao đột nhiên mất tăm mất tích một cách mờ ám như vậy? Lẽ nào có liên can đến việc lão ta mua cương thi mỹ nhân ở Úng Trủng sơn? Nhưng chuyện này còn nhiều ẩn tình sâu xa, Trương Tiểu Biện căn bản không biết Thiết Công Kê cần Mỹ nhân và để làm gì, nghĩ nát óc mà cũng không hiểu đầu đuôi ra sao, đành mặc kệ, tính tiếp chuyện đến Hòe viên chuyển bạc khi đêm về.
Ba người bàn bạc xong, liền vào cửa hiệu quần áo trên phố mua lấy vài món đồ mới, rồi vào hàng ăn mua mười mấy cân rượu thịt về Miêu Tiên tử, thay những thứ quần áo rách rưới trên người ra, ăn một bữa no say, còn thừa bao nhiêu thì chia cho bọn mèo hoang trong miếu, đoạn trốn dưới bệ thờ đánh một giấc.
Cả bọn vốn định ngủ một mạch đến tối rồi động thủ, nhưng trong tay đã sẳn tiền đâm ra ngứa ngáy, thao thức không ngủ được, cảm thấy ngày sao mà dài dằng dặc, mặc trời mãi chẳng xuống núi. Trương Tiểu Biện chỉ hận mình không phải là Hậu Nghệ thời xưa, giương cung bắn rơi mặt trời, rốt cuộc cũng không dằn lòng được nữa, xoay sang nói với bọn Tôn Đại Ma Tử: “Nhàn rỗi đâm ra khó chịu quá! Đằng nào thì chúng ta đã rủng rỉnh rồi, cứ ngồi yên trong miếu thế này chi bằng để Tam gia ta mời các người đến Bát Tiên lâu ăn một bữa, nghỉ ngơi khỏe khoắn rồi tối sẽ hành động.”
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng luôn miện khen hay, hai người sớm đã nghe tiếng Bát Tiên lâu trong thành Linh Châu. Trong vòng mấy trăm dặm quanh đây, ai mà chẳng biết đây là tửu lâu lớn nhất, xa hoa nhất trong thành. Thành Linh Châu nổi tiếng là chốn phồn hoa thiên cổ, Bát Tiên lâu cũng là hiệu lâu đời cả mấy trăm năm, thực khách tới đó ăn cơm uống rượu đều là quý nhân, quan lại và đám thương gia giàu có lai vãng khắp miền Nam Bắc, bọn cùng đinh quê mùa như mấy người bọn hắn làm gì có phúc phận mà hưởng thụ? Đến nằm mơ cũng chẳng thấy trong Bát Tiên lâu có những thức sơn hào hải vị gì.
Cả ba nổi lòng ham ăn them uống, cũng mong đến đó một phen cho mở rộng tầm mắt, nói đi là đi liền, bèn mang theo con mèo đen, hỏi thăm đường xá đến Bát Tiên lâu. Bát Tiên lâu nằm trên con phố lớn, nhộn nhịp nhất ở phía Nam thành. Dọc hai bên phố, hang ăn mọc lên san sát. Thương nhân trong thành Linh Châu rất đông, lại đều là nhà giàu có, cho dù ngoài thành đang đánh trận nhưng bên trong vẫn nhộn nhịp đàn ca, hết sức náo nhiệt.
Trương Tiểu Biện thính tai, nghe loáng thoáng trong quán trà vệ đường có tiếng kể chuyện liền ngừng chân, thấy trời còn sớm, chưa đến lúc tới Bát Tiên lâu ăn cơm, liền dắt Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vào quán trà, gọi ít trà nước điểm tâm hảo hạng, học lối của người có tiền, ngồi thưởng trà nghe truyện.
Vị tiên sinh trong quán đang kể truyện “Thủy Hử”. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thích nhất là nghe tích này, đặc biệt là sự tích hảo hán Võ nhị lang đánh hổ. Nói theo cách hiện đại thì hai tên này là “fan cuồng” của Võ Tòng và Yến Thanh. Nghe đến đoạn Trương đô giám hãm hại Võ Tòng, anh hung gặp nạn, cả hai đều nghiến răng căm tức, vỗ bàn đập ghế, nghe đến khi Võ Tòng đại náo Phi Vân phố, máu rửa Uyên Ương lâu, giết sạch cả nhà kẻ thù, đám người vỗ tay khen hay rối rít.
Nghe hết chuyện thì cũng đến giờ cơm, cả ba đi thẳng đến Bát Tiên lâu, chưa vào tới nơi đã ngửi thấy mùi rượu thịt thơm lừng từ trong lầu xộc lên nức mũi. Ba người chưa từng đến tửu lâu nào sang trọng như thế, nhưng trong túi có tiền, lá gan cũng lớn hơn nhiều, vừa đặt chân vào, lập tức thấy cô tiểu nhị chạy ra nghênh đón.
Tên tiểu nhị nọ chuyên phụ trách đón khách, thấy một người mặt mụn, một ả nha đầu quê mùa đang dáo dát nhìn bốn phía, bộ dạng ngó nghiêng ngơ ngác, ngoài ra, còn có một tên nhỏ thó, mặt mày đầy vẻ lưu manh vô lại, liền biết ngay đây là lũ cùng đinh mới lên tỉnh, nhưng thấy cả ba tuy đầu bù tóc rối mà quần áo trên người lại sạch sẽ chỉnh tề, không giống bọn hành khất vào xin ăn, bèn thầm nhủ lúc này đương khi khách quý nhộp nhịp, không tiện quát tháo đuổi chúng ra, nếu chúng ăn xong quịt tiền thì lột mấy món quần áo gán nợ cũng không muộn.
Thế rồi tên tiểu nhị liền mời bọn Trương Tiểu Biện vào chỗ ngồi, hắn cậy tiệm lớn coi thường khách, khinh khỉnh hỏi ba vị quan khách muốn dung món gì, lại nói thêm rằng Bát Tiên lâu không bán mấy món rẻ tiền.
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng chưa từng bước vào tiệm ăn lớn, không khỏi cảm thấy tự ti, chỉ biết nghiêng ngó xung quanh, bị tên tiểu nhị hỏi liền lung túng không biết gọi món thế nào. Duy có Trương Tiểu Biện to gan lớn lối, vỗ bàn mắng: “Con bà nhà ngươi, dám khinh Tam gia ta không có tiền phòng? Tam gia ta muốn ăn cơm lạt canh suông mà lại đến cái tiệm này của nhà ngươi sao?” Nói xong, hắn quăng hai đỉnh bạc lớn lên bàn, cao giọng nói: “Hôm nay Tam gia ta làm chủ, mời hai vị bằng hữu đến ăn cơm. Cái đồ mặt sẹo mù mắt nhà ngươi báo cho Tam gia ta biết trong tiệm này có món gì ngon nhất?”
Phàm bọn tiểu nhị đón đưa khách, phần lớn đều là lũ thấy tiền sáng mắt, chỉ biết vụ lợi. Tên tiểu nhị thấy Trương Tiểu Biện mở miện ra đã măng chửi, đang định nổi sung lên, bỗng thấy tiền bạc hiện ra trước mắt, cả một bụng bực tức liền xẹp ngay xuống, lập tức đổi thái độ, chớp chớp mắt, toét miệng cười cầu tài: “Đúng,đúng, khách quan dạy rất phải, con đúng là có mắt không tròng, xin quý khách mở lượng hải hà! Bát Tiên lâu chúng con mời toàn đầu bếp danh tiếng ở các nơi về, chuyên làm các món nổi tiếng khắp Bắc Nam, được gọi là “Thiên cổ danh thành đệ nhất lâu”. Các thứ bay trên trời, chạy dưới đất, sống trên núi, bơi dưới nước, muốn ăn gì là có thức nấy, thực sự là không thiếu thức nào. Con xin đọc tên vài món cho ba vị nghe ạ.”
Từ xưa có câu rằng: “Mở tiệm chớ nề khách chén nhiều” đã có bạc vào đánh chén thì cửa hàng có lý đâu lại đi tiết kiện hộ thực khách, chỉ thấy tên tiểu nhị vội vàng dâng trà, rót nước, sau đó đứng bên cạnh đọc tên lần lượt các món ăn.
Bọn Trương Tiểu Biện hầu như chưa từng nghe nói tới, những món này cũng chẳng biết món ngon Nam Bắc là những thứ gì, làm tình làm tội tên tiểu nhị kia chán chê, cuối cùng mới bảo, Tam gia hễ ăn thì không bao giờ hỏi giá tiền, thôi thì chỉ cần là món ngon của Bát Tiên lâu, cứ mang ra độ mười mấy món là được. Loáng một cái, tiểu nhị đã lần lượt dâng cơm rượu lên, bảy đĩa tám bát, bày chặt cả bàn. Món ăn của Bát Tiên lâu thành Linh Châu danh bất hư truyền, quả nhiên đủ cả sắc, hương, vị.
Bọn Trương Tiểu Biện vén tay xắn áo, cầm đũa há mồm, đang định thả sức ăn uống một trận đã đời, nhưng chưa kịp gắp đã nghe một tiếng hét lớn bên ngoài Bát Tiên lâu, rồi một đám mấy chục tên công sai hung hục xộc vào. Đám người này bước đi như hổ, hành động như sói, vào trong tửu lầu liền cất chân đá tung mấy cái bàn, chẳng nói chẳng rằng đạp Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng xuống đất như diều hâu bắt gà, rút dây thừng, trói nghiến cả bọn lại.
Trương Tiểu Biện thất sắc, vội kêu: “Các vị trưởng quan xin giơ cao đánh khẽ, tiểu nhân vào thành bán ếch, không phải là gian tế của Việt khẩu, các vị bắt lầm người mất rồi!” Tôn Đại Ma Tử cũng hô to: “Oan uổng tày trời! Chúng tôi đều là dân lương thiện mà!”
Một tên công sai nghe vậy thì nổi giận, giơ tay tát Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mấy cái nổ đom đóm mắt, máu mũi chảy ròng ròng, gãy mất mấy cái răng.
Tôn Đại Ma Tử vẫn còn muốn kêu oan, bỗng thấy trong đám công sai có một tay đầu lĩnh chỉ mặt chửi: “Ba người các ngươi tội đáng muốn chết mà còn dám nhiều lời hả? Mau ngậm mồm lại, ngoan ngoãn theo ông nội các ngươi về trình diện, may ra bớt chút đau khổ xác thịt. Vụ trọng án tày trời này cũng đủ cho các ngươi tan xác rồi.”
Thật đúng là: “Ngỡ lòng sắt đá nhưng đâu phải. Đến trước quan nha cứng hóa mềm.” Muốn biết sự thể tiếp diễn ra sao,xem hồi sau sẽ rõ.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:32 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:35 pm

Hồi thứ mười:Tạo Súc


Hồi trước nói đến đoạn bọn Trương Tiểu Biện vào Bát Tiên lâu gọi cơm rượu hết sức đắc ý, bỗng một đám công sai hùng hùng hổ hổ xông tới, chẳng nói chẳng rằng đạp cả bọn xuống đất. Con mèo đen bên cạnh thấy tình thế không hay, đớp ngay một con cá chép chua ngọt trên mặt bàn rồi lủi ra ngoài như gió, biến mất tăm mất tích trong ngõ sâu.
Bọn công sai tất nhiên chẳng thèm để ý con mèo ăn vụng cá kia, liền lục soát tại chỗ, lấy ra một bao bạc trắng phớ, tên đầu lĩnh đám công sai liền mắng: “Quân ăn cướp trời đánh, đây là bạc trong phiên khố của triều đình, bây giờ nhân chứng vật chứng đầy đủ, còn gì để nói nữa?” Nói đoạn hắn liền lập tức ra lệnh cho bọn thủ hạ trói nghiến bọn Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng lại, giải về tống vào lao, đợi quan gia xử trị.
Trương Tiểu Biện vốn tưởng được Lâm Trung Lão Quỷ mách cho một món phú quý, ngỡ là vật vô chủ, trước giờ chưa từng tìm hiểu kỹ lai lịch đống ngân lượng trong thành Đũa. Cả đời hắn, đến bạc vụn còn chưa được cầm vào tay, nói chi đến đĩnh bạc có đúc dấu của công khố, đâu ngờ lại rước phải cái họa tày trời này? Tới khi tên đầu lĩnh nói ra, hắn mới vỡ lẽ giật mình như người tỉnh mộng, hối hận cũng không kịp, bụng bảo dạ lần này đúng là tự mình dẫn lửa thiêu thân, vạn kiếp không ngóc đầu dậy được nữa, thực đúng là : “ Sục sôi muôn ý trong đầu, thảy đều nguội lạnh trước gàu nước băng”. Muôn ý niệm đều tiêu tan, trong long cũng không quên chửi rủa tổ tong mười tám đời nhà Lâm Trung Lão Quỷ.
Quý vị độc giả hẳn từng nghe, thành Linh Châu vốn là đầu mối giao thong trọng yếu của hai đường thủy bộ, lại là nơi thương lái hai miền Nam Bắc lưu thông hàng hóa tiền bạc, từ đầu đời nhà Thanh đã thành lập các phiên khố, toàn bộ tiền thuế tiền lương của hai tỉnh miền Nam Trường Giang đều chứa trong kho này, đợi tới khi đủ hạn số nhất định sẽ chuyển về Kinh thành. Con đường nơi đóng phiên khố ở thành Linh Châu tên là phố Ngân Phòng, có nhiều thợ bạc sống ở đó.
Tiền thu được thường là hào, cắc và bạc lẻ, khi nhập vào phiên khố cần phải đúc lại thành đĩnh. Bởi vùng Giang nam giàu có, lắm tiền nhiều của, các hạng thuế thu ở đây chính là tính mạng của triều đình, bởi vậy việc phòng vệ vô cùng nghiêm ngặt. Tường kho luôn có hay lớp dày chắc dị thường gọi là “ Hổ tường”, đồng thời đặt thêm cửa đồng vách sắt, mấy lớp khóa nặng, lại phái một tốp quan binh chuyên giữ kho.
Từ khi Thái Bình quân khởi sự ở mạn Quế Tây, Việt Đông, đánh ngược lên phía Bắc, thế mạnh như chẻ tre, các thành trấn quan trọng ở phía nam Linh Châu đều bị Việt khấu chiếm giữ. Các lộ binh mã hình thành thế bao vây hợp công Linh Châu, một lượng lớn tiền thuế trong phiên khố Linh Châu không kịp chuyển đi, để lại trong thành cùng với quân dân.
Thành Linh Châu từ xưa đã là vùng đất binh gia tranh giành, nên thành cao hào sâu, vững như bàn thạch, hơn nữa lái buôn trong thành rất nhiều, những người này đều không tiếc của cải, xuất tiền xuất lương giúp đỡ triều đình chiêu mộ lính dõng; trong thành cũng có rất nhiều súng Tây, pháo Tây, hỏa khí chẳng những nhiều vô kể mà còn hết sức hiện đại, Thái Bình quân tiến đánh mấy lần đều không thành. Nhưng cấc thủ lĩnh Thái Bình quân cũng đều biết trong thành Linh Châu có phiên khố, tiền bạc nhiều vô kể nên mấy trận trước tuy hao tổn không ít người ngựa song vẫn cố chiếm bằng được, có thể kéo quân tiến đánh bất cứ lúc nào.
Cũng bởi bạc trong kho thành Linh Châu quá nhiều, khó tránh khỏi có lắm kẻ động lòng tham, không chỉ có Việt khấu muốn tranh đoạt mà bọn trộm cướp phi tặc cũng muốn thừa lúc loạn lạc để vơ vét một mẻ, đám người này hoặc kết thành từng đám năm ba tên, hoặc độc lai độc vãng, hành tung xuất quỷ nhập thần, rất khó đề phòng. Để bảo vệ ngân khố, quan phủ đã phái binh lính tuần tra ngày đêm, đặt vô số gác canh trên phố Ngân Phòng. Thời loạn thì luật lệ càng phải chặt chẽ, hễ bắt được tên nào có ý định trộm bạc là quan phủ cho lăng trì bêu đầu, giết một để răn mười, quyết không khoan dung.
Trông coi đã nghiêm cẩn đến vậy mà gần đây bạc trong kho cứ liên tục biến mất. Lạ ở chỗ Hổ tường cao ngất, khóa sắt y nguyên, không hiểu là bọn giặc phương nào, dùng thủ đoạn thần thông gì mà qua mặt được bao nhiêu quan binh canh giữ, trộm đi bạc trắng trong khố mà chẳng để lại mảy may dấu vết.
Việc kho bạc bị mất trộm hết sức nghiêm trọng, quan phủ mất ăn mất ngủ, phàm là người ra vào khỏi thành đều bị tra xét rất nghiêm ngặt, đề phòng bọn trộm chuyển bạc đi, đồng thời đặt hạn kỳ, lệnh cho đám bổ khoái ở nha môn phải tróc nã cho được tên tặc nhân, tìm lại số bạc bị mất, bằng không sẽ liên lụy cả nhà. Xưa nay vẫn có câu “ quan cướp một nhà”, đám công sai bộ đầu vẫn thường câu kết với lũ trộm cướp cường đạo trong thành, quan nuôi dưỡng cướp, vì vậy tai mắt rất rộng, chỉ cần gió hơi lay, cây hơi động là đám ấy dò la ra được ngay. Hơn nữa, tai mắt bọn công sai cực nhạy, chúng tìm bắt mấy tên cưới chẳng khác gì mèo tìm chuột, chỉ cần đánh hơi thấy động một cái là tìm ra được ngay.
Ấy vậy mà đã trăm phương nghìn kế tìm tòi tra xét, vụ án lớn tày trời này không ngờ vẫn không có chút manh mối nào, đành phải bắt bừa mấy tên giặc cỏ cho đủ số, tuy đã bức cung đánh đập, bắt bọn kia khai nhận rồi, nhưng kho bạc vẫn tiếp tục bị mất trộm, thử hỏi phải ăn nói thế nào với quan trên được đây.
Đám công sai đang cuống quýt chưa biết làm thế nào, bỗng tên đầu lĩnh đám bộ khoái trong nha môn nghe phong thanh ở tiệm y phục nọ, có người dùng bạc đúc đĩnh lớn mua quần áo, dưới đáy đĩnh bạc có đúc dấy ấn của phiên khố Lĩnh Châu, thám tử đã nhìn rất rõ ràng, không thể sai trật được. Y liền lập tức bủa người đi khắp nẻo, cuối cùng bắt được cả đám ở Bát Tiên lâu.
Linh Châu vốn là một châu thuộc tỉnh Trực Lệ, nhưng vì những thành trấn phụ cận đã bị Việt khấu công hãm nên các quan viên trong tỉnh đều đã chuyển nhà, thêm vào đó là yêu cầu của thời chiến, vì vậy các đạo, các ty, thậm chí các cơ quan đầu não của toàn tỉnh như nha môn Đề đốc và nha môn Tuần phủ đều tập trung trong thành. Hiện tại, thành Linh Châu có cả Đề đốc và Tuần phủ. Giờ thì đám quan lại địa phương may mắn còn sống sót phải ra sức mà hiệp trợ Tuần phủ Mã THiên Tích trù bị tiền bạc lương thảo, chiêu mộ lính dõng để thủ thành. Việc mất trộm phiên khố đã sớm kinh động đến triều đình, Tuần phủ Mã đại nhân nghe tin bắt được phi tặc, liền không dám chậm trễ, đích thân cùng hữu ty thẩm vấn cho ra ngọn nguồn vụ án.
Chỉ thấy trên công đường đèn đuốc sáng lòa, bày la liệt các dụng cụ tra tấn, tiếng trống nha môn vang lên thùng thunfgm nha sai xếp hai hàng, đúng là “ Uy nghiêm còn quá Diêm La điện; Khiếp sợ nào thua Đông Nhạc đài”. Bọn Trương Tiểu Biện ba người quỳ trên đất thấy thế, mặt xanh như chàm đổ, người mềm như bún, thật là “ Có cánh thì cứ thăng thiên; Có móng, độn thổ, chạy liền vào hang. Đã không biết thuật chạy làng; Chớ rước rắc rối cửa quan công đường.”
Trương Tiểu Biện biết chuyện rất nghiêm trọng, đến nước này chỉ còn cách cố sức thanh minh mà thôi. Hắn quen thói lựa gió đưa thuyền, không đợi Mã đại nhân lên tiếng, đã vội nói: “ Xin các vị chớ nhọc dùng đến đại hình! Thanh thiên đại lão gia minh giám, chúng tiểu nhân xin không đánh mà tự khai hết.”
Mã đại nhân là kẻ già đời, nhiều âm mưu, tính quyết đoán, trước nay nổi tiếng là người giỏi tra khảo thẩm vấn, cũng biết phàm là ấn nặng thì đều phải tra hỏi ba lần bảy lượt, thẩm định kỹ càng mới được. Lão vừa nhìn tướng mạo Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử là biết ngay hai tên này chỉ là bọn lưu manh đầu đường xó chợ, nghĩ đến chuyện phiên khố mất bạc, bổ khoái nha môn tra xét nhiều ngày mà không có kết quả, lại chảng phát hiện được manh mối gì, thủ đoạn đó hẳn bọn trộm vặt không thể làm được. Vậy mà ba kẻ quỳ dưới công đường kia đều không quá mười sáu, mười bẩy tuổi, lại còn có một cô ả nhà quê, chỉ dựa vào mấy tên tẹp nhẹp bọn chúng thì sao có thể gây được đại án tày trời thế này? Nhưng đích thực là có soát được trên người chúng có số bạc phiên khố bị mất, xem ra bên trong ắt có uẩn khúc, nhất thiết cần phải tra hỏi cho ngọn ngành mới xong. Nghĩ đoạn, lão liền đập bàn thẩm vấn.
Trương Tiểu Biện hết sức ngoan ngoãn, hỏi một đáp mười, bộ mặt ra vẻ vô tội, kể hết một lượt từ đầu chí cuối. Quy củ nha môn thì hắn biết rõ, đầu tiên phải khai báo tên tuổi xuất thân, nhưng Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử ba người vốn là dân quê nghèo khổ, làm gì có tên có hiệu đâu chứ? Tiểu Phượng lấy theo họ mẹ là bà Vương quả phụ nên gọi là , Vương Tiểu Phượng, Tôn Đại Ma Tử là anh cả trong nhà, từ nhỏ mặt đã đầy mụn nên mới có biệt danh như thế, trước nay cũng không có tên gì khác.
Nguyên quán Trương Tiểu Biện vốn không phải ở làng Kim Quan, mà là con nhà dòng dõi, đời ông tổ từng làm quan trong Kinh thành, về sau gia cảnh suy vi nên mới lưu lạc đến đây. Từ nhỏ, hắn đã được học lễ nghĩa, vốn cũng có tên tuổi đàng hoàng, chỉ vì lúc ấy quá nhỏ nên không nhớ được nhiều, giờ nghĩ kỹ lại thì dường như tên là Trương gì gì Hiền, chữ “Hiền” trong sách dạy thánh hiền, không phải là chữ”Huyên” trong từ “huyên thuyên”, tên đệm thì nhớ không ra. Sau này lưu lạc, cũng không rõ từ đâu mà làng Kim Quan đều gọi là “Quan lão tam”, người có tuổi trong làng thì gọi là “Tiểu tam”, bọn cùng trang lứa xưng huynh gọi đệ thì kêu là “ Tam ca, Tam đệ”.
Trương Tiểu Biện trước tiên nói mình là người giữ phép trọng đạo, hiểu thi thư lễ nghĩa, lại còn bảo về sau định đóng cửa đọc sách, thi đỗ làm quan để rạng rỡ tổ tông, ra sức vì triều đình, chứ những chuyện xấu xa bắt gà trộm chó thì không bao giờ chịu làm. Nhưng cũng chỉ vì đao thương không có mắt, chiến hỏa vô tình khiến cho làng Kim Quan bị phá hủy, bất đắc dĩ mới cùng hai người cùng lành là Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng cuốn gói rời khỏi quê hương, chỉ biết lên núi bắt ếch mang vào thành đổi ít gạo dầu mắm muối sống qua ngày.
Cũng bởi dạo gần đây nạn chuột hoành hành, đúng lúc mấy hôm trước cả bọn đào được một thứ dược phẩm quý hiếm, liền mang đến Tùng Hạc đường trong thành để đổi lấy một con mèo đen giỏi bắt chuột, mang về trông nom cửa nhà. Lúc ấy trời đã tối, cửa thành đã khóa, lại sợ đội lính dõng tuần tra tưởng là gian tế, mấy tên liền mượn tạm căn nhà hoang Hòe viên của Thiết chưởng quầy mà trú ngụ qua đêm.
Mã đại nhân nghe tới đó liền gật đầu, nói : “ Ờ… Hòe viên là nhà cũ của họ Lâu, bỏ hoang phế từ lâu rồi, nghe nói bên trong có ma, lại không được sạch sẽ cho lắm.”
Trương Tiểu Biện đáp: “ Đại nhân đúng là một vị quan tốt hiểu thấu dân tình, yêu dân như con, đến chuyện nhỏ như vậy cũng rõ như lòng bàn tay, trong Hòe viên quả có một con ma rất ghê gớm.” Đoạn hắn liền đem chuyện trong Hòe viên gặp lũ chuột bắt cóc trẻ con thế nào, thành Đũa trong đường hầm ra sao, cả tên quái tăng ăn thịt trẻ con thế nào, rồi chuyện hắn dùng con mèo đen đánh ngã quái tăng trừ hại cho dân, tất cả tình tiết đều kể hết một lượt.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:33 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:36 pm


Cuối cùng, hắn mới nói đến món bạc lớn trong lầu Đũa, bảo rằng không biết đõ là vật của quan phủ, cả ba chỉ vì tham món lợi nhỏ, tiện tau cầm một ít đem dùng. Riêng việc gặp Lâm Trung Lão Quỷ trong mộ Kim Quan và chuyện đào được cương thi mỹ nhân ở Ứng Trung Sơn thì hắn không nhắc đến một chữ nào.
Kế đó, Mã đại nhân lại thẩm vấn riêng hai người kia. Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vốn không biết toàn bộ sự tình, tuy cung khai có chỗ sai khác nhưng về đại thể cũng giống với lời cua Trương Tiểu Biện.
Mã đại nhân tra hỏi đến đây, không khỏi ngấm ngầm kinh hãi. Bản thân lão kiến thức uyên bác, nắm rõ việc hình ngục cũng không thể ngờ được rằng vụ án mất trộm ngân khố lại phanh phui ra nhiều việc dị thường đến thế. Thành Linh Châu mấy năm nay thường có trẻ con mất tích, mãi đến giờ cũng không phá được án, có điều trước mắt đại quân Việt khấu đang vây thành, quan phủ không có thời gian truy lung mấy đứa mẹ mìn bắt cóc trẻ con. Chẳng ngờ việc này lại liên quan đến vụ trộm công khố, lão vội phái người đến Hòe viên điều tra, đồng thời tới Tùng Hạc đường triệu kiến Thiết Công Kê đến đối chứng.
Hiện giờ, không ai biết Thiết chưởng quầy đã đi đâu, sống không thấy người, chết không còn xác, làm sao đến công đường được? Chỉ có mấy tên người làm trong cửa hiệu và thủ quỹ bị giải đến công đường làm chứng, quả nhiên tên nào cũng khai rất khớp với Trương Tiểu Biện. Đồng thời, đám công sai được phái đến Hòe viên đã tìm thấy tòa thành Đũa trong hang động ngầm dưới lòng đất, phát hiện ra tất cả số bạc trộm trong ngân khố ở đó, lại thấy rất nhiều của cải, trang sức trộm từ nhà dân. Tên hòa thượng nọ tuy bị trung một gậy vào đầu hôn mê bất tỉnh nhưng chưa chết, cũng bị bắt giải đến công đường.
Mã đại nhân thấy vụ án nghiêm trọng, không dám chậm trễ, liền cùng với quân Bát Kỳ đang đồn trú tại Linh Châu đốt đèn thẩm án cả đêm. Tên hòa thượng nọ dẫu bị tra hỏi gắt gao nhưng thà chết không nhận vì hắn biết tội mình quá nặng, nếu cung khai ắt phải chịu cực hình tùng xẻo, thà chịu tra tấn trên công đường đến chết cũng còn nhẹ nhàng hơn.
Mã đại nhân trước tiên sai người đánh hòa thượng Chuột hai mươi hèo nặng. Thấy lão vẫn ngoan cố, một mực nói rằng mình là hòa thượng đi vân du hóa duyên, Mã đại nhân liền mắng: “ Thằng tặc tử to gan. Những chuyện phóng hỏa giết người toàn là thủ đoạn của bọn sư hổ mang như nhà ngươi. Bây giờ bốn phương đầy đao binh, dân tình lầm than, làm gì có thức ăn mà bố thí cho sư sãi, hơn nữa người xuất gia chỉ ăn chay niệm Phật, vốn trọng sự đạm bạc thanh bần, làm sao có được thể tạng phì nộn như ngươi được? Đúng là ăn thịt người mới như thế. Bọn hung đồ gian xảo như ngươi còn dám khua môi múa mép trước mặt bản quan hay sao? Tội lớn tày trời thế nào mà ngươi tưởng rằng che giấu được hay sao?” hòa thượng Chuột vẫn bao hoa: “ Thiện tai! Thiện tai! Bởi Phật tổ từ bi nên bần tăng càng đói thì càng béo đó thôi.” Mã đại nhân biết lão cắn răng chịu hình, nghĩ bụng: “Để bản quan xem xem ngươi có phải La hán đúc bằng gang thép không?” Đoạn lão liền lệnh cho tả hữu dùng đại hình tra tấn nhưng không được hại đến tính mạng của hòa thượng Chuột.
Bọn hình quan, trên công đường làm những gì? Đương nhiên chúng có nhiều thủ đoạn để đối phó với lũ ác tặc mà không cần đến đao to búa lớn gì. Chỉ thấy chúng lột sạch quần áo trên người hòa thượng Chuột, bịt mắt lão bằng một miếng vải đen, treo ngược lên trên, sau đó dùng sáp nóng rỏ vào gan bàn chân, cách này được đặt tên là “ Từng bước nảy son”.Gan bàn chân là nơi tập trung nhiều huyệt đạo, cực kỳ mẫn cảm, chỉ cần rỏ năm ba giọt sắp nóng xuống là đỏ tấy lên. Hòa thượng Chuột cho dù là Kim cương La hán cũng chịu không thấu, gào lên thảm thiết không ra tiếng người.
Quả nhiên, hòa thượng Chuột không chịu nổi cực hình, cuối cùng đành dốc miệng cung khai hết. Thì ra trên thế gian này có một đám giáo đồ tà ma, chuyên cắt sinh thực khí của người chết, phối với dược vật ngũ hành luyện thành đan dược để ướng. Phép đó gọi là Kim Cương thiền. Muốn luyện đến cảnh giới tối cao thì cần phải ăn thịt đủ một trăm sáu mươi thai nhi và trẻ con mới thành . Hòa thượng Chuột chính là một tên trong đám đó.
Đám người này hành sự hết sức quái dị, thủ đoạn thần bí, hơn nữa thường nuôi các động vật bên mình để sai khiến, to thì có lợn, dê, bò, ngựa; nhỏ thì tới côn trùng, sâu kiến, không loại gì không có. Dân thường không hiểu tường tận, ngoa truyền càng lúc càng kinh khủng, tới mức cho rằng bọn chúng là bọn “Tao Súc”, tức là đám người biết yêu thuật, phục thuốc để bết người sống thành súc sinh rồi bán đi kiếm lời. Kỳ thực, người luyện Kim Cương Thiền chỉ yếu dùng xác chết để luyện bùa thuốc, rồi cho thú vật ăn vào khiến chúng bị nghiện dể chịu sự sai bảo.
Hồi thiên hạ thái bình, trọng lễ nghĩa, văn hóa, ít khi tìm được xác chết vô thừa nhận, đám nghiệt đồ đó phải lén quật các phần mộ mới. lột da róc thịt xác chết ra để luyện tà pháp. Nay có loạn Việt khấu, giặc cướp ở các nơi nổi dậy như ong, sau mỗi lần chiến sự nổ ra, thi thể vô chủ nằm ngổn ngang khắp nơi, tà phái sắp tuyệt diệt này lại có cơ hội phực hưng.
Lão hòa thượng này họ Phan nên còn gọi là “Phan hòa thượng”. Phan hòa thượng bản tính ngu độn, không biết chữ, cũng chẳng biết vì sao có tật nghiện xây lầu dựng tháp. Sau khi lão xuất gia, lão giết thầy thiêu chùa, trở thành một nhà sư đi hoang. Trước đây, lão chuyên bắt cóc trẻ con đem bán, thân thể lão béo phì như một con chuột trắng, nên còn có biệt danh là hòa thượng Chuột. Lão này chuyên giả bộ ngây ngô như bọn trẻ con lên ba để dễ gây án ở Linh Châu và các vùng lân cận. Về sau, khi tập Kim Cương Thiền, biết thủ đoạn khống chế chuột, lão liền nấp trong Hòe vên hoang vắng bế quan t u luyện. Lão sai khiến đám chuột lớn trộm bạc trong công khố nên quan binh có nằm mơ cũng không thể ngờ rằng bạc lại bị chuyển ra qua hang chuột.
Hòa thượng Chuột chẳng hề coi trọng quan phủ là gì, tuy bị giải đến công đường chịu nhận đại hình tra tấn nhưng thái độ vẫn hết sức ngạo mạn. Lão nói, tuy rằng thất thủ bị bắt nhưng chẳng qua do sơ ý trúng phải quỷ kế, cùng lắm một chết mà thôi, hai mươi năm sau sẽ lại thành một trang hảo hán. Nhưng trong ngoài thành còn có nhiều đồng bọn của lão, bổ khoái của nha môn dẫu có tài thánh cũng không đối phó nổi phép tiên của “Tạo Súc”, sớm muộn bạc trogn ngân khố cũng sẽ bị lấy hết dể dâng lên Tổ sư gia.
Mã đại nhân nổi giận lôi đình, thương nghị với Đề đốc Đồ Hải rằng: “ Thiên hạ này, những kẻ yêu nhân luyện tà thuật là bọn xấu xa đáng tởm nhất. Từ xưa các vị hiệp khách đã chuyên đi tru diệt lũ này. Sử sách chép rằng chúng nó đã tuyệt tích từ thời Ngũ đại, thế mà tới triều ta ngày nay vẫn còn đám nghiệt đồ dư đảng. Theo ý của Đề đốc đại nhân, chúng ra nên xử trí lũ này thế nào?”
Đề đốc Đô Hải tuy là đại quan thống lĩnh quân vụ trong vùng , nhưng ngoài bản lĩnh đấu đá chốn quan trường, hắn chẳng có tài cán gì, thực sự là một kẻ ngu si hèn kém. Cả đêm thẩm vấn đã khiến hắn buồn ngủ díp mắt, đang ngủ gật thì bị Mã đại nhân hỏi, liền ngáp một cái, hít hít lọ thuốc xông cho tỉnh, nhỏm nửa mông, hướng về phía Bắc chắp tay nói: “Nước Đại Thanh chúng ta hồng phúc tày trời, đương kim Hoàng thượng càng anh minh thần vũ, sao có thể dung da đám thối tha làm chuyện hung ác này được? Nếu đã bắt được thì cần gì hỏi nhiều, đến sáng cứ theo luật mà xử quyết, tới lúc đó, chúng ta đến xem đổ máu cũng vui.”
Tuần phủ Mã đại nhân lập tức đón lời: “ Bản quan cũng có ý đó, hòa thượng Chuột này tuy chỉ là một tên trèo tường khoét vách thối tha, không đáng để Hoàng thượng bận tâm nhưng án này thực không nhỏ, pháp luật không thể dung tha. Hơn nữa, lão theo tà giáo, vả lại còn chưa bắt được lũ đồng đảng Tạo Súc, nếu tống vào tử lao lâu ngày chỉ e chúng giở thủ đoạn cởi gông phá ngục chạy trốn, hoặc sẽ tuyệt thực tự tận để tránh phải chịu cực hình. Chi bằng cứ cho nhanh chóng tronh vòng ba ngày, giải ra chợ lăng trì trước bàn dân thiên hạ, giã nát xương cốt để giương cao pháp độ của triều ta.”
Kỳ án trong Hòe viên thành Linh Châu tạm thời kết thúc ở đây, thường có câu thơ rằng: “ chớ bàn họa phúc hôm nay;Dữ lành sau nữa ai hay thế nào?” Hẵng còn chưa biết bọn Trương Tiểu Biện sẽ bị quan phủ xử trí ra sao, lại cũng chưa rõ vì sao Lâm Trung Lão Quỷ lại bảo họ đi làm những chuyện dị thường như thế, rốt cuộc bên trong còn có những âm mưu kinh người nào khác?
Thật là: “ Đời loạn nào đâu còn lẽ phải; Trời gieo kiếp nạn dấy tai ương.” Muốn biết chuyện sau thế nào, hãy xem Tặc miêu quyển ba sẽ rõ.





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:34 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:36 pm


Quyển thứ ba: chó ngao thần

Hồi thứ nhất: Đàm đạo nhân


Lại nói, tuần phủ Mã đại nhân là người từng trải việc quan, long ôm thao lược, bụng có mưu hay, hơn nữa còn có nhãn quang phi thường, nhìn xa trông rộng, khi gặp việc thì tùy cơ quyết định. Sau khi thẩm vấn xong, lão sợ đêm dài lắm mộng, bèn quyết định phải mau chóng xử trí, bèn hạ lệnh cho thủ hạ đem hào thường Chuột ta cắt đứt gân chân gân tay, dung khóa sắt xuyên qua xương tỳ bà, bắt đeo gong nặng, tống vào tử lao, sai ngục tốt cho ăn uống tử tế, đồng thời hạ lệnh phong tỏa tin tức, dự định trong ba ngày sẽ giải ra chợ lăng trì.
Đoạn Mã đại nhân sai người đưa Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào hậu đường, cởi dây trói, cho uống rượu áp kinh rồi hỏi han cặn kẽ. Mã đại nhân vốn là người biết dùng người, hiểu rõ rằng trong thiên hạ này, ngắn cũng có sở trường, dài cũng có sở đoản, cái nào cũng có chỗ dùng đến, ngay trong đám giả tiếng gà, ăn trộm chó cũng có lúc trở thành kì tài.
Khi biết Trương Tiểu Biện hiểu thuật xem tướng mèo thời xưa, Mã đại nhân đột nhiên nhớ ra một chuyện. Linh Châu trước nay có phong tục thờ Miêu tiên gia, nhưng nhiều người không biết được lai lịch của ngài, cho dù có biết thì cũng chỉ là lời đồn đại nơi đầu đường xó chợ, vị tất đã đúng sự thật. tổ tiên của lão lúc chưa phát tích từng làm thảo khấu, kết giao với đạo tặc trong thiên hạ, vì vậy rất rõ căn dơ của câu chuyện này.
Kỳ thực miêu tiên gia hồi đó không phải là đạo sĩ tiên cơ gì cả, mà chẳng qua chỉ là một tên trộm lành nghề chuyên trèo tường leo vách mà thôi. Vị thần ăn trộm này xuất thân từ một nhà dòng dõi đất Linh Châu, thường dắt theo con mèo khoang bốn tai, chuyên di ăn trộm những nhà giàu có bất nhân chia cho người nghèo, cứu khổ tế bần. Thủ đoạn của người này hết sức cao minh, đa phần đều là diệu thuật thần kì mà người thường khó tưởng tượng nổi, chợt đến chợt đi không để lại dấu vết, đến đám quan quân bổ khoái cũng không làm gì được.
Vị thần trộm này họ Đàm, ngày thường chỉ xuất hiện dưới bộ dạng đạo sĩ rách rưới đi khắp hang cùng ngõ hẻm bán thuốc đạo, vì vậy người ta gọi là Đàm đạo nhân. ông ta từ nhỏ đã hiểu thuật xem tướng mèo, khi đi trộm vàng cắp bạc ở khắp nơi đều nhờ vào con mèo khoang bốn tai mang theo bên mình. Con mèo này tinh nhanh phi phàm, giỏi trèo tường khoét vách. Các nhà phú hộ ngày xưa đều xây kín cổng cao tường, ngoài bọn gia đinh đi tuần còn nuôi nhiều chó dữ, hễ thấy có tiếng người đánh động là chúng sẽ xổ ra cắn xé. Mặc dù vậy tất cả đều bị Đàm đạo nhân qua mặt.
Đàm đạo nhân không phải là kẻ độc lai độc vãng. Đồng bọn của ông ta rất đông, vì ông ta là thủ lĩnh của đám trộm cắp thành Linh Châu. Phường trộm thường ẩn hiện trong đêm, mặc y phục dạ hành, đế giày bện rơm cỏ để đi không có tiếng động, trên mawyj che kín, miệng ngậm tăm để tránh cất tiếng nói.
Sau khi ngầm lẻn đến đúng tòa nhà định gây án, cả bọn phục ở chân tường không nhúc nhích, Đàm đạo nhân tóm gáy con mèo bốn tai, nhắm vào đầu tường rồi ném lên. Con mèo giặc đó nhẹ nhàng linh hoạt vô cùng, vừa chạm vào tường liền thò móng vuốt bám chặt không một tiếng động, sau đó mượn lực, uốn mạnh nảy vọt qua bờ tường cao.
Con mèo khoang bốn tai vào đến bên trong liền dụ đám chó dữ canh cửa sang một phía, lừa cho chúng ăn thuốc mê,. Lũ chó ăn phải thuốc mê xong, mèo khoang ta liền lên đến cửa sau, dùng móng vuốt rút then cửa để cả bọn vào khoắng vàng bạc, đồ đạc. Đàm đạo nhân nhờ vào ngón nghề đó mà gây ra rất nhiều đại án, chưa lần nào sa cơ.
Mạc dù vậy ông ta cũng có lúc thất bại. Đó là lần ĐÀm đạo nhân uống rượu cùng thủ lĩnh đảng cướp hồ Động Đình. Khi hai người uống say liền xoay sang đánh cược. tên thủ lĩnh nói rằng, thiên hạ đều hết sức khâm phục Đàm công có kĩ thuật thần diệu, lấy bảo vật như lấy đồ trong túi, nhưng dẫu cho ông có tài bằng trời cũng chưa chắc lấy được một vật. Nghe đồn trong Hoàng cung đại nội có một viên ngọc dạ quang do Phiên quốc tiến cống, to như mật tông, tinh khí sáng ngọt, trong đêm trông rạng rỡ như đèn, chiếu xa ngoài trăm bước. Viên ngọc đó là báu vât cảu hoàng hia, xưa nay vẫn cất giấu ở chỗ Thái hậu, đến Hoàng đế cũng không biết chính xác ở đâu. Nếu đàm đạo nhân có thể giở thủ đoạn lấy được viên minh châu đó cho cả bọn mở rộng tầm mắt, thì đám thảo khấu, trộm cướp trong khắp tứ hải ngũ hồ chúng ta sẽ nhất loạt tôn Đàm công thành "Đạo trung Bắc đẩu"(Bậc Thái sơn Bắc đẩu trong đám trộm cướp)
Kỳ thực đây cũng chỉ là lời nói vui trong bữa rượu nhưng Đàm đạo nhân vốn tính hiếu thắng, muốn tỏ ra hơn phân đấm đạo tặc ở hồ Động Đình, liền chẳng nói chẳng rằng, một mình ôm con mèo khoang bốn tai đi đền hoàng cung. Thời gian đó vào đúng lễ hội hoa đăng tết Nguyên tiêu, Hoàng thượng đưa Thái hậu xuất cung để thưởng đèn, bách tính chen vai thích cánh, tranh nhau ngắm mặt rồng. Đàm đạo nhân cùng con mèo khoang bốn tai ẩn mình trong đám đông, nhìn kĩ dung mạo của Thái hậu. Song, lúc ấy cấm quân đại nội phong cành nghiêm ngặt, dẫu ông ta to gan tày trời cũng không dám xông vào cướp ngọc, đành rập đầu trước con mèo thần bốn tai, cầu mong nó lẻn vào cung trộm Dạ minh châu để được mở mày mở mặt với đám thảo khấu Động Đình.
Con mèo khoang bốn tai ấy có trái tim có cửu khiếu, cự kì thông linh, có thể đọc hiểu tâm ý của chủ nhân. Nó chớp đôi mắt mèo rồi lao ra khỏi khách điếm, đi liền mấy ngày trong hoàng cung để thăm dò đường lối, tìm hiểu rõ quy luạt sinh hoạt của Thái hậu. Cũng không rõ làm sao con mèo nghĩ được một quỷ kế, nhân đêm khuya trăng lu gió lớn, nó trộm đâu được quả pháo hoa, ngậm vào moomg. Sau đó, con mèo nhân trời tối lẻn vào hoàng cung, tìm đến cung điện của Thái hậu. Nhìn trộm thấy lão Thái hậu đang ngủ, bọn cung nữ bưng đèn bên ngoài cũng đang gà gật, nó liền rùn mình lọt vào, tiến lại gần ngọn đèn trong cung, châm ngì pháo, rồi trốn vào góc tối, nằm im không nhúc nhích.
Giữa đêm khuya, trong hoàng cung đột nhiên vàng động tiếng pháo nổ đùng đùng khiến Thái hậu nương nương và đám cung nữ khiếp sợ tới mức hồn bya phách lạc, lăn lê bò toài tìm chỗ ẩn nấp. Tất cả đều không rõ chuyện gì, tưởng có người hành thích hoặc trời giáng tai ương, sấm sét đánh vào cung, liền hoảng hốt hô hoán thị vệ tới cứu giá.
trong lúc vội vã, lão Thái hậu cũng không quên viên Dạ minh châu, liền sai đám cung nữ dìu đến chiếc giường, lấy ra cái hộp báu trong ngăn bí mật mở ra xem. trong phút chốc cả phòng liền tràn ngập trong ánh sáng rực rỡ. Lão Thái hậu thấy viên Dạ minh châu chưa nhân lúc trời giáng sấm sét mà bay về trời, lúc ấy mới thở phào nhẹ nhõm, trong lòng cũng yên tâm phần nào.
Chẳng ngờ, con mèo khoang bốn tia nấp sau cột đã nhìn rõ, liền như tên cung lao vọt ra khỏi bóng tối, mở miệng đớp ngay viên Dạ minh châu trên tay Thái hậu rồi lật mình bỏ chạy, đúng là:" Đến, đi như gió giật; Ẩn, hiện tựa như tia chớp". Loáng một cái con mèo đã chạy mất tăm mất tích trong điện chỉ còn trơ ra Thái hậu và đám cung nữ trợn tròn mắt há hốc mồm.
Con mèo khoang cướp đường trốn được, nhưng không thuộc đường trong hoàng cung lắm, đành cắm đầu cắm cổ trèo tường, vượt điện chạy thẳng theo một hướng. Thị vệ trong cung tuy đông nhưng đang vội hộ giá, truy lùng thích khách, ai biết đâu mà bắt một con mèo hoang?
Đến lúc này chợt xảy ra một việc. Con mèo khoang bốn tai chạy trốn lung tung, rốt cuộc chạy nhắm đến bên ngoài tẩm cung của Hoàng đế. Thời bấy giờ, các thứ dị thuật rất thịnh hành, trong đám ngự tiền thị vệ hộ giá, có một cao thủ địa nội tinh thông kiếm thuật. Người đó thoáng thấy ở đầu tường cách chỗ mình không xa có một bóng đne vút qua nhanh như gió, hơn nữa lại thấy thoáng một vật lóe sáng, dường như là một con mèo khoang to ngậm viên Dạ kinh châu, ya thấy sự tình kì quái, liền phóng kiếm truy sát.
Cũng may là mèo thần bốn tai nhanh nhạy cảnh giác, thấy một luồng gió lạnh ập đến, biết chuyện chẳng lành, bèn né tránh rất nhanh, nhưng cũng bị lưỡi kiếm hớt mất một tai và nửa mảng da đầu. Vết thương không nhẹ, máu chảy như suối, nhờ vào thân thể nhanh nhẹn mới có thể chạy trối chết thoát ra.
Đàm đạo nhân không biết tiếng mèo, không nghe được con mèo khoang 4 tai thuật lại sự tình, về sau nghe ngóng thăm dò chuyện hoàng cung mất trộm mới đoán ra đầu đuôi, không khỏi lấy làm ân hận. Ông ta với mèo khoang bốn tia tình như huynh đệ, nhiều năm nay, người và vật như hình với bóng. Chỉ vì hư danh làm lụy, nhất thời tức khí quyết đoạt báu vật trong hòang cung mà suýt nữa đã hại chết tính mạng của mèo khoang, giờ nghĩ lại, chút hư danh như phù du ấy thiết để làm gì?
Thế là Đàm đạo nhân không quay về gặp bọn đạo tặc hồ Động Đình nữa, tiện tay đem viên dại minh châu do mèo khoang bốn tai trộm về quăng xuống sông. Để lẩn tránh quan phủ truy nã, ông ta không hành nghề ăn trộm nữa, chỉ đi bán miêu nhi dược trị nan y tạp chứng sống qua ngày. Chẳng bao lêu sau, ông mai danh ẩn tích, lưu lạc giang hồ, vân du tứ hải, khong rõ kết cục ra sao.
Bách tính Linh Châu cảm công đức lấy của người giàu chia cho người nghèo của Đàm đạo nhân, liền dựng một ngôi từ đường để cúng tế, nhưng sợ quan phủ biết được, không dàm nói thẳng là thờ thần trộm Đàm đạo nhân nên nói tránh là thờ Miêu tiên gia, lâu dần trở thành phong tục cúng bái Miêu Tiên. Đền thờ rất linh nghiệm khiến các giai thoại đơm ra càng lúc càng nhiều, truyền đi truyền lại một hồi thành ra không thể phân biệt thật giả được nữa.
(conti...)




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:35 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:39 pm

Mã đại nhân rất hâm mộ sự tích của Đàm đạo nhân, khâm phục thuật lạ có thể sai mèo làm trộm ấy lắm. Thời Ngũ đại có chuyện "dây đỏ trộm hộp" tới nay vẫm được coi là kĩ thuật trộm cắp vô song, nhưng nghĩ lại thì chẳng sánh được với sự thần thông của Đàm đạo nhân, chỉ tiếc rằng, quan phủ thời bấy giờ không ai biết được dị thuật kia để đến nỗi ông ta phải trà trộn trong đám thảo khấu giang hồ, tài ấy mà không dùng vào việc công, đem bản lĩnh đó để dò la tình hình giúp cho quan quân đoạt doanh cướp trại thì có lẽ đã lập nên công trạng xuất chúng rồi.
Mã đại nhân là người có chí lớn, định bụng nhân loạn Việt khấu tỏ rõ bản lĩnh chân thực của mình hòng được triều đình trọng dụng. Tính lão rất kiên nhẫn, xưa nay thông hiểu việc quân cơ, mấy năm gần đây lậ doanh luyện lính ở Linh Châu giáo chiến với ác liệt với Việt khấu mấy trận, hai bên có thắng có thua nhưng lão dần hiểu ra cái lẽ một cây làm chẳng nên non, vì vậy đã ra sức thu dụng kì nhân dị sĩ khắp nơi, không phân biệt cao thấp sang hèn.
Hơn nữa sau khi bắt được hòa thượng Chuột trong Hòe viên, Mã đại nhân mới phát hiện ra rằng, trong đại hạt Linh Châu còn có nhiều gian đảng của phái Tạo Súc hoạt động, xem ra bọn chúng đang có mưu đồ bất chính, muốn cướp ngân khố của triều đình. bọn này hành tung bí ẩn, thủ đoạn khác thường, không thể dùng cách thông thường để điều tra được. Chính vì vậy, Mã đại nhân định mua chuộc Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử, một là coi trọng bản lĩnh xem hình đoán vật của họ Trương, hai là thấy hia tên này đầy vẻ lưu manh, không giopongs người nàh quan đi làm việc công, mồm mép lại nhanh nhảu, bụng dạ nhạy bén, phái bọn hắn đi dò là tin tức hoặc bí mật theo dõi thì dễ qua mắt được thiên hạ. Do đó lão mới phá lệ cất nhắc hai tên làm chức đầu mục trong nha môn, đồng thời phái một tên công sai nhanh tay nhanh mắt cho hai tên tùy ý sai bảo, chuyên đi thu thập manh mối đám đồng đảng cảu hòa thường CHuột.
Trương Tiểu Biện chỉ cần được tha tính mạng thì đã luôn mồm cầu giời khấn Phật rồi. Hắn không thể ngờ mình đã liên lụy vào cái án tày trời này, chẳng những không bị mảy may trách phạt mà còn được cất nhắc làm một chức bổ khoái chuyên bắt bớ trộm cắp. Những chuyện ngày trước thôi cho qua, nhưng xét thời bây giờ, đang lúc thiên hạ đại loạn, giặc cướp hoành hành, nói gì đến vương pháp của nàh quan, đến tổng đốc trọng thần còn bị kẻ cướp chặt đầu, huống chi cái bản lĩnh nhỏ bé của mình? Muốn đứng giữa hia dòng hắc bạch thì quả thực rất là khó, chỉ hơi sơ sảy là đi đời cái mạng nhỏ ngay.
Mặc dù vậy, thấy Mã đại nhân là người có thủ đoạn tàn độc, Trương Tiểu Biện nào dàm không tuân theo. Hắn ngầm ngầm tính toán, chi bằng cứ ngộ biến tùng quyền, tạm thời nhận lời, sau này có cơ hội sẽ chuồn khỏi thành. Thời này đúng là :" Chiến chinh thiên hạ rối bời; Khác nào hào kiệt đang chơi cuộc cờ". Trong cục thế ấy, việc thắng thua thành bại cướp di không biết boa nhiêu sinh linh vô tội, Trương Tam gia hắn là hạng cùng đinh, chỉ mong tới sự giàu sang chứ chưa từng nghĩ tới việc tham dự sự nghiệp anh hùng gì cả, càng không muốn trở thành quân cờ hay con chó trogn tay quan phủ.
Mã đại nhân nhìn thấu tâm tư của hắn, biết hia tên tiểu tửu này đều là đám thảo mãng, xuất thân nơi đầu đường xó chợ, phải dùng lời trung nghĩa thuyết phục hoặc hứa hẹn mối hời mới lung lạc được chúng. Lão liền nói:" Trước đây triều đình kén chọn hiền tài vẫn thường coi trọng kẻ xuất thân khoa cử nhất, ngoài ra nhưng người có ngón nghề khác như các ngươi đều không được trọng dụng. Cách làm ngặt nghèo như vậy đã làm mai một không biết bao nhiêu kẻ sĩ có ý lạ mưu hay. tới nay khi Việt khấu làm loạn, chính là lúc triều đình cần người. Các người đều có chút bản lĩnh, hà tất phải cam lòng chìm đắm trong đám bình dân dung tục, rốt cuộc đều nát cùng cỏ cây mà thôi. Thế gian dẫu có cung bắn điêu, kiếm giết rồng nhưng cũng cần phải có người sử dụng mới phát huy tác dụng được. Số mệnh các ngươi coi như có quý nhân phù trợ rồi, bản quan là người biết ngọc trong đá, thấy các ngươi quả nhiên có chút đảm lược, có thể châm chước đề bạt để dùng, vì vậy mới có ý cân nhắc cho các ngươi phen này. Chỉ cần các ngươi tiêu diệt hết đám yêu đồ Tạo Súc thì ta sẽ không tiếc càng bạc khen thưởng"
Tôn ĐẠi MA Tử vốn thẳng tính, tính những việc mạnh mẽ, tự cho mình là hảo hán. Gã nghe Mã đại nhân nói thế, liền dấy lên lòng hiệp nghĩa, vội quỳ xuống vái:" Lũ nghiệt đồ Tạo Súc ấy lẽ trời chẳng dung, nếu đã là việc nghĩa cử thay trời hành đạo, vì dân trừ bạo thì Tôn Đại Ma Tử tôi xin nghe quan gia sai bảo, nguyện liều chết đánh giặc"
Trương Tiểu Biện lại nghĩ:" Chưa biết rõ lão đại nhân là người biết ngọc trong đá hay chỉ alf mắt trâu biết cỏ, chẳng biết thế nào lại ngắm vào bản lĩnh xem tướng của trương tam gia ta? Nhưng bây giờ tốt nhất là chớ rượu mời không uống, uống rượu phạt, cứ tìm cách nhận thưởng của quan phủ đã, tới lúc thấy tình hình không ổn, tam gia ta tìm cách thoát thân cũng không muộn."Quyết ý như thế, hắn bèn cùng Tôn Đại Ma Tử nhân chức làm bổ khoái.
ĐÚng là:" Những toan giết giặc lập công; Mượn tay bắt hổ trói rồng mới nên" Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:35 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:40 pm


Hồi thứ 2: Một nghìn ba trăm đao


Lại nói, Tuần phủ đại nhân cắt đặt Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử làm bổ khoái bắt cướp trong thành Linh Châu, rồi ngoài mặt lại tỏ vẻ thương xót Tiểu Phượng cô khổ, cho cô ả lưu lại trong phủ, tạm thời làm a hoàn hầu hạ Mã phu nhân, kì thực muốn giữ người làm con tin, đề phòng hia người bọn Trương Tiểu Biện tìm cách chuồn êm.
Trương Tiểu Biện thông minh giảo hoạt, làm sao chẳng nhìn ra dụng ý đó? Trong lòng hắc thầm rửa Mã đại nhân trông thì cỏ vẻ từ bi, kì thực mưu mẹo sâu xa, toan dùng cướp trị cướp, ơợi dụng thuật xem tướng loài vật diệt trừ tà pháp Tạo Súc. Ả Tiểu Phượng ấy thì đáng giá mấy đồng cân chứ? Đợi đến khi Tam gia ta đánh được quả lớn phát tài, sẽ sớm chọn thời cơ cuỗm tiền cao chạy sa bay.
Tôn Đại Ma Tử lại nghĩ khác, cho rằng Mã đại nhân biết kẻ hảo hán, có ý đề cử trọng dụng họ, liền khuyên Trương Tiểu Biện rằng:" Mỗ thường nhủ thế này, huynh đệ chúng ta là loại người nào chứ? từ lúc sinh ra, cũng chỉ ăn cơm hẩm cháo hiu qua ngày, dẫu cho có vàng bạc trong tay cũng không biết tiêu, phát tài rồi lại cứ thấy không thoải mái cho lắm. Huống chi đống bạc giấu trong thành Đũa ở Hòe viên nhiều quá, chúng ta bỗng dưng vớ được một món tiền to như thế, chỉ e lẽ trời không dung. Đấy, quả nhiên ngay sau đó xảy ra chuyện,kinh động đến cả quan phủ, rước vạ vào người. Có điều, dù rằng mộng pú quý đã tan tành nhưng may mà trong họa có phúc, được Mã đại nhân coi trọng, ban cho làm bổ khoái nha môn. Chúng ta nhất địh phải tận tâm tận lực, không được vọng tưởng làm chuyện trái lẽ nữa"
Trương Tiểu Biện vốn chẳng thèm để ý đến mấy cái lí lẽ của Tôn ĐẠi MA Tử. Tục ngữ nói rất hay rằng:" Cửa nhà quan, mởn hướng Nam;giàu lý, nghèo tiền chớ vào quàng", lại có câu:"Chèo đò, mở quán, kéo xe; thồ hàng, nha dịch chuyên ghè dân đen". bọn công sai ở nha môm có "tam ban tứ khoái", là sư tổ trong việc sách nhiễu nhân dân. bổ khoái chính là một trong " Tam ban tứ khoái ấy, làm cái nghề này tuy cũng nhận được chút tiền hối lộ, nhưng đến khi chết làm gì còn mặt mũi nào nhìn liệt tổ liệt tông nữa, vui vẻ gì ma xăng cái đi làm cơ chứ? Nhưng trước mắt đao binh khói lửa đang dấy lên tứ phía ngoài thành, muốn trốn cũng không trốn xa được, Trương tiểu Biện đành ưng thuận làm bổ khoái bắt cướp, tạm thời như thế mấy hôm rồi tính sau.
Kể thì dài dòng chứ hớp mắt đã tới ngày mở pháp trường hành hình Phan hòa thượng. Mới tảng sáng, theo lệ cũ đối với tử tù sắp ra thụ hình, bọn ngục tốt trong lao vào chăm sóc cho Phan hòa thượng, lau rửa trên dưới cho sạch sẽ, tô ít phấn sáp lên hia bên ám, bày ra bốn bát thức ăn lớn những gà, vịt, cá, lợn, lại chuẩn bị một vò rượu, khuyên lão ăn uống cho no lê để còn lên đường.
Khi bị hạ ngục, hòa thượng Chuột dã bị cắt đứt gân. tuy đã thành phế nhân, lão vẫn toan tính phá lao vượt ngục đòa thoát chứ không ngờ rằng phải ra pháp trường nhanh đến thế. Lão cũng biết rằng hôm nay bất luận thế nào cũng không thoát khỏi cựu hình đau khổ, đành mặc hết mọi thứ khác, ăn một bữa cơm tử tù cuối cùng cho đã bụng.
Sau đó, liền có đám quan sai đến đón tù, đưa Phan hòa thượng ra khỏi nơi biệt giam, tống lên một cái xe cũi, rồi một đoàn hơn hia tẳm lính dõng áp giải diễu phố thị chúng.ĐÁm binh lính này mặt mày nghiêm nghị, sát khí đằng đằng, ai nấy thảy đều giương cung tuốt kiếm. trong tiếng thanh la phèng phèng mở đướng ầm ĩ, chúng chầm chậm đẩy xái xe tù đến giữa ngã tư giao nhau giữa hai trục dường chính trong thành.
Rất nhiều bách tính trong thành Linh Châu đã nghe phong thanh chuyện quan phủ bắt được tên cường đạo trộm ngân khố, chẳng những vậy, tên giặc này còn bắt cóc trẻ con ăn thịt nữa. Lũ trẻ mất tích mấy năm nay, cso quá bán đều bị hắn hầm lên ăn thịt, thực là đáng băm vằm thành muôn mảnh.
Toàn bộ người trong thành đều nghiến răng căm hờn, chỉ hận không thể ăn thịt, lột da tên ác tặc này. Thấy bảo, chính ngọ hôm nay quan phủ sẽ lôi hắn ra xử cực hình, ai nấy đều rủ nhau tới xem. Nguwoif tới xme thực sự quá đông, kín đặc như tường thành, nhốn nháo cả một biển người. Đến trên máy các căn lầu xung quanh cũng chật cứng những người là người, ai cũng muốn xem quan phủ sẽ xử trị tên ác tặc chuyên ăn thịt người ra sao.
Đối diện với pháp trường, có một lầu cao, hai tầng, góc nhìn khá rộng được bố trí là đài giám trảm. Quan đề đốc tiết chế quân vụ, giữ binh trấn thủ công khố Linh Châu Đồ Hải và Tổng lĩnh quân đoàn Luyện Mã đại nhân cùng ngồi giám trảm. Để đề phòng bọn xấu tới cướp pháp trường hoặc lũ Việt khấu nhân lúc rối loạn ngầm lẻn vào, quan phủ đã phái quân phong tỏa các cổng thành, lại điều thêm mấy doanh lính dõng tinh nhuệ, cầm hỏa khí ngầm phục ở xung quanh pháp trường chờ lệnh. Đúng là:" Phía dưới giương cung chờ mãnh hổ; Men sông giăng lưới bắt giao long"
Thời bấy giờ, khi hành hình phạm nhân, pháp trường để dặt ở đầu đường hoặc xó chợ, có ý để dân chúng tới xem cho xem cho biết phép nước uy nghiêm, không được khinh nhờn mà phạm tội. Nhưng thực tế thường khác hẳn mong muốn, việc hành hình nạn nhân lại trở thành một trò náo nhiệt, tai nghe mất thấy đúng là sôi động sôi nổi hơn hẳn diễn kịch xem trò. Vào những giai đoạn trấn áp khỏi nghĩa của nông dân, quan phủ thường sử dụng các hình phạt tàn khốc hơn nhiều so với lúc bình thường, vì vậy mỗi khi pháp trường được dựng lên, dân tình đi xem nô nức như trảy hội đầu xuân. Có kẻ nhàn dỗi vô sự còn không quản vất vả đầu hôm mờ sáng, đến từ sớm để chếm chỗ gần xem cho rõ, nào có mấy ai thực sự để ý đến hình luật và vương pháp triều đình?
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử làm công sai, được phái đến bục hành hình ở pháp trường để giám sát việc áp giải hòa thường CHuột. Bọn lính dõng vây quanh cái bục thành ba vòng trong, ba vòng ngoài nhưng dân chúng bốn phía đông quá, mặc cho chúng tha hồ đánh chửi, người ta vẫn chen lấn lên phía trước để xem cho rõ. Lúc ấy, dân tình chen vai thích cánh, chật cứng tới mức một giọt nước cũng không lọt, những người bị đè lấn thì kêu cha kêu mẹ, quang cảnh lòng đường trở thành một dám hỗn loạn.
Hai hôm trước, Trương Tiểu Biện đã tìm lại được con mèo đen bỏ trốn đang lẩn trong bầy mèo hoang ở Miêu tiên từ. hôm nay, hắn cứ tưởng nhân việc công mà được vòa xem một công cuộc náo nhiệt, không ngờ bị chèn ép ở cạnh xe tù cùng với Tôn Đại Ma Tử, đến nhúc nhích cũng không xong. Con mèo đen cũng bị chen lấn tới mức không còn chỗ dung thân, đành phải trèo lên ngồi trên mũ Trương Tiểu Biện xem trò.
Thấy MÃ đại nhân và bọn quan viên đều nghiêm trang trên lầu, Trương Tiểu Biện tự nhiên cảm thấy rất bất bình. Nếu không nhờ Tam gia ta giở thủ đoạn ra thì quan phủ làm sao bắt được lão hòa thường này về chứ? Bây giờ công lao bị người ta cướp mất, dân chúng toàn thành có ai biết đến Tam gia ta đâu. Hắn lại nghĩ, đã là anh hùng thì không cần hỏi đến xuất xứ. CÁi chức bổ khoái không phẩm không cấp, nhỏ bé chẳng bằng vỏ đỗ hạt dưa, nhỏ như con kiến, có gì mà ghê gớm? Nếu Trương Tam gia ta có ngày thăng quan phát tài thì phải làm đến Thượng Thư, tổng đốc mới không uổng một phen gia nhập quan trường thế này.
Đang nghĩ ngợi lung tung, Trương Tiểu Biện chợt thấy đám người bốn phía rầm rì huyên náo như chợ, hết đợt này đến đợt khác, không hiểu ra làm sao. Hăn voioij nhìn về phía có tiếng reo hò, thì ra là ĐAo phủ Lưu ngũ gia của thành Linh Châu đang đem theo bốn thủ hạ đến. từ ông tổ sáu đời của vị Lưu ngũ gia này trờ xuống đều làm đao phủ của nha môn, truyền đến đời ông ta thì tài nghệ rất phi phàm, có thể nói là một đao phủ có tiếng của bộ Hình. Vốn trước đây, ông ta làm cống sai trong kinh thành, hai năm trước đã xin cáo lão hồi hương nên được điều về nguyên quán ở Linh Châu.
Tên đạo tặc này đã dùng yêu thuật dể trộm bạc trong ngân khố, lại còn sai chuột bắt con cháu nhà người ta làm thịt, đúng là một vụ đại án kinh thiên động địa. Chính vì vậy, trong cuộc hành hình hòa thượng Chuột hôm nay, quan phủ đã mời vị Lưu ngũ gia đã rửa tay gác kiếm này xuất thủ. Nghe nói, Lưu ngũ gia được chân truyền nên tài nghệ rất sức điêu luyện, cho dù là chặt đầu hay moi tim mổ bụng, ông ta đã động dao hành hình thì như nước chảy mây trôi.
Chỉ có những can phạm gây tội ác tày trời hoặc những tử tù có thân phận đặc biệt thì bộ Hình mới mời đến Lưu ngũ gia lão nhân xuống tay hành pháp, thế nên ngay cả hồi lão ở trong Kinh thành cũng hiếm lắm mới được trông thấy lão. Hôm nay, rốt cuộc cũng được xem lão thi triển ngón nghề trước mặt phụ lão ở quê hương nên đám khán giả cứ làm ầm cả lên. Trong con mắt người dân Linh Châu, Lưu Ngũ gia cứ như một tay kép hát đã nức tiếng khắp nơi vậy, từ lúc lão sải bước lên hình đài, mỗi cử động, mỗi bước chân của lão đều khiến cho đám đông dưới đài reo vang lên từng tràng vang dội.
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử đã từng nghe đến tiếng tăm hiển hách của bị đao phủ Bộ Hình Lưu Ngũ gia này, liền vội vã nhón gót, nghểnh cổ lên xem. Chỉ thấy Lưu Ngũ gia tuổi chừng hơn sáu mươi, thân hình to cao, mắt báo tròn xoe, râu hùm hàm én, tuy râu tóc đã bạc quá nửa nhưng tinh thần cẫn quắc thước, trán bóng láng như bôi mỡ, mặc một cái áo ngắn, dưới thắt một cái quần quây bằng lụa trắng tinh, ánh mắt toát lên sát khí, trông hết sức oai phong, đúng là một vị Tu là Ma quân giữa chốn nhân gian này.
Cái quần quây của Lưu Ngũ gia cũng không phải là vật tầm thường mà là vật ngự ban của Tiên hoàng. Bọn đao phủ bình thường từu trước tới nay đều để trần cánh tya hoặc một cái áo có miếng đáp trước ngực, buộc một cái tạp dề đen như bọn dồ tể. Nhưng Lưu Ngũ gia có tài nghệ điêu luyện, cho dù là chặt đầu lăng trì hay lột da moi tim, trân người và trên đao xưa nay không bao giờ vấy máu. Thanh đao là bảo đao tổ truyền, trên người lại mặc đồ do Hàng thượng ban, lối phục trang như vậy đã tự nói lên tài nghệ hơn người của lão, khiến cho chúng nhân đều thấy kinh sợ.
Lại nhìn đến bốn đồ đệ của Lưu ngũ gia, thật chẳng khác tứ đại Kim cương đầu thai giáng trần, cao thấp ngang nhau như cùng được gọt ra vậy, trông rất tề chỉnh. Cả bọn đều là những đại hán sức dài vai rộng, như hùm như hổ, bím tóc lớn, bóng mượt được vắt tròn qua đầu, cái áo có miếng đáp ngực viền đỏ nền xám được phanh ra một nửa, lộ ra phần ngực bụng xồm xoàm đầu lông đen.
Trên mặt cả bọn sư đồ năm người đều đằng đằng sát khí, ánh mắt lướt tới đâu, soi vào ai cũng khiến người ta phải toát mồ hôi lạnh. Thật đúng là :" Kẻ bé gan thì kinh muốn chết; Người bằng đá cũng toát mồ hôi". Đám người vây xung quanh xem đều cảm thấy may mắn" May mà kẻ ở trên pháp trường hôm nay không phải là mình"
Lưu Ngũ gia dẫn bốn đồ đệ lên bục gỗ, chắp tay hành lễ với quan giám trảm trên lầu, sau đó khom người xá các phụ lão hương thân. lão cũng muốn khoe khoang đôi chút, đem đồ đạc sắp ra trước mặt thiên hạ. Tuàn là những thứ như Quỷ đầu đao để chém ngang lưng, Oan trường kiếm để moi tim, ngoài ra còn có những thứ hình đao, pháp đao như Đới câu, Đới thích... đều là những loại khí giới mà bách tính tầm thường không biết đến tên gọi. Thứ nào thứ ấy đều sáng lấp loáng, la liệt không dưới một trăm món, từng ánh sáng lạnh chớp lên dưới ánh mặt trời.
Lúc đó, hình quan đã xác thực xong nhân thân cảu tội phạm rồi tuyên đọc tội trạng, chiểu theo luật xử Phan hòa thượng tội lăng trì. yêu mà phỉ đồ như tên này, nếu không dùng cực hình băm vằm thành muôn mảnh thì không làm dịu cơn phẫn nộ của nhân dân, vì vậy lần này mời đao phủ của bộ Hình là Lưu Ngũ gia tới xẻo đủ một nghìn ba trăm đao. Đúng giờ ngọ ba khắc, sau ba tiếng pháp làm hiệu thì bắt đầu động pháp đao hành hình.
Người dân xung qaunh lập tức ầm ĩ cả lên, một là căm phận tên Phan hào thượng cực độ, hai là nghe nói xử phạt xẻo một nghìn ba trăm đao, đây là đại hình trước nay chưa từng có ở địa phương này nên ai cũng muốn xem Lưu Ngũ gia thi triển món nghề hành hình ra sao. Chỉ nghe đám người phía dưới bàn luận rất sôi nổi, có người bảo:" Cuối cùng cũng có một cuộc này, chúng ta chờ xem ra sao. Hình phạt tùng xẻo bình thường bất quá cũng chỉ một trăm hai mươi đao, bay giờ yêu cầu xẻo đủ một nghìn ba trăm đao thì phạm nhân mới được chết, những kẻ tài nghệ bình thường không làm được đâu. Trên đời này trừ Lưu Ngũ gia, thử hỏi còn ai có bản lĩnh đó nữa?"
Lại có người hiểu biết hơn một hút, nghe thấy thế liền lắc đầu:" Cái đó không hẳn! Lăng trì là hình phạt tàn khốc nhất của bản triều, bình thường thì cũng khó có dịp được trông thấy, nhưng bây giờ đang khi dẹp loạn Việt khấu, hễ bắt được phản tặc là quan phủ đều dùng hình phạt này xử trí cả. Chính vì vậy mấy năm nay chúng ta đều thấy cảnh người sống bị xẻo da lóc thịt cũng nhiều rồi còn gì. Nhưng ông có phát hiện thấy không, những đứa càng khỏe mạnh bình thường thì càng cắt được nhiều đao, cứ như thế cứ khoang hai trăm đao mới chịu chừa ra bộ xuong máu thịt bầy nhầy. Còn những đứa to béo mập mạp, chẳng biết cắt vào đâu, xẻo một cái là ra một đống mỡ rồi, giống như thằng hòa thượng này ấy, to tai béo mặt, xẻo được hia trăm, ba trăm đao là giỏi lắm rồi, muốn lóc đủ một nghìn ba trăm đao không phải là dễ đâu. Chỉ e thanh danh một đời của Lưu Ngũ gia, tới lúc già lại bị phế bỏ ở pháp trường Linh Châu này mất thôi"
Trương Tiểu Biện bị chen lấn trước bục, nghe mấy người bàn tán không thôi, thấy bọn họ đã không hiểu biết gì àm còn ba hoa, hắn cất giọng mỉa mai:" Một ngìn ba trăm đao thì kể làm gì? Bản triều nagyf nay đến đại hình ba bốn nghìn đao còn có nữa là. Đao phủ bộ Hình ở Bắc Kinh ai nấy đầu có tuyệt kĩ tổ truyền cả, người ngoài làm sao biết được. tam gia ta hồi ở Bắc Kinh đã từng tận măt stroong thấy đám đao phủ bộ hình luyện tập trân các laoif gia súc như bò, ngựa, lạc đà, càng luyện về sau càng áp dụng lên các loài nhỏ hơn, nhưng số đao không được giảm. Luyện tới mức thi triển được trên gà, vịt, ngan, ngỗng, chuột, thỏ mới có thể xuất sư"
Mọi người làn đầu nghe thấy chuyện đó, không biết hắn nói thật hay đùa,c so mấy kẻ ngu ngơ còn ra sức tán thưởng, không ngờ vịc ông sai trẻ tuổi anfy lại từng trải đến thế, có người thì cho rằng chuyện của Trương Tiểu Biện toành thứ vớ vẩn. Bọn súc sinh lắm thịt nhiều da làm sao có thể so sánh với phậm nhân được? Hơn nữa, dẫu cho đám đao phủ bộ Hình có tài nghệ bằng trời cũng làm sao cắt được mấy nghìn đao trên thân con chuột? Lăng trì hoàn toàn không phải băm thịt, mà đao phủ phải cắt đủ một nghìn ba trăm đao, mỗi miếng cắt da phải có cả da cả thịt, hơn nữa tới khi cắt đao cuối cùng, phạm nhân cũng chưa được đứt hơi mà chết, bằng không đao phủ sẽ phải chịu tội thay cho phạm nhân, thiếu bao nhiêu đao thì sẽ phải gánh bù vào bấy nhiêu.
Mọi người bàn tán sôi nổi mãi không thôi. Bỗng nghe một tiếng pháo hiệu đùng đoàng, biết là giờ ngọ ba khắc sắp tới. Đúng là :" Diêm vương hạ chỉ câu hồn; Võ Thường hai quỷ lên luôn bắt về. Muốn biết Lưu đao phủ tùng xẻo hòa thượng Chuột một nghìn ba trăm đao như thế nào xem hồi sau sẽ rõ





Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:36 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:40 pm
Hồi thứ ba: Lăng trì



Xưa nay oan đền nợ trả, giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền, đều là cái lẽ nhân quả, có nói cả năm cũng không hết, ngay cả chuyện phải chịu đau khổ khi thụ án chịu hình cũng từ đó mà ra, muốn thoát cũng không được. Lại nói, khi một phát pháo hiệu nổ lên, thấy sắp đến giờ Ngọ ba khắc, Lưu ngũ gia liền bảo bốn đồ đệ trợ thủ bắt Phan hòa thượng trong xe tù ra, trói trên bục gỗ hành hình ở pháp trường. Giữa hình đài có một cái giá gỗ hình chữ Kim, các vòng sắt cột trụ còn loang lổ những dấu máu thâm đen, vết tích của các cuộc hành hình trước đây.
ĐÁm đao phủ chẳng nói chẳng rằng, trói chặt Phan hòa thương lại rồi lột sạch quần áo tù trên người gã, sau đó cắp hình trụ và pháp đao đứng một phía chờ nghe lệnh. Lúc ấy, tiếng pháo thứ hai vang lên, người xem xung quanh pháp trường đều biết rằng chỉ vài trong phút chốc nữa thôi, tên ác tặc sẽ bị xẻ phanh thành muôn mảnh, ai nấy chăm chú theo dõi, tiếng ràm rì lập tức lắng xuống.
Lưu Ngũ gia thỉnh quan giám trảm khoanh khuyên chiếu theo lệ cũ, vái chào rồi nói:" Hôm nay Lưu Ngũ đưa Phan gia lên đường, chúng ta trước không thù sau không oán, đao phủ theo luật chấp pháp hành hình cũng là do lệnh trên sai khiến, thoái thác không được. Nếu chúng tôi có chỗ nào không chu toàn, cũng mong Phan gia lượng thứ cho"
Phan hòa thượng đã rơi vào tình cảnh này, mọi ý niệm đều đã tiêu tan, nhưng trước ánh mắt soi mói của mọi người, lão vẫn muốn tỏ ra mình hảo hán cứng cỏi. Khóe miệng lão nhếch nhếch từng chặp, lộ ra một nụ cười quái đản, nói:" Nghe đại danh Lưu Ngũ gia của bộ Hình từ lâu, không ngờ lại chết dưới đao của lão, âu cũng là số kiếp của bần tăng. Trước khi thụ hình, bần tăng không có cần xin gì, chỉ mong lão xuống tay nhanh ngọn một chút, để ra chết cho được sung sướng. Sau khi xuống tới suối vàng, ta sẽ khong quên tụng kinh cầu phúc cho lão..."
Lưu Ngũ gia không buồn chớp mắt, lạnh lùng nói:" Xưa nay Thánh hiền lập kỉ cương, nay có triều đình đặt phép nước. Phan gia đã gây tội lớn tày trời, gánh nợ máu hớn trăm sinh mạng, rốt cuộc bị oan hồn ám ảnh, quan phủ tróc nã nên phải chịu cực hình lăng trì. Hôm nay, một nghìn ba trăm đao này không được thiếu một đao. Ta khuyên thế này, ở dương gian phải chịu khổ băm vằm một chút, tới Âm phủ mới có thể sớm siêu thoát. Bây giờ nhân tiếng sáo thứ ba chưa nổ, còn điều gì dặn dò thì cứ nói ra.
Phan hòa thượng nghĩ đến nỗi khổ bị tùng xẻo một nghìn ba trăm đao, bất giác kinh hồn vỡ mật, bao nhiêu oán độc trong lòng trỗi dậy, im lặng một lúc mới nói:" Bản tăng tính vốn từ bi, thích nô đàu với trẻ, từ khi tu luyện Kim Cương thiền tới nay, đã ăn hơn một trăm hai mươi thai nhi, đồng tử, chính là một nghĩa cử tốt đẹp để siêu thoát cho chúng sang thế giới Tây Thiền cực lạc. ta sắp sửa luyện thành chính đạo, đạt tới pháp thân xuất thần nhập hóa, nào ngờ bị bọn tiểu tặc phá hỏng pháp tướng, khiến ta rơi vòa tay quan phủ chịu một trận tra tấn rút gân khóa xương. hôm nay chúng lại giở thủ đoạn tàn độc để bản tăng phải chịu nỗi khổ bị xẻo thịt muôn mảnh..."
Phan hòa thượng càng lúc càng cay độc, há miệng nhe răng nói:" Ta cề âm phủ cũng sẽ hóa thàn ma quỷ tìm từng tên trong cá ngươi để đòi mạng trả thù. Lưu Ngũ gia ngươi chẳng qua cũng là loại chó diều cầm đao cho bọn quan lại. Con bà nhà ngươi, ngươi và thằng cẩu quan Mã THiên Tích đa hại bao nhiêu tính mạng hảo hán rồi? Các ngươi sẽ không được chết yên thân đâu, ông nội các ngươi sớm muộn gì cũng từ cõi âm về đòi mạng các ngươi"
Lưu Ngũ gia đã hành hình vô số tội nhân. Lũ phạm nhân thụ hình hoặc van xin cầu cứu quan phủ hoặc là mắng chửi không dứt lời, lại có kẻ im lìm không nói. thậm chí còn có tên đến mức đái ỉa ngay trên pháp trường. Lão vốn đã khá quen với những chuyện như thế này, chẳng bao giờ buồn để tâm, liền mặc cho đối phương chửi mắng thỏa mồm, không nói gì thêm với Phan hòa thượng nữa.
Người dân xem xung quanh đâ phần đều lấy làm tức giận, hôm nay thật không còn vương pháp nữa rồi. Lão hòa thượng Chuột này tội ác tày trời, thối tha đến thế àm khi bị xử quyết còn dám cuồng ngôn, tội thực đáng muôn đao giết chết. Lại có nhiều gia đình bị mất con cái thì hận hắn đến tận xương tủy, nhao nhao lượn đất đá ném vào pháp trường. Quan phủ phải chỉ huy lính dõng đến giữ nguyên cục diện, đề phòng loạn dân đến làm cản trở cuộc hành hình.
Lúc ấy, có rất nhiều khổ chủ nhao nhao chen đến phía trước, lên đút lót cho toán công sai đứng cạnh pháp trường, hòng mua được những mảnh thịt của Phan hòa thượng sau khi hành hình. Không phải ai cũng là người nhà của những đứa trẻ bị Phan hòa thượng bắt cóc, mà còn có nhiều người nhà bệnh nhân. Xưa nay, dân gian thường bảo, một khi pháp trường có án tử hình, máu thịt của phạm nhân đều có thể làm thuốc chữa bách bệnh. Chính vì vậy, bọn công sai đều nhân cơ hội này ăn của đút, chỉ có điều không dám mua bán ngang nhiên mà thôi.
Đang lúc ồn áo hỗn loạn, bỗng nghe phát pháo hiệu thứ ba nổi lên, Lữu Ngũ gia thấy đã đến giờ ngọ ba khắc liền lập tức động thủ hành hình. Đầu tiên bọn trở thủ lấy ra một tấm lưới đen ngòm, xổ tung ra rồi quấn vào tay trái của Phan hòa thượng. Tấm lưới đen này không phải là lưới đánh cá thông thường mà đó là vật các đao phủ triều trước truyền lại, được bện từ tóc người và tơ tằm, chuyên dùng để đong đếm lượng thịt phải xẻo khi tử tù bị xử lăng trì với số đao quá nhiều. Chỉ thấy đường viền đen trên lưới ấn vào da thịt liền để lại vết hằn bằng một đồng tiền lớn.



Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:37 pm; sửa lần 1.
MuaHeXanh1111
MuaHeXanh1111
Tổng số bài gửi : 907
Điểm : 1252
Chất lượng : 7
Join date : 31/10/2011
Age : 32
Đến từ : tpchm
http://pchymew.net/

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Tue Nov 29, 2011 4:44 pm

Hồi thứ 4: Chó ngao thần



Đang nói đến đoạn sau khi Phan hòa thượng bị áp giải ra pháp trường chịu đại hình lột da tróc thịt băm vằm thành muôn mảnh, đám đao phủ lột hết lục phủ ngũ tạng của gã ra, vắt lên từng cái cột, tưởng sắp châm lửa đốt, bỗng giữa từng không nổi lên một trận gió âm, trong khoảng khắc mặt trời khuất bong, cả thành Linh Châu cát chạy đá bay, đất trời mờ mịt.
Ai nấy nháo nhác cả lên, mọi người ở phía Nam con phố đều tranh nhau trú vào các cửa hàng cửa hiệu ở ven đường. Con đường xuyên qua giữa chợ lập tức hiện ra nhưng ba mặt còn lại của ngã tư thì người dân vẫn tụ tập như rừng, không ai bỏ chạy cả.
Trước đây Trương Tiểu Biện thỉnh thoảng mới vào thành Linh Châu, chưa từng chứng kiến cảnh hành quyết tù nhân bao giờ. Hắn cứ tưởng sau khi nguwofi ta giã nát xương cốt châm lửa đốt là xong việc, nào ngờ thấy người ở phía Nam phố hốt hoảng giạt ra, ai nấy nem nép im hơi, ngướng mắt nhìn như đang chờ điều gì đó. Trương Tiểu Biện đoán biết, cuộc lăng trì hôm nay còn chưa kết thúc, đằng sau còn có một phen náo nhiệt nữa. Hắn không kìm được sự tò mò liền lại gần một gã công sai già hỏi han đầu đuôi.
Lão công sai nọ biết Trương Tiểu Biện là người được đích than Tuần phủ đại nhân đề bạt, sang định bụng kết giao, liền hạ giọng nói khẽ:” Trương bổ khoái không biết đấy thôi, mỗi khi thành Linh Châu chúng ta dựng pháp trường hành quyết, lúc cuối cùng thì không giống các vùng khác là thiêu hóa xác chết của phạm nhân, mà chỉ giã nát xương cốt, còn nội tạng và máu thịt thì xưa nay vẫn để cho bọn chó đói ở ngoài thành vào ăn. Ngài xem, khắp thành mây mù che khuất, nhất định là con chó Ngao thần ở Vạn Thi phần, Loạn Tăng lĩnh đang vào thành rồi, chỉ có kẻ nào không thiết sống mới dám gây ồn ào thôi”
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử nghe thấy thế thì ngẩn người ra, đồng thanh nói:” Thì ra là thế, chả trách đám đao phủ vắt tim gan phèo phổi lên trên mấy cái cột, hóa ra để đãi bọn chó ngoài thành!”
Lời tác giả: Xưa nay người chết đều được yên nghỉ dưới lòng đất, gỗ làm quan tài càng dày thì người chết càng được yên ổn, bằng không chuột bọ đục khoét, mưa nước thấm vòa thì sẽ khổ không để đâu cho hết. Đen dủi nhất là những người chết mới được chôn xong xuôi đã bị bọn chó ban đêm bạt nấm, húc vỡ quan tài rồi sâu xé ăn thịt.
Rất nhiều người nghèo không thể mua được quan tài, có được manh chiếu cói bó thây là tốt lắm rồi, những nhà kha khá một chút cũng chỉ có thể mua loại quan tài “chó húc” ba phân gỗ bách. Trong thời loạn, thiên tai địch họa liên mien, đại bộ phận dân chúng đều không có gì để ăn, bọn chó lang thang hang cùng ngõ hẻm lại càng nhiều. mỗi lần đánh trận xong, những con chó đói lại lao ra bãi chiến trường bới ăn thịt sĩ tốt ngà ngựa nghẽo tử thương, con nào con nấy béo núc và hung dữ dị thường. Chúng thường kết thành bầy, ẩn hiện trong những ngõ bãi hoang vu. Người dân nghèo chết vùi qua loa trong những cỗ quan tài mỏng đều bị bọn chó đói đào mộ ăn sạch, tình cảnh thê thảm không sao kể siết.
Vùng xung quanh Linh Châu nổ ra chiến sự liên mien, mỗi phen kịch liệt, xác người chết đầu một nơi mình một nẻo, ngổn ngang khắp lối. Thánh hiền thời xưa từng nói:” Thu niệm tử thi vô chủ, vùi vào đất, là hành vi của người có lòng nhân”. Nhưng nhân tình thế thái bây giờ đâu còn được như xưa, ai mà chịu đi nhặt xác chôn thây? Huống hồ, người chết quá nhiều càng không thể đem chôn kịp.
Chỉ khi nào quan phủ ra tay ban ít tiền khao thưởng, người dân quanh vùng mới chịu đi thu nhặt xác chết đem vứt vào Vạn Thi phần. Cách sổng Nam thành Linh Châu vài dặm có một vùng núi hoang vu mênh mông. Nghe nói thời Xuân Thu- Chiến Quốc, nơi đây là một sơn cốc đúc kiếm, nhưng thời ấy đã quá xa xôi, tên vùng đất cổ không sao tra ra được nữa, cũng chẳng thấy lưu lại cổ vật hay di tích gì. Trong núi có một khe sâu, trước thời chiến loạn, đây là nơi người ta quăng thi thể bọn tù phạm bị chết trong ngục, lâu dần liền được gọi là Vạn Thi phần.
Mấy năm gần đây, số lượng người chết nhiều tới mức không còn chỗ chôn, quan phủ bèn chỉ địn Vạn Thi phần thành nơi chuyên chôn các thi thể vô thauwf nhận. Bất luận là chết vì thiên tai ôn dịch hay chết dưới đầu thương mũi kiếm, hễ là xác vô thừa nhận thì bất kể lai lịch ra sao cũng quăng vào hang hốc ở Vạn Thi phần. Cho tới giờ, không ai đếm xuể số tử thi ở đó, chie biết rằng, cả một vùng hang sâu núi thẳm toàn cỏ dại um tùm, xương phơi lởm chởm, cầy acso ẩn hiện, cô hồn yir tê, xưa nay không ai dám lảng vảng lại gần.
Bầy chó hoang hung tợn quanh vùng coi Vạn thi phần là kho lương thực của chúng. Hàng trăm hàng nghìn con chó hoang kéo bè kết đảng, tranh cướp các tử thi trong hang dẫn đến các cuộc tương tàn nội bộ, đống loại cắn xé lẫn nhau, một sống một chết. Những con bị cắn chết lập tức bị đồng bọn ăn sạch, trơ ra một đống xương trắng. Chính vì vậy, bầy chó hoang trong núi lúc nào cũng chỉ trên dưới vài trăm con, chưa trở thành đại họa cho người dân sống xung quanh.
Cho tới một năm nọ, không biết từ đâu, một con chó lớn lần đến. Nó cao to như con lừa, tiếng sủa như bò rống, thần uy lẫm liệt, mang phong thái của kẻ cầm đầu. Con chó đó hung ác vô cùng, thường cầm đầu bầy chó hoàng trong Vạn Thi phần, xông bừa vào làng để quật mộ. từ những xác chết trong quan tài cho đến gia súc trong thôn làng, thậm chí cả người sống đi lạc một mình, chúng cũng đều tấn công ăn thịt, them vào đó số lượng của chúng mỗi lúc một tăng, dần dần trở thành mói tai họa cho địa phương.
Người dân thiếu hiểu biết đều nói, con chó này hết sức thần dị, không phải vật tầm thường ở nhân gian, chắc hản là Hạo Thiên Khuyển của Nhị Lang chân quân ở đền Quán Khẩu giáng trần, thế nên đều gọi nó là Thần ngai, không ai dám xúc phạm. Cũng không rõ quan Án sát sứ tiền nhiệm trăn trở kiểu gì nghĩ ra một cách gọi là “ Lấy giặc cướp đổi dân lương thiện”. tựa như quan viên đã đạt tới một thỏa thuận với bầy chó hoang, để đánh đổi việc chúng sẽ không tàn sát những người dân thường vô tội, cứ hễ trong thành hành quyết tù phạm, sau khi xử trị xong thì không cho phép người nhà liệm xác mà vứt trên mặt đất cho bầy chó ở vạn Thi phần vào xâu xé, uống máu gặm xương tùy thích.
Từ đó trở đi, chỉ cần thành Linh Châu dựng pháp trường thì con Thần Ngao linh cảm thấy ngay. Từ tận chốn thâm sơn cùng cốc cách đó mấy dặm, nó đã đánh hơi thấy mùi máu tanh cảu cuộc hành hình, liền dẫn đầu bầy chó hoang, gào rú xông vào thành. Lại nghe đâu, bọn chó hoang ăn nhiều thịt người sẽ có cô hồn oán quye bám theo, đi tới đâu thì chỗ ấy dậy lên từng đợt gió âm.
Chính vì vậy, hầu hết nhwungx người hiểu rõ được lệ ấy vừa thấy giữ tầng không có quỷ khí ngút trời là biết cửa Nam đã mở để Thần Ngao tiến vào, họ liền vội vã nhường đường, nấp vào một bên quan sát. Quả nhiên, không bao lâu sau, trên con đường phái Nam một bầy chó đói khoảng mấy chục con lao đến, xúm xít xung quanh một con chó lớn, dữ tợn tột cùng.
Trương Tiểu Biện tuy mới lần đầu trông thấy con thần ngao những hắn đã khá thông hiểu bí quyết “ xem mèo đáon chó:, vừa nhìn thấy đã biết nó không bình thường. Sách Khuyên rkinh, phần “vạn vật thông tải” đã căn cứ vào hình dạng lớn nhỏ của loài chó mà phân thành ba loại lớn; to nhất gọi là “ngao”, cỡ bình thường gọi là “khuyển”, loại có thân hình bé mới gọi là “cẩu”. Mặc dù từ xưa đã có sự phân biệt rõ rang nhưng tới giờ người ta vẫn hay lẫn lộn giữa “khuyển” và “cẩu”.
Con chó dữ mà người dân vẫn gọi là Thần Ngao ấy to chẳng kém gì con lừa kéo cối say, trên mình có những đốm đỏ như vết máu, lúc nó chạy nhảy thì chẳng khác gì có một khối mây lửa bao bọc xung quanh, chỉ riêng điểm này thôi cũng có thể đoán được, nó không phải là chó ngao thực thụ mà chỉ là một con “khuyển” có thân hình to gần bằng con “ngao” mà thôi. Đây chính là chó của người Thát( Mông Cổ) từ thảo nguyên Mạc Bắc đến đây, gọi là “Thát tử khuyển”. Loại chó này có thể bắt sư tử, giết hổ dữ, truy sát chó sói, tính tình hết sức hung tợn, không rõ làm cách nào vùng Giang Nam lại có con vật thần dị này.
Trương Tiểu Biện không nghĩ tiếp nữa, hóng theo mọi người xem cảnh náo nhiệt. Chỉ thấy bầy chó sặc mùi xú uế ấy chẳng coi thiên hạ xung quanh vào đâu, cứ thế rùng rùng lao vào hình đài trong pháp trường. Cả bầy sói đói thấy máu tanh đầy bục lập tức dãi dớt chảy lòng thong quanh mõm, con nào con nấy thè cái lưới đỏ máu thở hồng hộc rồi đều nằm phục trước hình đài, vẫy đuôi, chẳng con nào dám qua mặt thủ lĩnh nhao lên gặm xương của hòa thượng Chuột.
Con Ngao thần tuy thân thể to lớn nhưng hết sức nhanh nhẹn linh mẫn. Nó gầm lên một tiếng, lao vọt lên không như mọc thêm cánh, nhảy phóc lên bục cách đó mấy chục bước chân, rồi ngoạm một miếng thịt phơi trên cột gỗ, nhồm nhoàm nuốt vào bụng,cúi xuống liếm máu me. Tên tử tù béo mập bị tùng xẻo xong xuôi, trên bục gỗ be bét mỡ và máu tươi. Cái lưỡi con Thần ngao dễ phải dài cả thước, cứ thè một cái là liếm sạch một mảng lớn, soàn soạt trong miệng, tỏ vẻ rất sung sướng khiến cho bầy chó hoang ở dưới thòm thèm khong chịu nổi.
Đến lúc con Thần Ngao liếm đã đời, nó mới ngẩng đầu tru lên mấy tiếng như bò rống, rung chuyển cả trời đất. Ngay lập tức bầy chó đói dưới bục cũng cất tiếng tru theo như người ta tung hô khi tiếp nhận thánh chỉ. Chỉ chwof có thế, con thì bò trên đất liếm máu, con thì gầm ghè giằng nhau miếng thịt. Đàn chó đói ăn uống cao hứng, con nào con nấy nhe răng kêu gừ gừ, ánh amwts dữ tợn.
Bách tính và dám lính dõng đứng xem xung quanh đều cảm thấy kinh sợ nhưng không ai tỏ ra thương xót. Trong thời địa suy đồi này, lòng người không yên, càng có gió tanh mưa máu, họ càng thấy thú vị, thậm chí nhiều người còn lấy việc người khác gặp họa làm điều mừng. Chí có những người còn giữ được lương tri mới ngầm than thở:” Chẳng biết triều đình đã làm việc trái elx gì mà khiến người đời phải chịu tội tàn khốc đến thế? Xem ra thiên hạ đại loạn khó mà yên được, trước sau gì cũng có tai họa giáng xuống”
Không quá thời gian uống cạn một chén trà, máu thịt trên pháp trường, thậm chí cả xương cốt bị đao phủ giã nhỏ, cũng đều bị bầy chó hoang gặm liếm sạch sẽ, ngay cả cặn bã cũng không còn chút gì. Đàn chó vẫn quanh quẩn không rời, gườm gườm nhìn đám quân dân bốn phía.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử đều đờ ra nhìn, chợt nghe lão công sai đứng cạnh kinh hãi bảo:”KHông xong rồi, bầy chó chưa ăn no, có lẽ phải…”lời nói chưa dút, chợt thấy con Thần Ngao trên pháp trường nhảy vọt lên, chồm đến vồ ngã Lưu Ngũ gia đang đứng lẫn trong đám người. Mọi người chưa kịp hiểu ra chuyện gì, con chó ác đã moi hết tim gan phèo phổi của lão. Bọn chó từ phía sau lao ra như tên bắn, trong tiếng tru gào điên cuồng, chúng vồ vào đám người đứng xem àm cắn xé.
Quân dân Linh Châu như ong vỡ tổ, ai nấy tìm đường chạy thục mạng, nhưng người này chen lấn người kia chẳng còn chỗ nào mà cướp đường. Chỉ thấy tứ phía máu thịt tơi bời, trong khoảng khắc đã có hơn trăm người phơi xác tại chỗ, số người bị thương do chen lấn, giẫm đạp thì không kể siết.
Mã đại nhân và Đề Đốc Đồ Hải ở trên lầu nhìn rõ mồn một. Ten Đồ Hỉa trông thấy thảm trạng máu thịt tơi bời như vậy, sợ run lên, vội ôm đầu chui xuống gầm bàn. Tuần ohur Mã đại nhân cũng là kẻ vững dạ, thâm tấm vón đã muốn phá bỏ lệ cũ từ lâu nhưng chưa tìm được dịp thuận tiện, nay thấy đã ương mầm thành đại họa, muốn hối hận cũng đã muộn, vội võ ấn quát lớn:” Phản rồi! Phản rồi! tả hữu đâu nghe lệnh ta! Hễ gặp chó hoang trong thành là giết hết”
Con Thần Ngao vừa cắn chết Lưu Ngũ gia trên pháp trường nuốt mấy miếng thịt tươi, thần trí càng thêm điên loạn dữ tợn. Dường như nó biết trên lầu góc phố có quan lại bản địa, liền tung mình đạp vào quân dân đang chen chúc, khom người cúi đầu lấy đà rồi vận hết sức tung mình lên không. Con ác khuyển quả là nhanh nhẹn tuyệt luân, chẳng khác nào hùm hổ mọc cánh, đến mấy trượng tường bao cũng có thể nhảy qua chứ sá gì hai tầng lầu. Từ trên không nó trợn cặp mắt đăm đăm nhìn Mã đại nhân rồi lao vào vồ.
Mã Thiên Tích thất kinh, vạn phần không tưởng tượng nổi con chó lại hành thích mệnh quan triều định, trong cơn kinh hãi không khỏi hoảng hồn thất sắc. May mà lão đẫ đề phòng từ trước, mấy chục tên thân binh tùy tùng giắt hỏa khí trên người liền lập tức giơ sung ra bắn. Cứ tưởng làn đạn như mưa ấy đến thần tiên cũng khó thoát, ai nấy đều chắc ngẩm sẽ bắn chết con Thần Ngao tại chỗ, nào ngờ con chó ấy nhanh nhẹn không gì bằng. Thấy hảo khí lợi hại, đang lơ lửng giữa không trung, nó liền dung sức hông bụng uốn mình một cái, đột nhiên vọt lên trên mấy trượng nữa, đạp vào ngói tầng hai làm ngói đổ xuống rào rào. Không dừng lại ở đó bao lâu, nó đạp mái vượt tường chạy thoát. KHói thuốc súng chưa kịp tan thì đã không thấy nó đâu nữa.
Thật đúng là:” Một khí cá trạch thoát câu; Mất tăm mất tích biết đầu mà tìm” muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.




Được sửa bởi MuaHeXanh1111 ngày Mon Jan 30, 2012 5:37 pm; sửa lần 1.
Sponsored content

[ST] Truyện Ma :Tặc Miêu Empty Re: [ST] Truyện Ma :Tặc Miêu

Về Đầu Trang
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết